Sư Đoàn 9 Bộ Binh QLVNCH. - Dòng Sông Cũ
Có thể bạn quan tâm

Theo tài liệu của Ban Quân sử và Thông Tin Báo Chí Sư Đoàn thì Sư Ðoàn 9 Bộ Binh (BB) được thành lập ngày 9 tháng 1 năm 1962 tại Quy Nhơn. Sau thời gian tổ chức, phối trí và huấn luyện tại Trung Tâm Huấn Luyện Dục Mỹ, Ninh Hoà, Nha Trang, bộ tư lệnh đầu tiên di chuyển về đồn trú tại căn cứ Ba Gi, thuộc quận Phù Cát, tỉnh Bình Định.
Trung Ðoàn 13 đồn trú tại Qui Nhơn, Trung Ðoàn 14 tại Phù Cát và Trung Ðoàn 15 tại An Khê. Lúc đó trách nhiệm chính của sư đoàn là bảo vệ an ninh lãnh thổ vùng Bắc Bình Định từ đèo Mang Giang, Phù Cũ đến Tam Quan, Bồng Sơn. Vị Tư lệnh đầu tiên của sư đoàn là Trung Tá Bùi Dzinh. Các vị tư lệnh tiền nhiệm khác là Đại Tá Đoàn Văn Quảng, Thiếu Tướng Vĩnh Lộc, Chuẩn Tướng Lâm Quang Thi, Thiếu Tướng Trần Bá Di, và vị tư lệnh cuối cùng là Chuẩn Tướng Huỳnh Văn Lạc.
Không lâu sau đó, do tình hình chiến trường đòi hỏi, Sư Ðoàn 9 BB được di chuyển về vùng đồng bằng sông Cửu Long. Bộ Tư lệnh đồn trú tại Sa Ðéc. Trong biến cố đảo chánh Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, ngày 1 tháng 11 năm 1963, Sư Ðoàn 9 BB là đơn vị duy nhất đưa quân về tiếp cứu thủ đô Sài Gòn, nhưng nhiệm vụ đã không hoàn thành. Năm 1972, hậu cứ sư đoàn một lần nữa được dời về Vĩnh Long, tiếp nhận phi trường Vĩnh Long tức là trại Nguyễn Viết Thanh, được bàn giao lại từ quân đội Hoa Kỳ.
Căn cứ của Sư Đoàn 9 BB tại Cao Lãnh, 1969. (HÌNH ẢNH: Robert Fischer)
Lực lượng cơ hữu của Sư Ðoàn 9 BB gồm có:
Các Trung Ðoàn 14, 15, và 16 BB là những đơn vị bộ binh nòng cốt với các tiểu đoàn bộ binh và đại đội trinh sát, trực tiếp chiến đấu, tham dự vào các cuộc hành quân ngoài chiến trường. Trung Ðoàn 14 có hậu cứ tại Vĩnh Bình. Trung Ðoàn 15 sau khi di chuyển từ miền trung vào Mỹ Tho đến Long Xuyên, rồi cuối cùng đồn trú tại Đám Lác, Sa Ðéc, và Trung Ðoàn 16 tức tiền thân của Trung Ðoàn 13, đồn trú tại Long Hồ, Vĩnh Long.


Các đơn vị pháo binh của sư đoàn gồm có Tiểu Ðoàn Pháo Binh 90, 91, 92 và 93. Các Tiểu Ðoàn 90, 92 và 93 pháo binh có hậu cứ tại Vĩnh Long. Tiểu Ðoàn 91 đồn trú tại Sa Ðéc, sau đó cùng dời về Trại Nguyễn Viết Thanh theo Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn. Các đơn vị pháo binh của sư đoàn được trang bị đại bác 105-ly, riêng Tiểu Ðoàn 90 Pháo Binh được trang bị đại bác 155-ly.




Thiết Ðoàn 2 Kỵ Binh có hậu cứ tại Vĩnh Long, gồm các thiết vận xa M-113, đặc biệt dùng cho chiến trường đầm lầy và sông rạch vùng châu thổ sông Cửu Long, đặc biệt là trong các cuộc hành quân ven biên và giúp quân đội bạn tại Cam Bốt.

Ngoài ra sư đoàn còn có các đơn vị chuyên môn yểm trợ khác là Tiểu Ðoàn 9 Quân Y với các bệnh xá và bệnh viện với đầy đủ thuốc men và dụng cụ để điều trị khẩn cấp thương binh từ chiến trường. Bệnh viện được điều hành bởi các y sĩ và dược sĩ hành nghề, đào tạo từ Trường Đại Học Y Khoa Sài Gòn và ngoại quốc.

Tiểu Ðoàn 9 Truyền Tin được trang bị máy móc tối tân gồm cả các hệ thống radar để điều khiển chiến đấu ngoài trận tuyến và liên lạc giữa sư đoàn và các đơn vị tại hậu phương.

Tiểu Ðoàn 9 Công Binh có nhiệm vụ lập đồn lũy, thiết lập an ninh trên các trục lộ hành quân, đặc biệt với công tác dân sự vụ như tu sửa những hệ thống giao thông mới.

Tiểu Ðoàn 9 Tiếp vận có nhiệm vụ cung cấp quân trang, quân dụng vũ khí, đạn dược, và đặc biệt là nhiên liệu cho các đơn vị cơ hữu.
Các đại đội vận tải cung cấp nhu cầu phương tiện di chuyển đổ quân bằng đường bộ đến khắp các chiến trường trực thuộc sư đoàn. Đại Đội 9 Trinh Sát là đại đội thám kích và thám báo, gồm những chiến sĩ quả cảm và kiên cường, trực tiếp điều động bởi vị tư lệnh sư đoàn, có nhiệm vụ hành quân đặc biệt về an ninh và chiến sự tùy theo nhu cầu chiến trường đòi hỏi.
Đại Đội 9 Tổng Hành Dinh và Đại Đội Công Vụ lo về an toàn hậu cứ và hậu sự của những chiến hữu đền nợ nước.
Đại Đội 9 Quân Cảnh, thành lập từ sau năm 1972, có nhiệm vụ duy trì an ninh trật tự kỷ luật tại hậu cứ cũng như tiền phương
Thời gian những năm 1964 đến 1970, Sư Ðoàn 9 BB chịu trách nhiệm Khu 41 Chiến Thuật, gồm các tỉnh Vĩnh Long, Vĩnh Bình, An Giang và Sa Ðéc. Sau năm 1970, Sư Ðoàn 9 BB không còn chịu trách nhiệm an ninh lãnh thổ nữa mà trở thành lực lượng cơ động nòng cốt của Quân Đoàn 4 VNCH, sẵn sàng yểm trợ bất cứ nơi nào trong lãnh thổ Quân Khu 4.
Các chiến thắng mang lại tiếng tăm cho Sư Ðoàn 9 BB là cuộc hành quân mang tên Long Phi, đặc biệt tại vùng Lưỡi Câu, Mỏ Vẹt nằm sát biên giới Việt Nam – Cam Bốt vào cuối năm 1969 và đầu năm 1970. Một số chiến dịch hành quân khác (cũng mang tên Long Phi) càn quét hậu cần của Bắc Việt tại Ba Thu, ngăn chận đường chuyển quân và tiếp vận của họ cho Công Trường 9 Cộng Sản Bắc Việt (CSBV).
Cũng trong năm 1970, Sư Ðoàn 9 BB là một trong những đại đơn vị có mặt trong cuộc hành quân truy nã Cộng Sản trên lãnh thổ Cam Bốt, tạo an ninh cho vùng đất dọc theo biên giới từ Hà Tiên, Kiên Giang, đến sát lãnh thổ Quân Ðoàn 3/Quân Khu 3 VNCH. Từ đó Sư Ðoàn 9 BB được mệnh danh là Sư Ðoàn Mũi Tên Thép vì phù hiệu của sư đoàn gồm số 9 với hai phần xanh đỏ, cùng với mũi tên hướng về phía bắc.
Với những thành tích trong nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ quê hương và đồng bào, Sư Ðoàn 9 BB được tuyên dương công trạng trước quân đội. Quân kỳ của Sư Ðoàn 9 được mang dây biểu chương màu Tam Hợp Bảo Quốc. Năm 1971, Trung Ðoàn 16 BB đã ổn định vùng Thất Sơn, Châu Đốc. Và cũng năm đó Trung Ðoàn 15 BB đã tái lập an ninh vùng Ba Hòn, gồm Hòn Ðất, Hòn Me, và Hòn Sóc, tạo khó khăn cho các đơn vị Cộng Sản nên họ phải rút khỏi các căn cứ trong vùng Kiên Lương, Kiên Giang.
Mùa Hè năm 1972, Trung Ðoàn 15 thuộc Sư Ðoàn 9BB được tăng phái cho lực luợng giải tỏa thị xã An Lộc (Bình Long), và là một trong những đơn vị bắt tay với lực lượng trú phòng trong thị xã. Trong cuộc hành quân nảy, vị sĩ quan chỉ huy Chiến Ðoàn 15 là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, người đã anh dũng chiến đấu đến viên đạn sau cùng tại Chương Thiện vào sáng ngày 1 tháng 5/1975 (sau đó bị Cộng Sản xử tử tại sân vận động Cần Thơ).
Vào cuối năm 1973 và đầu 1974, Trung Ðoàn 14 BB của Đại Tá Lê Trung Thành đánh bại một trung đoàn địch tại Ðồng Tháp Mười, tịch thu một số lượng lớn vũ khí và lương thực của họ. Sau chiến thắng này, Tổng Thống VNCH cùng Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH đã dùng trực thăng xuống tận trận địa thuộc quận lỵ Mỹ An nằm sâu trong vùng Tháp Mười để thị sát chiến trường, xem xét chiến lợi phẩm và ủy lạo tinh thần chiến sĩ.
Trước tháng 4 năm 1975 không xa, một đơn vị của Sư Ðoàn 9 BB đã đột nhập một mật khu khác của Việt Cộng tại vùng Mộc Hóa, Kiến Tường và đã khám phá và tịch thu một hầm chôn dấu vũ khí rất to lớn với hàng ngàn súng đạn đủ loại còn mới tinh nằm trong bọc giấy dầu chưa khui. Những vũ khí đạn dược này đều mang nhãn hiệu Trung Cộng, Nga Sô và khối Cộng Sản Đông Âu.
Trước tình hình biến chuyển quá bất ngờ tại Quân Khu 1 và Quân Khu 2 cùng một số nơi tại Quân Khu 3, những người lính Sư Ðoàn 9 BB vẫn can trường giữ vững tay súng, bảo đảm an ninh tuyệt đối cho đồng bào miền Tây. Quốc lộ 4, con đường huyết mạch vẫn nhộn nhịp xe cộ như thuở thái bình.
Khu vực hoạt động của Sư Ðoàn 9 BB lúc này trải rộng từ Kiên Giang (Rạch Giá), Châu Đốc, Kiến Phong (Cao Lãnh, Đồng Tháp Mười), Kiến Tường (Mộc Hoá) đến Định Tường (Mỹ Tho). Ngoài hậu cứ chính tại phi trường Vĩnh Long (trại Nguyễn Viết Thanh), sư đoàn còn một bộ chỉ huy tiền phương tại Mộc Hoá và một bộ tư lệnh hành quân tại Mỹ Tho.
Sáng ngày 30 tháng 4, mặc dù lệnh đầu hàng của Tổng Thống Dương văn Minh được loan ra trên đài phát thanh Sài Gòn, Quân Khu 4 vẫn yên lặng vì Quân Đoàn chưa tỏ thái độ. Trên không phận Vĩnh Long, đây đó vài chiếc trực thăng và máy bay VNCH không biết từ đâu tới đảo lượn vài vòng rồi lại nhắm hướng khác bay đi như vào nơi vô định.
Trong khi đó, các binh sĩ thuộc Sư Ðoàn 9 BB một mặt thiêu hủy những tài liệu mật quan trọng, mặt khác vẫn giữ chặt tay súng trên hầu hết các mặt trận xung yếu, chống trả với các cuộc quấy phá của địch nhằm cắt đứt Quốc Lộ 4 tại Tân An. Trước đó, vào đêm ngày 29 tháng 4/1975, Việt Cộng pháo kích vào phi trường Vĩnh Long, hậu cứ của Sư Ðoàn 9 BB. Các đại bác của sư đoàn lập tức dùng hỏa lực phản công nên đối phương không thể tiếp tục cuộc pháo kích.
Chiều tối và suốt đêm 30 tháng 4/1975, tại Bộ Chỉ Huy Tiền Phương ở Mỹ Tho, Chuẩn Tướng Huỳnh Văn Lạc cùng toàn bộ Ban Tham Mưu vẫn túc trực tại Trung Tâm Hành Quân để theo dõi tình hình, dù đã có một số cán binh Việt Cộng lảng vãng trong thành phố. Lúc này phía Việt Cộng đã bắt được tần số truyền tin của sư đoàn nên đã cố thuyết phục các đơn vị bộ binh VNCH đầu hành.
Rạng sáng ngày 1 tháng 5, liên lạc với Quân Đoàn bị gián đoạn hẳn (lúc này là lúc Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam và Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng đã tự tử). Tiếp đó thì liên lạc vô tuyến và điện thoại giữa Bộ Chỉ Huy Tiền Phương và Hậu cứ cùng các đơn vị hành quân và cơ hữu trực thuộc cũng gián đoạn.
Đây được xem như là giờ phút cuối cùng cho mọi binh sĩ thuộc Quân Đoàn 4/Quân Khu 4 nói chung và Sư Ðoàn 9 BB. Trong suốt 13 năm, kể từ ngày thành lập từ 1962 đến ngày này, vinh nhục đều có, nhưng chưa lần nào sư đoàn lại lâm vào tình chưa đánh mà tan như lần này. Tại bộ tư lệnh tiền phương, Chuẩn Tướng Huỳnh Văn Lạc đã an ủi chia tay các chiến hữu và ông đã ở lại đơn vị đến giây phút cuối cùng… Nguồn: Nguyễn Phùng/Route14 Pleiku.org
Từ khóa » Sư đoàn 9 Bb Vnch
-
Sư đoàn 9, Quân đội Nhân Dân Việt Nam - Wikipedia
-
Sư Đoàn 9 BB.VNCH - NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HÒA
-
SU DOAN 9 BO BINH QLVNCH
-
Sư Đoàn 9 Bộ Binh Và Lý Do Tướng VNCH HUỲNH VĂN LẠC Không ...
-
Hồi Ký Miền Nam | Sư Đoàn 9 Bộ Binh - YouTube
-
Các Vị Tư Lệnh Sư Đoàn 9 Bộ Binh QLVNCH - Facebook
-
Sư Đoàn 9 Bộ Binh QLVNCH Theo Tài Liệu Của Ban ... - Facebook
-
CHIẾN THẮNG AN LỘC 1972 - Phần 2 - Bat Khuat
-
Quân đoàn 4: Diễn Tập Chiến Thuật Có Thực Binh Bắn đạn Thật
-
Nguyễn Văn Hiếu Library Thư Viện
-
Sư Đoàn 9 Bộ Binh Hội Ngộ, ấm Mãi Tình Huynh đệ Chi Binh
-
Sư đoàn 9 Bộ Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa - Du Học Trung Quốc