Sự Phát Triển Cầu Dây Văng ở Việt Nam - Xây Dựng
Có thể bạn quan tâm
Cầu dây văng là một loại cầu bao gồm một hoặc nhiều trụ (thường được gọi là tháp), với dây cáp neo chịu đỡ toàn bộ hệ mặt cầu và các dầm cầu. Có 3 loại cầu dây văng chủ yếu, được phân biệt theo các nối cáp vào trụ cầu.Ý tưởng đỡ một dầm bằng một hệ dây xiên tỏa xuống từ một cột buồm hay một tháp đã xuất hiện từ thời cổ xưa khi người Ai Cập áp dụng ý tưởng này cho các thuyền buồm của họ. Việc sử dụng cáp treo trong xây dựng cầu đã trở lại vào thế kỷ 17. Vào đầu năm 1617, Faustus Verantius, một kỹ sư ở Venice (Ý), đã phác họa một cây cầu với nhiều dây xiên.Những nét sơ khai của cầu dây văng ra đời từ đó.Trong thiết kết cầu hiện đại, cầu dây văng là loại cầu có các dây cáp nối từ tháp cầu xuống hệ mặt cầu. Một cầu dây văng điển hình có một hệ dầm liên tục liên kết với một hay nhiều tháp cầu được xây dựng phía trên trụ cầu ở giữa nhịp. Từ các tháp cầu này, các dây cáp liên kết với hệ dầm được neo trực tiếp vào tháp.Ta có thể tưởng tượng cầu dây văng như hình ảnh một người khổng lồ (trụ cầu), dùng 2 tay (dây cáp) để nâng bổng thanh xà (dầm cầu) ngang qua một đoạn sông.
Về cơ cấu truyền lực, ta có thể tưởng tượng một cách đơn giản như sau: trọng lượng của các dầm cầu sẽ được chịu bởi các dây cáp xiên. Các dây cáp này được bố trí đối xứng để sao cho tổng hợp lực căng của các dây cáp sẽ chay dọc trục tháp cầu. Tháp cầu sẽ chỉ chịu nén mà không phải chịu lực uốn. Rất nhiều yếu tố cần phải được tính toán sao cho các đặc tính thiết kế của cầu phù hợp với các điều kiện cơ học cũng như điều kiện tự nhiên của địa hình xung quanh.Ngày nay, bên cạnh yếu tố về đảm bảo giao thông cho phương tiện đi lại trên cầu và tàu thuyền đi lại dưới cầu, yếu tố môi trường và yếu tố cảnh quan cũng được đặc biệt coi trọng. Ví dụ, các tháp cầu có ngăn cản dòng chảy hay không, màu sắc có phù hợp với cảnh quan môi trường xung quanh hay không. Cảnh quan đèn trang trí cũng cần được bố trí sao cho làm nổi bật nét thanh mảnh của dầm cầu, tính khỏe khoắn của các dây cáp xiên và của tháp cầu.
" width="300" height="207">Thiết kế cầu Nhật Tân
Ngoài ra, một số yếu tố văn hóa khác cũng được tính đến trong thiết kế kiến trúc của cầu. Ví dụ như cầu Nhật Tân dự định được xây dựng sẽ bao gồm 5 tháp trụ tượng trưng cho tư duy của người Phương Đông: Sinh-Lão-Bệnh-Tử-Sinh. Yếu tố kết thúc là sự phát triển và kết thừa của yếu tố ban đầu, tạo nên yếu tố triết học phương Đông ẩn bên trong kiến trúc cầu.
Sự phát triển cầu dây văng ở Việt Nam| Cầu dây võng | Cầu dây văng, kiểu rẻ quạt | Cầu dây văng, kiểu đàn hạc |
Hình 1. Cầu dây văng 3 nhịp
Hình 2. Cầu dây văng 2 nhịp
Ý tưởng đỡ một dầm bằng một hệ dây xiên tỏa xuống từ một cột buồm hay một tháp đã xuất hiện từ thời cổ xưa khi người Ai Cập áp dụng ý tưởng này cho các thuyền buồm của họ.Việc sử dụng cáp treo trong xây dựng cầu đã trở lại vào thế kỷ 17. Vào đầu năm 1617, Faus-tus Verantius, một kỹ sư ở Venice (Ý), đã phác họa một cây cầu với nhiều dây xiên (Hình 3). Năm 1784, một thợ mộc Đức, Löscher, đã thiết kế một cây cầu gỗ có nhịp 32m bao gồm các thanh treo bằng gỗ gắn vào một cột tháp gỗ. Năm 1817, chiếc cầu dây văng bằng sắt đầu với một nhịp khoảng 33.6 m, sử dụng các dây cáp xiên neo vào một tháp cầu bằng sắt đúc sẵn.
Hình 3. Phác họa của Verantius
Vào khoảng năm 1821, Poyet, một kiến trúc sư Pháp, đề nghị neo kết cấu cầu bằng cách sử dụng dây văng bố trí theo hình rẽ quạt, tất cả các dây văng đều được neo tại đỉnh tháp cầu (Hình 4). Ông là một trong những người đầu tiên đề nghị sử dụng dây văng bố trí theo sơ đồ đồng quy. Năm 1840, Harley, một người Anh, đề nghị một dạng khác cho bố trí dây văng với các dây song song, gọi là sơ đồ dây song song.
Hình 4. Đề xuất của Poyet
Năm 1883, Roebling hoàn thành cây cầu nổi tiếng Brooklyn tại New York (Mỹ), với một sơ đồ bố trí dây treo pha trộn giữa cầu dây văng và cầu dây võng.Tuy nhiên, phải chờ đến thế kỷ 20 thì loại kết cấu này mới được phát triển vì những kiến thức tính toán và vật liệu trước đó chưa phù hợp với loại cầu này. Vào năm 1926, một kỹ sư người Tây Ban Nha là Torroja đã xây dựng một cầu máng dẫn nước bằng bê tông cốt thép, các dây văng được bọc trong bê tông để chống ăn mòn (Hình 5). Sau năm 1945, cầu dây văng đã có được sự hồi sinh tại Đức, nơi phải xây dựng lại vô số cây cầu bị phá hủy bởi chiến tranh thế giới thứ 2 với việc sử dụng hiệu quả vật liệu. Một điều kiện tiên quyết cho bước cải thiện này là sự phát triển của thép cường độ cao dùng cho dây văng.
Hình 5. Cầu dẫn nước do Torroja thiết kế
Trong những năm 1950, việc phát triển vật liệu cáp cường độ cao cộng với những lợi ích về giá cả đã làm hồi phục sự quan tâm đối với cầu dây văng. Các dây văng mới, được làm từ những tao thép cường độ cao, thép thanh hay sợi thép cường độ cao, có khả năng chịu tải lớn và dễ dàng lắp đặt. Cầu dây văng hiện đại trở lên kinh tế hơn cho các cầu có khẩu độ nhịp nằm trong khoảng 180 đến 610m.Sự trở lại của cầu dây văng bắt đầu với F. Ông khám phá ra ảnh hưởng của dây cáp lên độ võng của cầu trong khi thiết kế một cầu treo cho đường sắt có nhịp 753m qua sông Elbe, gần Hamburg, Đức. Ông sử dụng dây cáp cường độ cao, chấp nhận ứng suất lớn để hạn chế độ võng của dây cáp (có thể xuất hiện do chùng cáp). Từ công trình nghiên cứu này và từ việc xây dựng lại các cầu bị phá hủy trong chiến tranh thế giới thứ hai, đã minh chứng rằng cầu dây văng đã trở thành một loại cầu có khẩu độ nhịp nằm giữa cầu dầm cứng và cầu treo. Năm 1955, cầu Strömsund (Thụy Điển) do ông thiết kế trở thành cây cầu dây văng hiện đại đầu tiên trên thế giới (Hình 6).
Hình 6. Cầu Strömsund, Thụy Điển, xây dựng năm 1955, do Dischinger thiết kế
Vào năm 1962, Morandi xây dựng một cây cầu bê tông dự ứng lực bắc qua hồ Maracaibo ở Venezuela. Nhiều cây cầu khác với nhiều cách phân bố dây văng cũng được xây dựng sau đó. Việc sử dụng cầu dây văng nhiều dây cũng là một sự tiến bộ quan trọng vì điều này làm việc xây dựng hệ mặt cầu theo phương pháp hẫng trở thành khả thi.Sau khi chiếc cầu dây văng hiện đại đầu tiên thể hiện độ cứng rất lớn dưới tác dụng của tải trọng xe cộ, tính thẩm mỹ cao, tính kinh tế và đơn giản trong thi công, cầu dây văng hiện đại đã mở ra nhiều hướng nghiên cứu và nhiều thành công mới. Và cầu dây văng đã nhanh chóng trở nên phổ biến trong giới kỹ sư Đức và nhiều nước khác trong khoảng mười năm sau đó. Ngày nay, cầu dây văng hiện đại đã được các nhà thiết kế áp dụng trên phạm vi toàn thế giới.Tuy nhiên, cũng không dễ nói rằng khẩu độ cầu dây văng bao nhiêu là kinh tế do nó phụ thuộc vào các điều kiện biên. Trong vài trường hợp cụ thể, giải pháp cầu dây văng cũng được áp dụng với các cầu nhịp nhỏ và vừa, đặc biệt là đối với cầu bộ hành. Cầu dây văng phục vụ cho đường bộ và đường sắt có thể chứng tỏ tính kinh tế cho nhịp trên 100m, nhưng thông thường đối với cầu với khẩu độ nhịp trên 200m.| Một dây | Hai dây | Ba dây | Nhiều dây | Kết hợp | |
| | Đồng quy | ||||
| Song song | |||||
| Rẻ quạt | |||||
| Hình sao | |||||
Hình 8. Mặt phẳng cáp
a) Một mặt phẳng
b) Hai mặt phẳng đứng
c) Hai mặt phẳng nghiêng
Trong cầu một mặt phẳng dây, các dây văng thường được neo tại đường tim của hệ mặt cầu. Cầu chủ yếu chịu tải trọng theo phương đứng còn khả năng chịu xoắn rất kém. Do đó, hệ dầm phải chịu xoắn tốt để có thể chịu lực lệch tâm, chẳng hạn như xe chạy trên một bên cầu. Để đạt được yêu cầu độ cứng chống xoắn cao, dầm sẽ phải chế tạo theo dạng hình hộp (Hình 8a).Trong cầu hai mặt phẳng dây (đứng hoặc xiên), các dây văng được neo dọc theo hai bên của hệ mặt cầu. Trong trường hợp này, hệ dây văng sẽ chịu cả tải trọng đứng và xoắn. Do đó, người thiết kế không cần thiết phải bố trí hệ dầm có độ cứng chống xoắn tốt. Vì thế, hệ dầm có thể là dầm I đơn, I kép liên kết trực tiếp với hệ dây văng (Hình 8b).Trong các cầu dây văng nhịp rất lớn, nơi dễ bị ảnh hưởng bởi ổn định khí động học, một dầm hộp với hai mặt phẳng dây sẽ đem lại nhiều ưu điểm hơn và cũng làm cho hình dạng dầm có tính khí động học tốt hơn (Hình 8c). Tuy nhiên, cũng nên nhấn mạnh rằng, hình dạng như hình 8c chỉ dùng cho các cầu có nhịp rất lớn (trên 500m) hoặc cho các cầu có tỷ lệ chiều cao trên chiều dài nhịp nhỏ (dưới 1/25).4. Tháp CầuHình dáng tháp cầu thể hiện một thanh cơ bản về khái niệm tổng thể của kết cấu. Hình dáng của tháp cầu ảnh hưởng đến cả tính thẩm mỹ và tính kinh tế của dự án cũng như các đặc trưng ứng xử tĩnh và động của nó.Ba dạng cơ bản của cột tháp là: dạng chữ A, chữ H và chữ Y ngược (Hình 9). Có nhiều cải tiến từ 3 dạng này, mỗi dạng có những ưu nhược điểm và tính mỹ thuật riêng. Hình dạng của cột tháp có liên quan mật thiết đến cách bố trí dây văng vì chức năng chính của cột tháp là để đỡ hệ dây văng.
Hình 9. Ba dạng cơ bản của tháp cầu
Trong cầu một mặt phẳng dây, tháp cầu có thể được thiết kế như là một thanh thẳng đứng hoặc dạng chữ Y ngược. Tháp thanh thẳng đứng tại giữa hệ mặt cầu có thể dùng cho cả sơ đồ dây song song và sơ đồ dây rẽ quạt, trong khi tháp chữ Y ngược lại đòi hỏi một sơ đồ rẽ quạt cải tiến. Tháp thanh thẳng đứng phải có một điểm neo cứng với cả hệ dầm chủ lẫn trụ cầu để đạt được sự ổn định với tải trọng lệch tâm.Trong cầu hai mặt phẳng dây theo phương thẳng đứng, tháp cầu có thể bao gồm hai cột thẳng đứng hoặc có dạng cột tháp chữ H. Theo điều kiện gối đỡ ở đầu dầm và dạng bố trí dây văng, cột tháp dạng chữ H cũng gần phù hợp với cột tháp chủ Y ngược. Với cầu có hai mặt phẳng dây xiên, đa số các người thiết kế sẽ chọn tháp chữ A kết hợp với sơ đồ bố trí dây rẽ quạt. Ngoài ra, nhiều tổ hợp khác về mặt lý thuyết cũng có thể được áp dụng cho cầu dây văng.Do cột tháp chịu tác động của lực căng của dây văng và các thành phần lực nén và uốn khác, tháp cầu nên được chế tạo từ bê tông, thép hoặc tổ hợp giữa bê tông và thép. Trong kết cấu tổ hợp, kết cấu bên trong bằng thép sẽ được bao phủ bởi lớp bên ngoài bằng bê tông với mục đích thẩm mỹ hay để mục đích cho các neo dây văng liên kết với vỏ bọc bê tông. Hầu hết các tháp cầu đều rỗng để bố trí thang lên xuống, cần trục và hệ thống cung cấp điện cần thiết cho việc duy tu bảo dưỡng. Mặt cắt ngang của cột tháp thường có dạng một hộp đơn. Do chủ yếu là chịu lực nén, độ cứng của cột tháp cần thiết phải được gia cường bằng các thanh gia cường, phương dọc cầu thường phải lớn hơn phương ngang cầu (Hình 10).
Hình 10. Mặt cắt ngang điển hình của tháp cầu
Tại các vùng neo dây văng, việc gia cường thêm các vách ngăn cứng theo phương dọc và ngang là điều cần thiết để giảm ứng suất cục bộ theo các phương khác nhau.5. Kết cấu nhịpCầu dây văng làm việc tốt với một phạm vi vật liệu kết cấu. Mặt cầu có nhiệm vụ chịu tải trọng do xe cộ và người qua lại. Kết cấu nhịp có thể bằng thép, bê tông hoặc bê tông-thép liên hợp, chẳng hạn như một khung dầm bằng thép bản mặt cầu bằng bê tông, hoặc hai dầm biên bằng bê tông với bản mặt cầu bằng thép. Dầm biên có thể xiên hay thẳng đứng, tùy thuộc vào hình dạng của tháp cầu, số mặt phẳng dây và phương pháp thi công (đổ tại chỗ hay sử dụng cấu kiện đúc sẵn).Khẩu độ nhịp lớn nhất có tính kinh tế có thể đạt được phụ thuộc vào các vật liệu được sử dụng. Hệ mặt cầu cũng ảnh hưởng đến tính kinh tế của công trình cầu. Với các cầu có nhịp khoảng 450m, mặt cầu bằng bê tông cốt thép sẽ là giải pháp kinh tế nhất. Nó truyền lực nén tốt hơn mặt cầu bằng thép. Hơn nữa, chi phí bảo dưỡng cầu bê tông sẽ nhỏ hơn so với cầu thép.Với những nhịp lớn hơn, hệ mặt cầu bằng thép sẽ đem lại nhiều ưu điểm hơn vì lúc này yếu tố hạn chế tĩnh tải của kết cấu nhịp được đặt lên hàng đầu so với các yếu tố khác. Trong một phạm vi chuyển tiếp, hệ mặt cầu thép-bê tông liên hợp cũng có thể mang lại kinh tế, với ưu điểm là nhẹ hơn so với cầu bê tông, đơn giản trong chế tạo các cấu kiện bằng thép và bản mặt cầu bê tông, có khả năng chịu được lực ngang và thi công rất đơn giản.Cầu dây văng hiện đại đầu tiên có ít dâyvăng với khoảng cách các điểm neo dây tương đối lớn, do vậy hệ mặt cầu có độ cứng tương đối lớn. Ngược lại, trong những cầu dây văng ngày nay với nhiều dây văng, độ cứng của hệ mặt cầu lại có thể được giảm xuống thấp nhất có thể, nhưng vẫn bảo đảm độ ổn định của công trình.Đối với một dầm có tiết diện hở và bản mặt cầu bằng bê tông, một hệ thống kết cấu hiệu quả có thể đạt được bằng cách sử dụng các dầm bản, đặt trực tiếp tại vị trí liên kết dây văng, và liên kết các dầm bản này bằng các dầm ngang, cách nhau 3 - 5m (Hình 11). Với hệ thống này, các dầm ngang phải chịu một mô men dương suốt chiều dài dầm, do đó các dầm ngang này hoàn toàn có lợi từ việc tác dụng liên hợp với bản mặt cầu bê tông. Tương tự, tác dụng liên hợp cũng rất có lợi cho các dầm dọc, chịu tác dụng của lực nén từ thành phần nằm ngang trong lực căng của dây văng. Do do, cả hai dầm dọc và dầm ngang đều được bố trí các vấu chịu cắt ở trên bản cánh của chúng.
Hình 11. Dầm bản điển hình
6. Dây Văng
Trong cầu dây văng, dây văng đóng một vai trò hết sức quan trọng, cả về mặt kỹ thuật lẫn mặt kinh tế. Dây văng có thể chiếm tới 30% giá thành cầu.Ưu điểm chính của việc sử dụng cáp cường độ cao trong cầu dây văng chính là nhờ khả năng chịu lực của cáp cường độ cao tốt hơn nhiều so với thép sử dụng trong kết cấu thép thông thường. Cường độ tới hạn của các sợi cáp kéo nguội đường kính 5-7mm có thể dễ dàng đạt được tới 1600 MPa, trong khi thép thông thường chỉ đạt được cường độ tới hạnkhoảng 350-500 MPa. Nói một cách khác, cáp cường độ cao có cường độ lớn hơn thép thường từ 3 đến 4 lần. Sự khác nhau này đưa đến kết quả là tiết diện (và trọng lượng) cáp cường độ cao cần thiết có thể chỉ bằng 25-33% so với thép thường khi phải chịu cùng một lực kéo thuần túy.Các loại cáp có thể dùng cho dây văng là: thanh thép song song, sợi song song, tao song song, tao xoắn và lõi cáp. (Hình 12). |
| Thanh song song - Sợi song song - Tao song song -Tao xoắn - Dây cáp |
Hình 12. Các loại cáp
Trong các loại trên, mô đun đàn hồi giảm từ khoảng 200,000 MPa đối với 3 loại đầu xuống 150,000 MPa đối với dây cáp. Các tao cáp thường được lựa chọn hơn các dây cáp vì các lý do sau:Cùng kích thước, tao cáp có cường độ kéo đứt lớn hơn dây cáp.Mô đun đàn hồi của tao cáp cao hơn dây cáp.Tao cáp có ít khả năng uốn cong hơn dây cáp.Cáp bằng thép cường độ cao có cường độ rất lớn, nhưng lại rất mềm dẻo. Cáp sẽ đem lại tính kinh tế cho công trình vì cho phép kết cấu thanh mảnh và nhẹ hơn, điều rất cần cho các cầu nhịp lớn. Mặc dù chỉ cần một số lượng ít dây văng là đủ để chịu toàn bộ các lực của cầu, tính mềm dẻo của dây văng lại làm cho chúng rất yếu dưới tác dụng của tải trọng gió.Mặc dù sẽ gặp bất lợi khi gió lớn, một cầu với khối lượng nhẹ là một ưu điểm khi xảy ra động đất. Tuy nhiên, có thể xảy ra lún móng không đều trong quá trình động đất hoặc sau một thời gian sử dụng, cầu dây văng có thể bị phá hủy, do vậy phải cận thận chú ý đến vấn đề này khi thiết kế móng.Đặc tính độc đáo của dây văng và của cả kết cấu tổng thể làm cho việc thiết kế cầu dây văng trở thành một nhiệm vụ phức tạp. Đối với những nhịp lớn, nơi mà gió và nhiệt độ phải được quan tâm, việc tính toán trở nên cực kỳ phức tạp và sẽ trở thành nhiệm vụ bất khả thi nếu không có sự giúp đỡ của máy vi tính. Việc chế tạo dây văng cũng tương đối khó khăn. Việc lắp đặt dây văng và liên kết với dầm chủ và cột tháp khá phức tạp và đòi hỏi chế tạo chính xác cao.Một sơ đồ bố trí với nhiều dây văng, hiện đang được dùng phổ biến ngày nay, có những ưu điểm sau:
- Hệ mặt cầu có thể thanh mảnh hơn.
- Việc thi công kết cấu nhịp cầu trở nên đơn giản từ khi áp dụng phương pháp thi công hẫng mà không cần dây treo tạm thời.
- Sự truyền lực đơn giản hơn.
- Thay thế dây văng dễ dàng hơn
- Ổ định khí động học, đặc biệt với hệ mặt cầu bê tông cốt thép, nơi tĩnh tải có hiệu quả giảm chấn.
- Mô men uốn do tĩnh tải nhỏ.
- Độ võng do hoạt tải nhỏ, do đó cầu dây văng cũng phù hợp cho cầu đường sắt.
Hình 13. Phương pháp xây dựng
Thành công của cầu dây văng liên quan rất lớn đến quá trình thi công hiệu quả, mà là đặc trưng của loại cầu này. Do vậy, một cầu dây văng có thể được thi công bằng phương pháp hẫng từ tháp cầu, đối xứng qua tháp cầu (Hình 13a) hoặc chỉ thi công hẫng nhịp chính (Hình 13b). Trong trường hợp sau, nhịp biên được thi công trước giống như một cầu dầm thông thường.Trong phương pháp thi công hẫng cân bằng (đúc hẫng hoặc lắp hẫng, Hình 13a), cần lưu ý rằng ổn định tổng thể ở trạng thái tạm thời phụ thuộc vào độ cứng chống uốn và sự cố định của cột tháp. Trong nhiều trường hợp, độ cứng này sẽ chi phối quá trình thiết kế tháp cầu. Trong phương pháp chỉ thi công hẫng nhịp chính (Hình 13b), dây văng thường được lắp đặt thành từng cặp sao cho các dây văng của nhịp biên được thi công cùng lúc với các dây văng ở nhịp chính.Trình tự thi công điển hình của một cầu dây văng bao gồm các bước sau:1. Thi công hẫng một đoạn dầm từ một điểm neo đã có đến điểm tiếp theo. Trong hầu hết các trường hợp, đoạn dầm được nâng lên bởi một hệ cần trục đặt trên hệ mặt cầu.2. Lắp đặt dây văng, thường thực hiện bằng cách tháo các cuộn dây cáp đặt trên hệ mặt cầu.3. Điều chỉnh lực căng trong dây văng bằng cách kích tại các neo chủ động.4. Chuyển hệ cần trục đến đầu dầm để thi công đoạn tiếp theoTrong nhiều trường hợp, dây văng phải chịu lực căng lớn nhất sau khi đoạn dầm hẫng tiếp theo được thi công. Sau đó, lực căng sẽ giảm bớt khi dây văng tiếp theo được căng kéo. Một điều vô cùng quan trọng cần hiểu rõ là sự phân bố mô men do tĩnh tải tĩnh trong dầm hoàn toàn bị chi phối bởi lực căng trong dây văng trong suốt quá trình thi công. Do đó, một sự phân bố mô men do tĩnh tải tối ưu có thể đạt được bằng cách chọn lực căng trong dây văng ban đầu sao cho phù hợp. Sự phân tích cần thiết của các giai đoạn thi công có thể được thực hiện ngược lại một cách thuận lợi, bằng cách chọn trước một phân bố mô men do tĩnh tải theo mong muốn, sau đó tiến hành kiểm tra lại khả năng chịu lực của kết cấu theo trình tự thi công.8. Kết luậnTrong những năm gần đây, cầu dây văng đã được sử dụng phổ biến nhờ vào những ưu điểm sau:Sử dụng vật liệu hiệu quả.Kết cấu không phức tạp, dễ chế tạo và thi công.Thi công nhanh.Tính mỹ thuật cao.Vượt được nhịp lớn.Độ võng nhỏ hơn cầu dây võng.Có tính kinh tế cao đối với các cầu nhịp lớn.Cầu dây văng đã giúp các người thiết kế có nhiều phương án lựa chọn hơn để đạt đến một dự án cạnh tranh và ưu việt hơn cho các cầu nhịp lớn.(Tập san chuyên ngành số 1 2/1006 - CLB Giao lưu kỹ thuật Nhật Việt - jveef.nhatviet.net) (Nguồn: Tài liệu Hội thảo Khoa học kết cấu thép trong Xây dựng)Về sự phát triển cầu dây văng ở Việt NamTừ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 kết cấu cầu dây văng hiện đại nhịp lớn được phát triển do ưu điểm nổi bật về tính kinh tế của nó so với cầu dây võng vì không phải xây dựng các mố neo lớn, các tường neo cấp, cũng như do tiện lợi trong quá trình thi công dầm và lắp đặt cáp từ tháp mà tiến ra giữa nhịp.1. Sư phát triển xây dựng cầu dây văng trên thế giới.Trong khoảng 50 năm qua kỹ thuật xây dựng cầu dây văng phát triển rất nhanh chóng. Do phát triển sau và địa hình có nhiều sông lớn cho nên châu Á trở thành nơi có nhiều cầu dây văng nhịp lớn nhất. Trên bảng 1 trình bày 10 cây cầu dây có nhịp lớn nhất thế giới.
|
| UC—Under Construction. |
| Source: Federal Highway Administration. |
Cầu Mỹ Thuận là một cây cầu bắc qua sông Tiền Giang ở đồng bằng sông Cửu Long, được chính thức khởi công ngày 6 tháng 7, 1997 và hoàn thành vào 21 tháng 5 năm 2000.Cầu do các công ty Baulderstone Hornibrook của Úc và Cienco 6 của Bộ Giao thông Vận tải thiết kế và thi công, với chi phí 90,86 triệu đôla Úc, trong đó chương trình AusAid của chính phủ Úc góp 66% và chính phủ Việt Nam là 34%.Cầu giúp người dân trong vùng đi lại thuận tiện hơn thay vì dùng bắcMỹ Thuận, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội về lâu dài cho khu vực 16 triệu dân. Cầu là một kết nối quan trọng của quốc lộ 1A, nối đồng bằng sông Cửu Long với thành phố Hồ Chí Minh.Thông số kỹ thuật:
Ngoài ra, khi tuyến đường này thông, các dòng xe từ phía Bắc đi về miền Tây không phải băng qua trung tâm thành phố nữa mà có thể vào Xa lộ Hà Nội, qua cầu Phú Mỹ, theo đường Nguyễn Văn Linh ra quốc lộ 1A tại khu vực Bình Chánh rồi về miền Tây. Đoạn đường được rút ngắn rất nhiều, lại góp phần giảm tải cho khu trung tâm TPHCM.Dự kiến, ngày 2/9/2009, cầu Phú Mỹ sẽ chính thức thông xe.
Cầu Rạch Miễu (Bến Tre):là một cây cầu dây văng nối liền 2 tỉnh Tiền Giang (Mỹ Tho) và Bến Tre với nhau. Bờ Bắc của cầu này là thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, bờ Nam là huyện Châu Thành của tỉnh Bến Tre, cách tỉnh lỵ Bến Tre 14km. Đây là công trình do Việt Nam tự đầu tư, với thiết kế và tổng thầu là các công ty Việt Nam. Cây cầu này khi hoàn thành sẽ giúp tỉnh Bến Tre thoát khỏi thế cô lập về giao thông bộ. Ngoài cầu chính, công trình này còn bao gồm đường dẫn hai đầu. Theo tiến độ ban đầu, cây cầu này sẽ hoàn thành và thông xe kỹ thuật cuối năm 2007 để đưa vào sử dụng vào dịp Tết Nguyên đán nhưng tiến độ đã không đạt được. Trong quá trình xây dựng đã xảy ra một số tiêu cực như rút bớt thép trụ cầu và đã bị phát hiện và xử lý.Chiều dài: 8331 m kể cả đường nối hai đầu cầu. Riêng phần cầu chính gồm 2 cầu số 1 và số 2 có tổng chiều dài 2.868 m, trong đó có một phần là kết cấu dây văng bố trí nhịp 117m+270m+117m, chiều cao tĩnh không thông thuyền 37,5m. Ở giữa cầu là cùa lao Thới Sơn. Cầu số 2 dài 990m gồm các nhịp có chiều dài tới 90m để thông thuyền với chiều cao 7m là dầm bêtông cốt thép dự ứng lực thi công theo phương pháp đúc hẫng cân bằng. Các nhịp cầu dẫn là nhịp dầm bêtông cốt thép dự ứng lực chiều dài mỗi nhịp 40m. Hai đoạn đường nối hai đầu có tổng chiều dài 5.463mvà 2 cầu chính có tổng chiều dài 2.868m bắc qua 2 nhánh sông Tiền Giang và cồn Thới Sơn.
Chiều dài nhịp chính: chiều dài 270 m và chiều cao thông thuyền là 37,5 m cho phép tàu 10.000 tấn có thể đi qua. Chiều rộng cầu: rộng 12-15 m cho 2 làm xe ô tô và có phần đường cho người đi bộ hai bênTổng thầu thi công: liên danh CIENCO1 - CIENCO5 - CIENCO6Tải trọng cầu: 30 tấnTổng mức đầu tư:1.400 tỷ đồngMặc dù mới được hoàn thành nhưng cầu Rạch Miễu đã xảy ra tình trạng kẹt xe, nhất là vào những ngày lễ. Tết Nguyên đán Kỷ Sửu năm 2009, cầu đã bị kẹt cứng vào giờ cao điểm từ 29 đến mùng 6 tết, một trong những nguyên nhân xảy ra kẹt xe là do phần dành cho xe cộ lưu thông trên cầu quá hẹp, đồng thời bị một số người bán hàng rong lấn chiếm làm nơi buôn bán, thêm vào đó là những những người dân tham quan, chụp ảnh trên cầu
Cầu Cần Thơ là cây cầu bắc qua sông Hậu, nối thành phố Cần Thơ và tỉnh Vĩnh Long, khi hoàn thành cây cầu này sẽ là cầu dây văng có nhịp chính dài nhất tại khu vực Đông Nam Á.Cầu Cần Thơ – công trình lớn nhất trên Quốc lộ 1, được khởi công xây dựng ngày 25/09/2004 và dự kiến hoàn thành vào ngày 14/12/2008,tuy nhiên sau sự kiện 26/09/07,công trình được gia hạn đến 31/03/2010.
Vị trí của dự án
Toàn tuyến dự án dài 15,85 km với điểm khởi đầu tại Km 2061 trên Quốc lộ 1 thuộc huyện Bình Minh tỉnh Vĩnh Long, đi tránh Quốc lộ 1 và thành phố Cần Thơ, vượt qua sông Hậu ở cách bến phà hiện hữu về phía hạ lưu 3,2 km, nối trở lại Quốc lộ 1 tại Km 2077 thuộc quận Cái Răng, Cần Thơ.
Quy mô của dự án
Tổng mức đầu tư 4.832 tỷ (thời điểm 2001, tức là khoảng 342,6 triệu USD) bằng nguồn Viện trợ phát triển chính thức (ODA) của chính phủ Nhật và vốn đối ứng của chính phủ Việt Nam (khoảng 15%).
Dự án được chia thành 3 gói thầu:
- Gói thầu 1 là đoạn đường dẫn phía Vĩnh Long dài 5,41 km trong đó có 4 cầu qua kênh Trà Và lớn, Trà Và nhỏ, sông Trà On và vượt Quốc lộ 54. Gói thầu này do Liên doanh Tổng Công ty Thăng Long, Tổng Công ty 6, Tổng Công ty 8 thi công trong 42 tháng.
- Gói thầu 2 là cầu chính.
- Nó gồm có:
- Cầu dẫn bờ Bắc bằng dầm Super T dài 0,52 km
- Cầu chính kết cấu dây văng dài 1.010 km bố trí nhịp: 2×40 + 150 + 550 + 150 + 2×40, mặt cầu hỗn hợp dầm thép và bêtông cốt thép dự ứng lực.
- Cầu dẫn bờ Nam bằng dầm Super T dài 0,88km
- Cầu dầm liên tục đúc hẫng vượt nhánh sông Hậu dài 0,34km
- Tổng chiều dài cầu chính là 2,75 km.
- Gói thầu này do Liên doanh 3 nhà thầu Nhật Bản là các tập đoàn Taisei, Kajima và Nippon Steel thi công trong 50 tháng.
- Nó gồm có:
- Gói thầu 3 là đoạn đường dẫn phía Cần Thơ dài 7,69 km trong đó có 6 cầu qua kênh Cái Tắc, kênh Cái Da, kênh Ap Mỹ, kênh Cái Nai, sông Cái Răng và vượt Quốc lộ 91B. Gói thầu này do nhà thầu Tổng công ty xây dựng Trung Quốc thi công trong 45 tháng.
Khổ cầu rộng 23,1m trong đó có bốn làn xe, mỗi làn 3,5m và hai lề bộ hành, mỗi lề 2,75m. Tốc độ thiết kế 80 km/giờ, qua các khu dân cư 60km/g. Tiêu chuẩn thiết kế cầu theo quy trình AASHTO LRFD.
Nói chung cầu Cần Thơ cũng có những đặc trưng phổ biến của loại cầu dây văng, ở đây chúng tôi chỉ nêu môt số đặc điểm riêng của cầu: - Về móng trụ tháp: là loại cọc khoan nhồi có đường kính 2,50 m nhưng có chiều dài vào loại dài nhất được thi công ở nước ta: 94 m và mỗi cọc có 45 tấn thép với cốt thép chủ đường kính 38 mm và gần 500 m³ bê tông mác 30 Mpa. Trụ bờ Bắc có 30 cọc và trụ bờ Nam có 36 cọc. Máy khoan cọc nhồi làm việc theo nguyên tắc tuần hoàn ngược liên tục dùng dung dịch bentonite có pha polymer khoảng 5%. Ở trụ bờ Bắc thi công trên bờ nên dùng ống thép đường kính 2,60 m dầy 22 mm và dài 12 m làm ống vách tạm thời (khoan nhồi xong rút lên). Ở trụ bờ Nam thi công dưới nước có độ sâu 20 m nên phải dùng ống vách chiều dài 42 m cố định (khoan nhồi xong để lại không rút lên). Chân cọc sau khi đổ bê tông được bơm vữa xi măng bằng bơm áp lực cao để tăng cường sức chịu tải của cọc.
- Bệ trụ tháp bờ Bắc thi công trên cạn nên làm hố móng và lắp khuôn đúc đổ bê tông thông thường. Riêng bệ trụ tháp bờ Nam thi công dưới nước nên mặt đáy và vòng vây xung quanh được đúc sẵn trên bờ và lắp ghép trên đâu cọc thành ván khuôn liền với bệ trụ. Vòng vây xung quanh có chiều sâu ngập trong nước dưới cao trình mặt đáy bệ để che chắn bảo vệ đầu cọc. Đây là phương pháp rất hay vừa tiết kiệm chi phí khuôn đúc, vừa đẩy nhanh tiến độ thi công. Nhưng phải đảm bảo việc định vị các cọc hết sức chính xác trong quá trình thi công khoan nhồi (đặc biệt là thi công dưới nước dòng chảy mạnh và mực nước lên xuống do ảnh hưởng của thủy triều), nếu không chính xác các tấm đáy không lắp ghép được và khó mà bịt kín đáy để thi công cốt thép trong môi trường khô ráo. Cốt thép thi công bệ trụ có đường kính lớn nhất tới 52 mm và nối dối đầu bằng đầu nối có ren, thí nghiệm kiểm chứng cho thấy khi kéo phá hoại cốt thép đứt ở thân chứ không đứt ở mối nối.
- Về trụ tháp có chiều cao tính từ mặt nước là 164,80 m và tính từ mặt cầu là 134,70 m. Trụ có hình chữ Y ngược và hai chân khép vào để thu hẹp diện tích bệ trụ, hình dạng này rất đẹp và thanh thoát, không như hình chữ H xoạc cẳng, trụ có biểu tượng như hai bàn tay chắp lại vái lên trời với tâm linh của người Á Đông.
- Kết cấu phần trên: Nhịp dây văng có chiều dài 550 m giữa hai trụ tháp, có tĩnh không thông thuyền cao 39 m (với chiều rộng tương ứng 200 m) đảm bảo cho tầu 10.000 DWT qua lại thường xuyên.
- Kết cấu mặt cầu là dầm hộp bê tông cốt thép đúc tại chỗ mác 50 Mpa, mặt cắt ngang là hình thang ngược gồm 4 khoang, đáy ở trên có chiều rộng 26,0 m và chiều cao là 2,70 m. Vì chiều dài nhịp 550 m là khá dài đối với cầu dây văng, nên để giảm bớt tải trọng của nhịp chính, đoạn giữa của cầu 210 m được kết cấu bằng dầm hộp thép chế tạo sẵn và lắp ghép với dầm bê tông cốt thép đã được đúc tại chỗ. Chính ở chỗ mối nối giữa dầm bê tông cốt thép và dầm thép phải thiết kế đặc biệt theo mô hình phần tử hữu hạn (FEM) để chuyển tiếp ứng suất giữa hai loại vật liệu có độ cứng và đàn hồi khác nhau
- Hệ dây văng khác với phương pháp truyền thống là các sợi thép bện thành tao rồi kéo và neo tùng tao trước khi cố định cả bó cáp dây văng. Ở đây toàn bộ bó cáp dây văng được chế tạo sẵn trong nhà máy rồi căng kéo và neo trên công trường chứ không phải kéo từng tao. Tất nhiên thiết bị và công nghệ căng kéo là mới và được áp dụng lần đầu tiên ở Việt Nam.
Vốn và chủ xây dựng
Cầu xây dựng dựa vào nguồn vốn vay ODA Nhật Bản, tổng mức đầu tư khoảng 4.832 tỷ VNĐ tỷ giá năm 2004 (khoảng 37 tỷ yen Nhật). NIPPON KOEI – CHODAI và nhà thầu chính là liên danh TAISEI – KAJIMA – NIPPON STEEL. Chủ đầu tư là Bộ Giao thông vận tải (Bộ trưởng đương nhiệm là Hồ Nghĩa Dũng), đại diện chủ đầu tư quản lý dự án là Ban quản lý dự án Mỹ Thuận (Tổng Giám đốc đương nhiệm là Dương Tấn Minh), Tư vấn giám sát quốc tế Liên danh Nippon Koei - ChoDai, Nhà thầu chính Liên danh Taisei - Kajima - Nippon Steel (nhà thầu TKN), Nhà thầu phụ VSL (Thụy Sỹ).
- Ngày 26/10/2007 sau 3 năm lẻ 1 tháng xây dựng, trụ tháp cầu đã cao gần 160 m. Hiện tại công việc thi công tạm đình chỉ do vụ sập nhịp dẫn vào tháng 9 vừa rồi dự kiến khoảng 2 tháng sau tức tháng 12 công việc sẽ được tiếp tục hoàn thành 4,8 m còn lại của trụ tháp.
- Tháng 3/2008 công việc thi công được phép tiến hành trở lại.
- Ngày 19/04/2008 trụ tháp phía bờ Vĩnh Long đã được hoàn chỉnh ở độ cao 164,80 m.
- Ngày 24/04/2008 trụ tháp phía bờ Nam Cần Thơ cũng đã hoàn tất phần đỉnh tháp. Như vậy là hai trụ tháp của cầu đã được hoàn tất.
- Cuối tháng 06/2008 Bộ GTVT sẽ đưa ra kết luận chính thức về vụ 26/09/2007,và sẽ cho phép thi công lại nhịp p14,p15 và phần dây văng,Sớm đưa công trình hoàn thành và đưa vào sử dụng.
- Ngày 25/08/2008 Nhà thầu TKN đã chính thức khởi động lại công trình sau 9 tháng trì hõa bằng việc thi công lại trụ tạm các nhịp p 14, p 15
- Ngày 01/09/2008 Việc thi công lại hai trụ P 14, và P 15 được khời công lại.
- Tháng 01/2009 Khỏang cách còn lại của 2 nhịp cầu là 350m
- Tháng 04/2009 Hợp long nhịp biên bờ Nam
- Tháng 06/2009 Đốt dầm thép đầu tiên được lắp lên tại tháp Nam.
Cầu Nhật Tân(Hà Nội): Sáng 7/3, cầu Nhật Tân - cây cầu dây văng liên tục nhiều nhịp nhất, hiện đại nhất và dài nhất Việt Nam đã được khởi công xây dựng. Tổng chiều dài dự án là gần 9km.Theo thiết kế, dự án cầu Nhật Tân thuộc đường vành đai II của TP Hà Nội, bắt từ khu vực Phú Thượng (quận Tây Hồ, TP Hà Nội) sau đó chạy song song và cách đường Lạc Long Quân thong 420m.
Sau khi vượt sông Hồng bằng cầu Nhật Tân (cách cầu Thăng Long khoảng 3,6km về phí hạ lưu), dự án cắt QL5 kéo dài tại nút giao Vĩnh Ngọc rồi kết thúc ở điểm giao với đường Nam Hồng tại Km 8+933,81. Tổng chiều dài dự án là gần 9km.
Cầu chính là cầu dây văng 5 trụ tháp (ảnh minh họa)Bộ trưởng Bộ GTVT Hồ Nghĩa Dũng cho biết, cầu Nhật Tân dài 3,7 km, mặt cắt ngang là 33,2m. Cầu chính là cầu dây văng liên tục 5 trụ tháp với tổng chiều dài 1,5km. Thiết kế này chưa được áp dụng nhiều trên thế giới. Cầu Nhật Tân là cung đường ngắn nhất từ trung tâm thủ đô Hà Nội đến sân bay quốc tế Nội Bài.Dự án xây dựng cầu Nhật Tân do Bộ GTVT làm chủ đầu tư, tổng mức đầu tư của dự án là 13,6 nghìn tỷ đồng. Cây cầu này sẽ góp phần giảm tải lưu lượng giao thông trên các cầu Thăng Long và cầu Chương Dương, là điểm nhấn kiến trúc cảnh quan du lịch của Hà Nội.
Cầu Bãi Cháy (thực hiện bằng nguồn vốn vay ODA đặc biệt của chính phủ Nhật Bản). Gói thầu gồm 1 cầu chính dài 903 m và cầu dẫn số 5 dài 99 m với tổng giá trị xây lắp trên 950 tỷ đồng. Cầu dây văng bê tông cốt thép dự ứng lực này có tĩnh không thông thuyền là 50 m nên tàu trọng tải 40.000 tấn có thể ra vào cảng Cái Lân dễ dàng. Theo thiết kế của Liên danh tư vấn (Viện cầu & kết cấu Nhật Bản, Công ty tư vấn quốc tế Thái Bình Dương, Tổng công ty tư vấn thiết kế GTVT và Công ty tư vấn Hyder), cầu Bãi Cháy sẽ có hệ thống thang máy tại 2 tháp chính, đèn trang trí ở cáp văng, trụ tháp, dầm và điểm nghỉ chân ở các mố cầu.
Việc xây dựng cầu Bãi Cháy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về giao thông bởi eo Cửa Lục nằm ở trung tâm quốc lộ 18 (nối thủ đô Hà Nội với vùng Đông Bắc) nên giao thông luôn bị gián đoạn, chủ phương tiện phải chuyển sang dùng phà. Khi đưa vào sử dụng, cầu Bãi Cháy sẽ góp phần phát triển kinh tế du lịch của tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Sau khi lọt qua vòng sơ tuyển, 4 nhà thầu Nhật Bản gồm Kajima, Taisei, Liên danh Shimizu + Sumitomo Construction và Liên danh Obayshi + P.S Mitsubishi Construction sẽ tham gia đấu thầu ngày 4/3. Dự kiến thời gian xét thầu là 2 tháng, đến ngày 19/5 sẽ khởi công và cầu hoàn thiện sau 42 tháng.
10 cầu đứng đầu trong loại cầu dây văng bê tông cốt thép dự ứng lực một mặt phẳng dây:1.Bãi Cháy (Việt Nam), 2.Elorn (Pháp), 3.Sunshine Skyway (Mỹ), 4.Brotonne (Pháp), 5.Puenete Coatzacoalcos (Mexico),6.Tokachi Great (Nhật Bản), 7.Vịnh Aomori (Nhật Bản),8.Sơn Đông (Trung Quốc), 9.Sông James (Mỹ),10.Benn Ahin (Bỉ)
Cầu Thuận Phước (Đà Nẵng):công trình trọng điểm của thành phố Đà Nẵng, đã được xây dựng bắc qua sông Hàn, nối liền quận Hải Châu với bán đảo Sơn Trà. Sau khi cây cầu hoàn thành, người Đà Nẵng hoàn toàn có thể tự hào về cầu treo dây võng dài nhất Việt Nam (dài 1.850m, hơn cầu Mỹ Thuận 300m), được thiết kế với quy mô khẩu độ lớn, hiện đại, mang tính thẩm mỹ cao.
Cầu có 2 trụ tháp cao 92m, cách nhau 405m, tĩnh thông thuyền 27,5 m, kết cấu với dầm hộp thép suốt toàn bộ nhịp treo dài 650m, chế tạo bằng công nghệ dầm tăng cứng theo tiêu chuẩn quốc tế. Nhưng hơn cả, người dân Đà Nẵng đặt nhiều kỳ vọng vào cây cầu Thuận Phước bởi biết rõ muốn đánh thức được “giấc ngủ của nàng tiên Sơn Trà” phải dùng đến 'chiếc chìa khóa vàng' là chiếc cầu này. Sáng 19.7, TP.Đà Nẵng tổ chức lễ khánh thành cầu Thuận Phước và khởi công xây dựng cầu mới qua sông Hàn - cầu Rồng.
Cầu Thuận Phước dài hơn 2.100 mét, rộng 18 mét, hai tháp chính cao 80 mét, khoảng cách giữa hai trụ tháp là 400 mét, độ tĩnh không thông thuyền 27 mét. Cầu có vốn đầu tư gần 1.00 tỉ đồng, do TP.Đà Nẵng làm chủ đầu tư từ nguồn ngân sách. Cty cổ phần tư vấn xây dựng 533 liên danh với Viện Thiết kế cầu đường số 2 Trung Quốc thiết kế. Cty cơ khí xây dựng công trình 623, Tổng Cty Xây dựng công trình giao thông 6 là nhà thầu chính, cầu được khởi công 1.2003.
Đây là cây cầu dây võng bắc qua cửa biển ở đoạn cuối sông Hàn. Phát biểu tại lễ khánh thành, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng biểu dương nỗ lực của Đà Nẵng trong việc huy động các nguồn lực để đầu tư xây dựng cây cầu dây võng hiện đại, dài nhất Việt Nam. Thủ tướng cũng biểu dương các nhà thầu, đơn vị tư vấn đã tập trung nhân lực thi công cầu đảm bảo an toàn, chất lượng.
Mô hình cầu Rồng.Cũng trong sáng 19.7, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dự lễ khởi công xây dựng cầu mới thứ sáu trên sông Hàn - cầu Rồng (Xem mô hình ở bên). Cầu Rồng dài 670 mét, rộng 37 mét, vốn đầu tư gần 1.500 tỉ đồng - do Liên danh nhà thầu Cty 508-Cienco5 và Cty cầu 75-Cienco8 thi công. Đây là cây cầu hiện đại, xây dựng theo công nghệ tiên tiến trong nước và quốc tế, được thiết kế phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch xây dựng, quy hoạch ngành giao thông vận tải của Đà Nẵng; khi hoàn thành sẽ tạo thành trục chính theo hướng đông - tây, xây dựng tuyến gắn nhất nối sân bay Đà Nẵng với các trục giao thông quan trọng của thành phố, góp phần phát triển kinh tế - xã hội khu vực bờ đông sông Hàn.
Theo đó, ở phía bờ tây, đường Nguyễn Văn Linh sẽ được nối dài (rộng 36m, có thể nghiên cứu mở rộng lên 48m) đến tiếp giáp đường Bạch Đằng, tiếp tục vươn ra sông một đoạn rồi mới bắt đầu phần cầu - được thiết kế như một con rồng đang “bay” qua sông Hàn đầy sống động. Tiếp đó là phần đường ở phía bờ đông, từ chân cầu Rồng đến tiếp giáp đường ven biển Sơn Trà - Điện Ngọc, rộng 48m.
Cầu Rồng được thiết kế theo quy mô vĩnh cửu, chịu được chấn động cấp 6, rộng 31,5m (gồm 6 làn xe, 2 lề bộ hành và dải phân cách, chưa tính phần trang trí), tĩnh không thông thuyền 7m, độ dốc tối đa trên cầu 3,5%... Lãnh đạo Đà Nẵng cũng yêu cầu đơn vị tư vấn thiết kế điều chỉnh tỷ lệ kích thước giữa chiều dài và thân rồng cho phù hợp, có hình thức cấu tạo đầu rồng sống động hơn, đồng thời có giải pháp kiến trúc đảm bảo mỹ quan khi du khách đi tàu nhìn cầu từ dưới sông lên…
Đặc biệt, lãnh đạo TP. Đà Nẵng yêu cầu nghiên cứu kỹ phương án chiếu sáng ban đêm để cầu Rồng trở thành điểm nhấn kiến trúc du lịch đặc biệt trên sông Hàn. Có thể vào tối thứ bảy hàng tuần, từ các vi, vảy rồng sẽ bắn pháo hoa, phun khói sáng… tạo thành một điểm tham quan hấp dẫn đối với du khách!Sự phát triển cầu treo dây văng ở Trung Quốc
Hiện nay nhiều cầu treo đã và đang được xây dựng tại Trung Quốc. Măc dù việc áp dụng cầu treo tại Trung Quốc tương đối muộn, nhưng hiện nay Trung Quốc được xếp vào những quốc gia phát triển nhất về cầu treo dây văng. Theo thống kê, ở Trung Quốc có hơn 100 cầu treo, trong đó 11 cầu treo dây văng có nhịp chính vượt hơn 400m. Cầu treo dây văng đầu tiên được xây dựng vào năm 1975 là cầu Yunyang nhịp 76m ở Tứ Xuyên. Từ thập niên 80, Trung Quốc đã chứng kiến sự phát triển nhanh chóng việc xây dựng cầu dây văng thế hệ thứ 2 với việc hoàn thành cầu Maogang ở Thượng Hải và cầu Jinan Yellow River ở Sơn Đông vào năm 1982. Thập niên 90 Trung Quốc phát triển cầu treo dây văng thế hệ thứ 3 với các cầu treo cỡ nhẹ. Hàng loạt cây cầu vượt sông lớn, kênh rộng được hoàn thành với tốc độ xây dựng nhanh hơn.
Với chiều dài nhịp 200-500m, cầu treo dây văng ứng suất trước được xây dựng bằng phương pháp đúc hẫng tại chổ. cầu treo dây văng ứng suất trước lớn nhất là cầu Chongqing No.2 Yangtze River (hình 1) ở Tây nam Trung Quốc với nhịp giữa 444m xếp thứ 2 thế giới sau cầu Skarnsundet ở Na uy.

Hình 1. Cầu Chongqing No.2 Yangtze River Cầu Jingzhou Yangtze River đang được xây dựng ở tỉnh Hồ Bắc thuộc loại cầu treo dây văng dầm ứng suất trước sử dụng kiểu dầm bản có gân tăng cường rộng 26.5m, chiều dày bản 32cm và chiều dài nhịp chính 500m với gân tăng cường cao 2.4m , rộng 1.7m.
Cầu Jinma ở Quảng Đông có sơ đồ nhịp 60+283+283+60m trở thành cầu treo dây văng 1 trụ tháp với dầm ứng suất trước không chỉ lớn nhất ở Trung Quốc mà còn đạt kỷ lục thế giới.
Do điều kiện địa hình khống chế nên cầu Hanjiang River ở Yunyang (hình 2) có nhịp chính 414m và 2 nhịp bên 43m được thiết kế với 42m dài neo trong đất cho mỗi nhịp bên. Cầu treo dạng này có thể khắc phục hiệu quả ảnh hưởng của momen uốn dầm chính do thay đổi nhiệt độ. Với loại cầu đặc trưng này, 1 mối nối đặc biệt được thiết kế với 1 hộp thép được đặt thêm vào bên trong dầm hộp bê tông UST tại giữa nhịp chính nhằm giải phóng lực dọc trục, đảm bảo khống chế chuyển vị của dầm, chống lại lực cắt và momen uốn.

Hình 2. Cầu Yunyang Hanjiang River
Cầu Boyang Lake ở Thành phố Jiujiang tỉnh Giang Tây (hình 3) là cầu treo dây văng dầm ứng suất trước có gân tăng cường, 2 trụ tháp với 2 mặt phẳng dây, bố trí nhịp không đối xứng 65+123+318+130m. Chênh lệch chiều cao 2 trụ tháp 23.5m nhằm tránh tầng đá Castơ dưới sông. Hình 3. Cầu Boyang Lake Trong cầu treo dây văng có chiều dài nhịp 350-600m, dầm liên hợp thường được sử dụng nhằm làm giảm trọng lượng bản thân, tăng chiều dài đoạn đúc hẫng khi thi công và tăng tốc độ xây dựng. Lúc này, mặt cắt ngang dầm dạng hở có thể chấp nhận do có thể giảm vật liệu và giảm giá thành của dự án. Nổi tiếng nhất là cầu Yangpu ở Thượng Hải có nhịp chính 602m là cầu treo dây văng dầm liên hợp lớn nhất hiện nay trên thế giới. Khoang dầm cao 3m rộng 30.35m bố trí cáp cách nhau 9m. Cầu Minjiang đang triển khai ở Thanh Châu, thành phố Phúc Châu có nhịp chính 605m. Cầu Hongshan Liuyang River (hình 4) đang được xây dựng ở thành phố Trường Sa thuộc loại cầu treo dây văng dầm liên hợp với chiều dài nhịp chính 206m được đỡ bởi 1 trụ tháp nghiêng về phía sau 580 . Các bó cáp bố trí song song cách nhau 12m. Dầm cầu dạng dầm hộp thép hình chữ nhật cao 4.4m và rộng 7m chia ra từng đoạn dài 4m, 2 cánh hẫng mỗi bên 13.1m, toàn bộ bản mặt cầu bê tông UST dày 21cm. Hình 4. Cầu Hongshan Liuyang Cầu Xupu ở Thượng Hải, nhịp chính được thiết kế với dầm liên hợp dài 590m. Dầm hộp thép cao 2.7m, rộng 2.7m, thép dày 25cm liên hợp với bản bê tông cốt thép rộng 36m ở phía trên, được xếp thứ nhất trong số các cầu treo dạng này trên thế giới. Hình 5. Cầu South Channel thuộc dự án Nanjing No.2 Yangtze River Tại thành phố Vũ Hán, cầu Baishazhou Yangtze River (hình 6) với cáp treo được bố trí phía trong có nhịp chính 618m và nhịp biên được kéo dài 143m ra 2 nhịp biên, được làm từ dầm hộp thép cao 3m, rộng 30.2m. Hai nhịp biên dài 230m cũng được kéo dài thêm 87m làm bằng dầm thép kết hợp với dầm hộp bê tông ứng suất trước nhằm cân bằng với trọng lượng dầm thép chính, giảm chi phí xây dựng và tăng ổn định gió trong quá trình xây dựng. Hình 6. Cầu Baishazhou Yangtze River Từ thập niên 80, kết cấu ống thép nhồi bê tông đã được sử dụng rộng rãi trong cầu giàn, cầu vòm và cầu treo vì trọng lượng lắp ráp nhỏ, ván khuôn linh hoạt, độ cứng cao sau khi đổ bê tông và tăng khả năng chịu tải trọng giới hạn. Cầu Nanhai Zidong ở Quảng Đông (hình 7) có sơ đồ 69+140+69m với 1 mặt phẳng dây thiết kế dùng các ống thép nhồi bê tông cách nhau 3m theo chiều cao làm thanh dàn. Dàn trên làm từ thép tấm, dàn dưới và thanh giằng được làm từ ống thép có đườn kính 300mm và 140mm. Trụ tháp cũng được làm từ ống thép nhồi bê tông có đường kính 1830mm. Khi toàn bộ dàn được lắp vào đúng vị trí, bê tông cấp C-40 được bơm vào các ống thép. Nhờ tải trọng nhẹ và chi phí thấp nên kết cấu dạng này có triển vọng rất lớn. Hình 7. Cầu Baishazhou Yangtze River Thập kỷ qua đã chứng kiến sự phát triển ấn tượng của cầu treo dây văng ở Trung Quốc với hàng chục cầu lớn có nhịp trên 400m, thậm chí 600m đã được xây dựng. Bên cạnh đó, Trung Quốc ưu tiên phát triển cầu treo dây văng dầm ứng suất trước và dầm liên hợp. Cầu dây văng ống thép nhồi bê tông hoàn thành đã chứng minh triển vọng phát triển của loại kết cấu này trong tương lai.TS. Phùng Mạnh Tiến Lịch sử phát triển và ứng dụng của bê tông tự đầm ở Nhật BảnMasahiro OuchiTrường đại học công nghệ Kochi, Tosa-yamada, Kochi, Nhật Bản Danh sách các cầu dây văng lớn nhất 

Cầu treo dây văng dầm thép được xây dựng sớm nhất (năm 1987) ở Trung Quốc là cầu Dongying Yellow River ở Sơn Đông với nhịp giữa dài 288m gồm 2 hộp thép đơn .Cầu lớn nhất loại này từng được xây dựng ở Trung Quốc là cầu South Channel (hình 5) với nhịp chính 628m thuộc dự án đang triển khai Nanjing No.2 Yangtze River. Dầm hộp thép của cầu cao 3.5m, rộng 37.2m, cáp treo được neo vào trụ tháp bê tông cao 195.4m phía trên được thiết kế kiểu khung cứng. Ngoài ra, cầu Junsahn Yangtze cũng đang được xây dựng ở Vũ Hán có nhịp chính 460m.


Sự phát triển của bê tông tự đầmMục đích sự phát triển của bê tông tự đầmTrong nhiều năm kể từ năm 1983, độ bền của các cấu trúc bê tông là một chủ đề lớn gây nhiều sự quan tâm chú ý tại Nhật Bản. Để có được cấu trúc bê tông có độ bền theo yêu cầu thì cần phải có nhiều công nhân lành nghề. Tuy nhiên, do số lượng công nhân có tay nghề trong ngành công nghiệp xây dựng ở Nhật Bản đang giảm dần dẫn đến làm giảm chất lượng của các công trình xây dựng. Một trong những giải pháp để đạt được các kết cấu bê tông có độ bền mà không phụ thuộc vào chất lượng thi công công trình là bê tông tự đầm. Bê tông tự đầm là bê tông có thể gắn kết ở tất cả các góc của ván khuôn chỉ bằng trọng lượng của chính nó mà không cần đến các thiết bị đầm nén. Okamura là người đầu tiên đề xuất về sự cần thiết của bê tông tự đầm vào năm 1986. Ozawa và Waekawa đã tiến hành việc nghiên cứu bê tông tự đầm cả về cơ sở và khả năng làm việc thực tế của nó.Mẫu bê tông tự đầm đầu tiên được chế tạo vào năm 1988 bằng cách sử dụng các loại vật liệu sẵn có trên thị trường. Mẫu này với các tính chất về độ khô, độ co cứng, sự toả nhiệt của phản ứng thuỷ hoá, độ đầm chặt sau khi cứng và một số đực tính khác đã làm hài lòng các nhà khoa học. Loại bê tông này được gọi là “Bê tông chất lương cao” và nó được xác định bởi ba đặc tính của bê tông:(1) Tươi: Khả năng tự đầm(2) Có tuổi sớm: nhằm tránh những ảnh hưởng ban đầu(3) Cứng: chống lại sự tác động của các yếu tố bên ngoàiNgoài ra bê tông chất lượng cao còn có độ bền cao do tỉ lệ nước và xi măng thấp. Do đó bê tông chất lượng cao được sử dụng như một loại bê tông có độ bền cao trên thế giới. Bởi vậy nó đã được đổi tên thành “Bê tông tự đầm chất lượng cao” cho phù hợp với mục đích sử dụng.
Các phương pháp để đạt được độ tự đầmPhương pháp để đạt được độ tự đầm không chỉ có được độ biến dạng cao của vữa chất bột dẻo mà còn chống lại sự phân tầng giữa cốt liệu thô và vữa khi các dòng bê tông đi qua các khu vực cốt thép. Okamura và Ozawa đưa ra một vài phương pháp để đạt được độ tự đàm như sau:(1) lượng cốt liệu giới hạn và lượng vật liệu bột cao(2) sự tồn tại đồng thời của độ biến dạng và độ nhớt caoSự va chạm và tiếp xúc giữa các phân tử cốt liệu có thể tăng lên trong khi khoảng cách tương đối giữa các phân tử lại giảm xuống và do đó ứng suất trong có thể tăng lên khi bê tông bị biến dạng, và thường xảy ra ở những nơi có tác nhân gây trở ngại. Điều này được thể hiện bằng năng lượng tiêu thụ của các dòng bê tông khi ứng suất trong tăng, dẫn tới sự ứ đọng của các phần tử cốt liệu. Lượng cốt liệu thô giới hạn, mà năng lượng tiêu thụ rất nhiều, phi ở mức độ thấp hơn tỉ lệ thông thưởng để tránh kiểu ứ đọng trên một cách có hiệu quả.Độ nhớt của chất bột dẻo phi theo đúng yêu cầu để tránh việc ứ đọng cột liệu thô khi các dòng bê tông di chuyển qua các chướng ngại vật. Khi bê tông biến dạng, chất bột dẻo với độ nhớt cao cũng ngăn chặn sự tăng cục bộ của ứng suất trong do sự tiếp cận của các phần tử cốt liệu thô. Sự tồn tại đồng thời của độ biến dạng cao và độ nhớt cao chỉ có thể có được bằng cách sử dụng chất siêu dẻo, mà nó làm cho tỉ lệ nước và bột trong chất dẻo thấp.Sự mở rộng của bê tông tự đầm
Bê tông tự đàm lần đầu tiên được Ozâ giới thiệu tại hội nghị lần thứ 2 của khu vực Đông á Thài Bình Dưng về kết cấu kỹ thuật và xây dựng vào tháng 1 năm 1989. Việc giới thiệu bê tông tự đầm của Ozâ tại hội nghị quốc tế CANMET & ACI, Istanbul ', tháng 5 năm 1992 đã • làm cho bê tông tự đầm được biết đến nhiều hơn trên thế giới. Sau cuộc hội thảo ACI vào tháng 11-1994, bê tông tự đầm trở nên phổ biến đối với các nhà nghiên cứu và kỹ sư trên thế giới, những người rất quan tâm tới độ bền của bê tông và các hoạt động nghiên cứu trên thế giới cũng được bắt đầu. Hiện nay các cuộc nghiên cứu vẫn được Aictin tiến hành ở Candâ. Tháng 1-1997 một uỷ ban về bê tông tự đầm của RILEM được thành lập. Tháng 8-1998, cuộc hội thảo đầu tiên về bê tông tự đầm được tổ chức ở Kochi, Nhật Bản.Ứng dụng bê tông tự đầm trong các công ty xây dựng lớnKể từ khi mẫu bê tông tự đầm đầu tiên được chế tạo, hoạt động nghiên cứu đã được bắt đầu ở nhiều nơi, đặc biệt là ở các viện nghiên cứu của các công ty xây dựng và kết quả là bê tông tự đầm được sử dụng ở rất trong các cấu trúc thực tế ứng dụng đầu tiên của bê tông tự đầm là ở tháp của cầu dây văng bê tông dự ứng lực năm 1991. Độ nhẹ của bê tông tự đầm được sử dụng trong dầm chính của cầu dây văng năm 1992, mặc dù nó đã được lên kế hoạch từ năm 1990. Từ đó thì bê tông tự đầm được sử dụng nhiều hơn trong các công trình. Hiện nay các lý do chính để sử dụng bê tông tự đầm có thể tóm tắt như sau:(1) Để rút ngắn thời gian xây dựng(2) Để đảm bảo độ đầm chặt của kết cấu nhất là những vùng tiếp giáp nơi rất khó đầm.(3) Để làm giảm tiếng động và sự rung động do quá trình đầm, đặc biệt là ở những nhà máy sản xuất bê tông.Công Trình quy mô lớn Hiện nay, người ta sử dụng bê tông tự đầm trong các kết cấu cần thiết để có thể rút ngắn thời gian thi công những công trình quy mô lớn.Một kết quả điển hình của cộng nghê sử dụng bê tông tự đầm là những mấu neo của chiếc cầu treo có nhịp dài nhất thế giới ( 1,991 m) : cầu Akashi – Kaikyo xây dựng vào tháng Tư năm 1998 (hình 4). Cầu có hai mấu neo được xây dựng sử dụng bê tông tự đầm. Việc xây dựng hai mấu neo này đã giới thiệu cho chúng ta một phương thức xây dựng mới, đó là phương thức xây dựng những công trình hoàn toàn sử dụng bê tông tự đầm.Theo đó, bê tông được nhào trộn ở nhà máy nằm bên cạnh khu vực xây dựng, sau đó được bơm ra khỏi nhà máy, truyền dọc theo 200 m đường ống đến khu vực đổ khuôn. Tại khu vực đổ khuôn, các đường ống này được sắp xếp lại thành từng hàng cách nhau 3 đến 5 m. Bê tông được tích đọng lại giữa các cửa van nằm cách nhau 5 m một dọc theo các đường ống. Các van này tự động điều khiển sao cho các đoạn bê tông tự đầm được nối liên tục không gian đoán tại các mặt lớp. Kích thước lớn nhất của hạt cốt liệu thô được sử dụng trong công trình này là 40 mm. Mặc dầu khối bê tông bị lún xuống khoảng 3 m và kích thước các hạt cốt liệu thô là lớn nhưng vẫn không xảy ra hiện tượng phân tách trong bê tông. Theo kết quả phân tích sau cùng, việc sử dụng bê tông tự đầm đã giảm bớt thời gian thi công mấu neo đi 20%, từ 2,5 năm xuống còn 2 năm.Bê tông tự đầm cường độ cao còn được sử dụng trong xây dựng tường chắn cửa bể chứa LNG ( khí gas thiên nhiên hoá lỏng ) của công ty Gas Osaka ( Osaka gas company) (Hình 5). Việc lựa chọn sử dụng bê tông tự đầm trong công trình này đã đem lại những kết quả sau :- Số lượng khung giàn (lot) giảm từ 14 xuống 10 do chiều cao của mỗi khung giàn tăng lên.- Số lượng nhân công tham gia đổ bê tông giảm từ 150 xuống còn 50 người.- Thời gian thi công giảm từ 22 tháng xuống còn 18 tháng.Cũng tại công trình này, người ta đã xây dựng được một phương pháp hiệu quả để kiểm định khả năng tự đầm của bê tông tại công trường. Công việc đổ khuôn hoàn thành vào tháng 6 nắm 1998.Phương thức thi công mới Bằng việc sử dụng bê tông tự đầm, chúng ta có thể tiết kiệm chí phí đầm lèn mà vẫn đảm bảo được sự đầm chắc của bê tông trong các kết cấu. Tuy vậy, trừ trường hợp các công trình lớn, không phải lúc nào sử dụng bê tông tự đầm cũng làm cho tổng chi phí xây dựng công trình cũng giảm. Nguyên nhân là do phương thức thi công truyền thống đã quá phụ thuộc vào việc đầm lèn bê tông.Bê tông tự đầm có thể tạo ra một cuộc cách mạng trong việc cải tiến phương thức thi công truyền thống, vốn được xây dựng dựa trên việc sử dụng bê tông thường, cần có các quá trình đầm lèn. Kiểu đầm lèn truyền thống này ngoài việc rất dễ tạo ra các sự phân tách trong bê tông còn gây cản trở cho việc hợp lý hoá quy trình xây dựng. Nếu như vượt qua được cản trở này, quá trình thi công bê tông sẽ được tối ưu hoá và kéo theo nó là sự phát triển của một hệ thống thi công mới, trong đó cả ván khuôn, hệ thống gia cố, hệ thống chống đỡ và hình dạng kết cấu đều sẽ được cải tiến. Một trong những dạng kết cấu mới xuất hiện là kết cấu dạng bánh sandwich, trong đó bê tông được điền đầy vào vỏ cốt thép . Dạng kết cấu này đã được ứng dụng ở Kobe và chúng ta sẽ không thể tạo ra được nó nếu như không sử dụng bê tông tự đầm.Phụ gia hạn chế sự không đồng nhất trong bê tôngChắc chắn là chúng ta hoàn toàn có thể chế tạo được bê tông tự đầm ổn định về chất lượng, đặc biệt là về khả năng tự đầm. Tuy vây, sự khác biệt về tính chất của các cốt liệu cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng tự đầm. Nhân tố ảnh hưởng lớn nhất chính là sự khác biệt về hàm lượng nước trong bê tông, gây ra do sự khác nhau về độ ẩm của các hạt cốt liệu nhỏ dùng trong chế tạo bê tông. Một số các công trình xây dựng lớn đã sử dụng phụ gia hạn chế sự không đồng nhất trong bê tông để giải quyết vấn đề này. Dạng phụ gia này hiệu quả trong việc làm giảm ảnh hưởng của sự khác biệt về hàm lượng nước đến tính năng tự đầm của bê tông. Có rất nhiều loại phụ gia khác nhau đã chế tạo và sử dụng tại Nhật Bản.Những nghiên cứu hiện nay về tính năng của bê tông tự đầm tiến tới sử dụng bê tông tự đâm như một loại bê tông tiêu chuẩn.Ở Nhật Bản hiện tại, bê tông tự đầm vẫn được xem như một loại bê tông đặc biệt và chỉ được sử dụng trong các công trình lớn. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ bản thân các tính chất của bê tông tự đầm và được tổng kết ở dưới đây :(1) Khả năng tự đầm là một khái niệm hoàn toàn mới và chúng ta chưa thiết lập được một phương pháp chuẩn để đánh giá nó một cách hợp lý.(2) Khả năng tự đầm chịu ảnh hưởng lớn bởi các tính chất của cốt liệu và tỉ lệ nhào trộn trong khi chúng ta chưa thiết kế được thành phần cốt liệu và phương thức nhào trộn hợp lý nhất(3) Sự khác biệt về tính chất của các cốt liệu: đặc biệt là sự khác biệt về độ ẩm trong cốt liệu nhỏ, có thể làm ảnh hưởng đến khả năng tự đầm của bê tông; do đó, tạo nên sự không ổn định về khả năng tự đầm trong quá trình chế tạo.(4) Phải tốn nhiều công sức hơn để kiểm tra tính tự đầm của bê tông trước khi đổ khuôn, cụ thể :Phải kiểm tra khả năng tự đầm của tất cả bê tông. Bởi vì, sau khi đã đổ khuôn, chúng ta sẽ không thể làm tăng thêm độ đầm chặt cho bê tông bằng các phương pháp cơ học.(5) Số chi phí tiết kiệm được do không phải đầm nén không phải lúc nào cũng đủ bù đắp cho sự tăng giá vật liệu nên tổng chi phí cho xây dựng công trình không phải lúc nào cũng giảm, trừ trường hợp chúng ta xây dựng những công trình quy mô lớn.Để có thể sử dụng bê tông tự đầm như một loại bê tông tiêu chuẩn thay vì như một loại bê tông đặc biệt, chúng ta cần phải xác lập được phương thức mới trong chế tạo, sản xuất và thi công nó. Một phương thức mà trong đó, bê tông tự đầm được ngành công nghiệp bê tông trộn sẵn sản xuất như bê tông thường, sẽ là hiệu quả nhất bởi vì ở Nhật Bản hiện nay, có đến khoảng 70% bê tông được tạo ra bởi ngành công nghiệp bê tông trộn sẵn này. Băng việc tổng kết các số liệu do các nhà máy bên tông trộn sẵn cung cấp, trường đại học Tokyo đã đưa ra đưa ra nhung kết quả nghiên cứu chính của mình trong :(1) Phương pháp kiểm tra khả năng tự đầm của bê tông(2) Biện pháp lựa chọn thành phần của bê tông tự đầm(3) Biện pháp kiểm định chất lượng tại hiện trường.Năm 1997, hội công nghiệp sản xuất bê tông trộn sẵn quốc gia đã thành lập uỷ bản chuyên nghiên cứu để thành lập phương pháp thủ công sản xuất và thi công bê tông tự đầm, đứng đầu là ông Ozawa. Kết quả nghiên cứu của uỷ ban bao gồm 3 vấn đề đề cập ở trên đã được sử dụng trong sản xuất và thi công thủ công từ mùa xuân năm 1998.Ngoài ra, uỷ ban còn đưa ra kết quả nghiên cứu về những phương thức thiết kế và thi công mới hoàn toàn sử dụng bê tông tự đầm ( Hình 6). Kết cấu dạng bánh sandwich là một ví dụ, dạng kết cấu này sẽ không thế được xây dựng nếu không sử dụng bê tông tự đầm. ( hình 7)Kết luậnBiện pháp lựa chọn thành phần hạt và biện pháp kiểm định chất lượng tại hiện trường cho bê tông từ đầm đã được xây dựng gần như hoàn chỉnh, như vậy, trở ngại chính đã được khắc phục. Chắc chắn bê tông tự đầm sẽ được sử dụng rộng rãi trong tương lai. Và khi đó, bê tông tự đầm sẽ được xem xét như một loại bê tông tiêu chuẩn chứ không còn là một loại bê tông đặc biệt nữa. Chúng ta sẽ có điều kiện để thiết kế những công trình bê tông bền và ổn định hơn trong khi chỉ phải bỏ ra chi phí bảo dưỡng rất nhỏ.Dịch : Ngô Văn Minh - Nguyễn Xuân Tùng - Cầu đường Anh 42 - ĐHGTVT
- Vidyasagar Setu (2nd Hooghly Bridge) ở Kolkata, Tây Bengal, Ấn Độ là cây dây văng dài nhất ở bán lục địa Ấn Độ, với nhịp cầu chính dài 457,2 m (1.500 foot) và tổng chiều dài 823 m (2.700 foot).
- Cầu Penang ở Malaysia là cầu dài nhất Đông Nam Á, với nhịp dài nhất là 225m. Hiện đang được nâng cấp.
- Cầu Vasco da Gama ở Lisbon, Bồ Đào Nha là cầu dài nhất châu Âu, với tổng chiều dài 17,2 km (10,7 dặm), bao gồm 0,829 km (0,5 dặm) của cầu chính, 11,5 km (7,1 dặm) cầu cạn, và 4,8 km (3,0 dặm) đường nối dài.
- Cầu Rio-Antirio: với tổng chiều dài 2880 m và 4 tháp, là cầu có sàn được treo bằng cáp dài thứ hai (dài 2258 m) thế giới, bắc qua Vịnh Corinth gần Patra, Hy Lạp.
- Cầu Tatara: là cầu dây văng có nhịp lớn nhất 890 m (2.920 foot), một phần của một loạt cầu nối Honshū và Shikoku ở Nhật Bản.
- Cầu cạn Millau là cầu có trụ cao nhất thế giới, cao 341m (1.118 foot) và phần đường cao 270m (886 foot), bắc qua sông Tarn ở Pháp. Với tổng chiều dài 2460 m và 7 tháp cầu, nó cũng là cầu có sàn được treo bằng cáp dài nhất thế giới.
- Cầu Kap Shui Mun: cầu mang cả đường bộ và đường ray, với nhịp chính dài 430m và tổng chiều dài 1323m, nối Ma Wan và đảo Lantau ở Hồng Kông trong một phần của Lantau Link phục vụ Sân bay quốc tế Hồng Kông.
- Skybridge: the world's longest transit-only bridge, spanning the Fraser River between New Westminster and Surrey, BC, Canada.
- Cầu Zakim Bunker Hill: cầu dây văng rộng nhất thế giới; gồm 10 làn xe của xa lộ liên bang 93 bắc quasông Charles ,Boston, Massachusetts.
- Cầu Surgut: là cầu dây văng một trụ tháp dài nhất thế giới, vượt sông Ob ở Siberia.
- Arthur Ravenel, Jr. Bridge: cầu dây văng dài nhất ở Tây Bán cầu, bắc qua sông Cooper ở Charleston, South Carolina.
- Cầu Sundial: an award-winning single spar pedestrian bridge spanning the Sacramento River in Redding, California.
- Cầu Ting Kau: Cầu dây văng lớn có 4 nhịp đầu tiên trên thế giới (3 trụ tháp), tạo thành một phần của hệ thống đường bộ nối Sân bay quốc tế Hồng Kông với các khu vực khác của Hồng Kông, Trung Quốc.
- Cầu Oresund, Một cầu kết hợp đường bộ và đường ray với một nhịp chính dài 490m và tổng chiều dài 7,85 km, vượt qua eo biển Oresund giữa Malmö, Thụy Điển và Vùng thủ đô Đan Mạch.
- Cầu Centennial: một cầu cho xe cộ 6 làn xe bắc qua Kênh đào Panama với chiều dài tổng cộng 1,05km (3.451 ft).
- Cầu Sunshine Skyway: Cầu dài nhất thế giới với một nhịp chính dây văng. Cầu Oresund trông giống cầu này hơn ngắn hơn nhưng có nhịp chính dài hơn.
- Nový Most: Cây cầu dây văng loại đơn trụ dài nhất thế giới với một mặt phẳng dây cáp (các dây cáp nằm trên một mặt phẳng cắt qua chính giữa cầu). Nó bắc qua sông Danube ở thủ đô Bratislava, Slovakia. Nhịp cầu chính dài 303mét, và tổng chiều dài là 430.8mét. Chủ yếu chỉ có thành viên của liên đoàn Great Towers thế giớiWorld Federation of Great Towers mới được sử dụng cây cầu. Trên đỉnh cột trụ có một quán ăn hình chiếc đĩa ở độ cao 85 mét
- Cầu đường sắt mới: cây cầu dây văng đầu tiên sử dụng hệ thống dầm của ngành công nghiệp đường sắt, nối liền hai bờ sông Sava ở Belgrade.
- Bandra Worli Sea-Link: The new 8-lane twin carriageway cable-stayed bridge of the sea-link project and the West Island Freeway system, under construction, connects Greater Mumbai, India to the western suburbs.
Từ khóa » Dây Văng Là Cái Gì
-
Cầu Dây Văng Là Gì Và Những điều Bạn Cần Biết
-
Từ Văng Trong Thuật Ngữ Cầu Dây Văng Có Nghĩa Là Gì?
-
Cầu Dây Văng Về Kết Cấu Có Gì đặc Biệt? - - Hỏi đáp & Tư Vấn
-
Cầu Dây Văng – Wikipedia Tiếng Việt
-
Từ điển Tiếng Việt "dây Văng" - Là Gì?
-
Cầu Dây Văng ở Việt Nam - Thân Tri
-
Khí Động Cầu Dây Văng - Tư Vấn Kết Cấu, BTCT, Thi Công Xây Dựng
-
KC Cầu Dây Văng - Tư Vấn Kết Cấu, BTCT, Thi Công Xây Dựng
-
Câu Hỏi Cầu Dây Văng - Tài Liệu Text - 123doc
-
ĐÀO HIẾU – Cầu Dây Văng |
-
Đi Văng Là Gì? Phân Biệt Ghế đi Văng Và Sofa
-
Cầu Dây Văng Việt Nam đẹp Huyền ảo Về đêm - TravelMag
-
CẦU DÂY VĂNG Tiếng Anh Là Gì - Trong Tiếng Anh Dịch - Tr-ex
-
Những Cây Cầu Dây Văng đẹp Nhất.
-
Cầu Dây Võng Và Cầu Dây Văng - Nguoi Viet Online
-
Đâu Là Cây Cầu Dây Văng đầu Tiên ở Việt Nam?-Du Lịch - 24H