Sự Quy Kết (Attribution) - Câu Lạc Bộ Sinh Viên Tâm Lý

Trong tâm lý học xã hội, sự quy kết (Attribution) là một quá trình suy luận tìm ra những nguyên nhân của các sự kiện hay hành vi. Trong cuộc sống thực tế, tất cả chúng ta đều thực hiện sự quy kết này hằng ngày, mà thường không có sự ý thức nào về những quá trình hay thành kiến cơ bản ẩn sau nó, cái đã dẫn dắt ta đi đến những suy luận của chính mình.

Ví dụ, trong suốt diễn biến của một ngày bình thường, bạn chắc chắn đã thực hiện rất nhiều quá trình quy kết về các hành vi của chính bản thân cũng như của những người xung quanh bạn.

Khi bạn bị điểm kém trong một bài kiểm tra, bạn có thể sẽ đổ lỗi cho giáo viên vì không giải thích đầy đủ kiến thức, hoàn toàn gạt bỏ sự thật rằng bạn đã không học bài. Khi một bạn trong lớp đạt điểm tốt cũng với bài kiểm tra tương tự đó, thì bạn lại quy kết rằng thành tích tốt của cậu ta là do may mắn, phớt lờ đi sự thật là cậu ta có thói quen học tập xuất sắc rồi.

Tại sao đôi lúc ta lại có sự quy kết nội tại (internal attributions) với sự vật, sự việc này nhưng đôi lúc lại có sự quy kết ngoại cảnh (external attributions) đối với sự vật, sự việc khác? Một phần của vấn đề này có liên quan đến loại quy kết chúng ta có xu hướng dùng trong một tình huống cụ thể. Những thành kiến nhận thức (Cognitive biases) cũng thường giữ vai trò lớn trong vấn đề này. Những sự quy kết về hành vi thực sự có tác động gì đối với cuộc sống của bạn? Những quy kết bạn thực hiện mỗi ngày đều có ảnh hưởng quan trọng đến cảm xúc cũng như cách bạn nghĩ và cảm thông với người khác.

Các loại quy kết
  • Sự quy kết liên cá nhân (Interpersonal Attribution): Khi kể một câu chuyện cho một nhóm bạn hay người quen, bạn có khuynh hướng kể câu chuyện theo cách đặt bản thân bạn trong điều kiện có lợi nhất (theo hướng làm bản thân nổi bật hoặc phần có lý về phía mình).
  • Sự quy kết dự đoán (Predictive Attribution): Chúng  ta cũng có xu hướng quy kết sự việc theo hướng cho phép chúng ta tạo ra những dự đoán về tương lai. Nếu chiếc hơi của bạn bị phá hoại, bạn có thể sẽ quy kết tội đó cho việc bạn đậu xe ở một ga-ra cụ thể. Dẫn đến kết quả là bạn sẽ tránh xa ga-ra đó để tránh bị phá hoại xe trong tương lai.
  • Sự quy kết giải thích (Explanatory Attribution): Chúng ta sử dụng quy kết giải thích để hiểu rõ về thế giới xung quanh chúng ta. Một số người có phong cách giải thích lạc quan, trong khi những người khác lại có xu hướng bi quan hơn. Những người theo kiểu lạc quan sẽ quy kết những sự kiện tích cực cho những nguyên nhân ổn định, nội tại và toàn thể (ví dụ, thấy một người làm từ thiện ta sẽ lập tức cho rằng họ là người tốt), và những sự kiện tiêu cực xảy ra là do những nguyên nhân ngoại cảnh, cụ thể và không ổn định (ví dụ, tôi đi học trễ là do kẹt xe (mặc dù tôi đã có ngủ nướng một chút nhưng tôi phớt lờ sự thật đó) – người dịch). Còn những người với kiểu bi quan sẽ quy kết những sự kiện tiêu cực cho những nguyên nhân về nội tại, ổn định và toàn thể (ví dụ, nhỏ bạn tôi đạt điểm kém là do nó học dở),  và quy kết những sự kiện tích cực cho nguyên nhân ngoại cảnh, ổn định và cụ thể (ví dụ, ta cho rằng diễn viên A nổi tiếng là do gia thế khủng, do may mắn).
Các thuyết về sự quy kết

Các nhà tâm lý học đã đưa ra một số thuyết khác nhau để giúp hiểu rõ hơn quá trình quy kết hoạt động như thế nào.

Thuyết “Lí lẽ thường thức” (Common Sense) của Heider:

Trong cuốn sách năm 1958 của ông “Tâm lý học về các mối quan hệ liên cá nhân” (The Psychology of Interpersonal Relations), Fritz Heider cho rằng con người quan sát người khác, phân tích hành vi của họ và nghĩ ra những lời giải thích theo lý lẽ thường thức (common sense) của riêng bản thân mình để lý giải cho những hành động đó. Heider nhóm những giải thích này thành sự quy kết nội tại hoặc sự quy kết ngoại cảnh. Quy kết ngoại cảnh là những giải thích đổ lỗi cho những tác động bên ngoài, trong khi quy kết nội tại đổ lỗi cho tính cách và đặc điểm cá nhân.

Thuyết suy luận tương ứng (Correspondent Inference Theory):

Năm 1965, Edward Jones và Keith Davis cho rằng con người suy luận về hành động của người khác trong những trường hợp mà hành động đó là cố tình hơn là vô ý.

Khi con người thấy người khác hành động theo một cách cụ thể nào đó, họ sẽ tìm kiếm sự tương ứng giữa động cơ và hành vi của người đó. Khi đó, những suy luận mà họ đưa ra sẽ được dựa vào mức độ người đó được lựa chọn hành vi, sự lường trước/mong đợi hành vi, và các ảnh hưởng của hành vi đó.

Các lỗi và thành kiến trong quy kết 
  • Thành kiến có lợi cho bản thân (Self-Serving Bias)

Hãy nghĩ về lần cuối cùng bạn đạt điểm tốt trong một bài kiểm tra tâm lý. Nhiều khả năng bạn sẽ quy kết rằng thành tựu của bạn là do yếu tố nội tại như “Tôi làm bài tốt vì tôi thông minh” hay “tôi làm tốt vì tôi đã học bài và chuẩn bị bài kỹ lưỡng”, đây là những giải thích thông thường bạn sử dụng để hợp lý hoá cho thành tích của mình.

Và chuyện gì sẽ xảy ra khi bạn nhận được điểm xấu? Các nhà tâm lý học xã hội thấy rằng trong trường hợp này bạn có khuynh hướng quy kết thất bại của mình cho yếu tố bên ngoài. “Tôi trượt vì giáo viên cho những câu hỏi có ‘bẫy’” hay “phòng học nóng quá khiến tôi không tập trung được”, là ví dụ cho những cái cớ học sinh hay dùng để giải thích cho bài làm không tốt của mình.

Hãy để ý rằng cả hai loại giải thích này đều đổ lỗi cho những tác động bên ngoài hơn là chấp nhận trách nhiệm cá nhân.

Các nhà tâm lý quy hiện tượng này cho cái gọi là thành kiến có lợi cho bản thân. Vậy tại sao chúng ta lại quy kết thành công của mình nhờ vào bản chất cá nhân và đổ lỗi cho những biến cố ngoại tại gây nên thất bại của mình? Các nhà nghiên cứu tin rằng việc đổ lỗi cho yếu tố ngoại cảnh về những thất bại và sự thất vọng giúp chúng ta bảo vệ lòng tự trọng (self-esteem) của chính mình.

  • Lỗi quy kết cho bản chất (The Fundamental Attribution Error)

Khi chuyện gì đó xảy đến với người khác, chúng ta có xu hướng quy kết cho những yếu tố nội tại như đặc điểm tính cách mà phớt lờ hoặc đánh giá thấp những biến cố ngoại tại. Hiện tượng này có xu hướng lan rộng, đặc biệt đối với những nền văn hóa mang chủ nghĩa cá nhân (individualistic cultures). Các nhà tâm lý học gọi tên xu hướng này là lỗi quy kết căn bản; mặc dù những yếu tố hoàn cảnh rất có khả năng hiện diện, nhưng chúng ta vẫn tự động quy kết nguyên nhân là do đặc điểm nội tại.

Lỗi quy kết do bản chất giải thích tại sao con người đổ lỗi cho người khác vì những điều mà người đó thường không thể kiểm soát được. Cụm từ đổ lỗi cho nạn nhân (blaming the victim) thường được sử dụng bởi những nhà tâm lý học xã hội để mô tả một hiện tượng mà người ta đổ lỗi cho những nạn nhân vô tội của những tội ác về số phận không may mắn của họ.

Trong những trường hợp như vậy, người ta có thể buộc tội những nạn nhân vì thất bại trong việc bảo vệ bản thân khỏi tình huống đó do đã hành xử theo một cách nào đó hoặc do không thực hiện những bước phòng ngừa cụ thể để tránh khỏi những tình huống đó.

Ví dụ cho điều này bao gồm việc buộc tội những nạn nhân bị cưỡng bức, người sống sót qua bạo lực gia đình và nạn nhân bị bắt cóc vì phong thái hành xử của họ bằng một cách nào đó đã kích thích kẻ tấn công. Các nhà nghiên cứu cho rằng thành kiến nhận thức muộn (hindsight bias) khiến cho người ta tin lầm rằng đáng lẽ những nạn nhận phải lường trước được những sự kiện sẽ xảy ra và vì thế sẽ có biện pháp để ngăn ngừa.

  • Thành kiến người quan sát – người hành động (The Actor-Observer Bias)

Điều thú vị là khi nói đến việc giải thích hành vi của chính mình, chúng ta có xu hướng có thành kiến đối lập với lỗi quy kết ở bản chất. Khi có điều gì xảy ra, chúng ta thường quy cho tác động bên ngoài hơn là đặc điểm tính cách. Trong tâm lý học, xu hướng này được biết đến là thành kiến người quan sát- người hành động.

Chúng ta có thể giải thích xu hướng này như thế nào? Một lí do khả dĩ đơn giản là vì chúng ta có nhiều thông tin về tình huống của bản thân hơn là về người khác. Khi đến lúc giải thích hành động của bản thân, bạn có nhiều thông tin hơn về bản thân mình và những sự thay đổi của hoàn cảnh lúc đấy. Khi bạn cố gắng giải thích về hành vi của người khác, bạn sẽ có một chút bất lợi; vì bạn chỉ có những thông tin dễ dàng quan sát được.

Không ngạc nhiên gì khi người ta ít có khả năng trở thành nạn nhân của thành kiến này đối với những người họ biết rõ. Vì bạn biết nhiều về tính cách và hành vi của những người thân cận, thì bạn có thể dễ dàng đứng trên quan điểm của họ và nhận thức rõ ràng hơn những nguyên nhân ngoại cảnh có thể ảnh hướng đến hành vi của họ.

Tài liệu tham khảo của bài viết gốc:

Goldinger, S. D., Kleider, H.M, Azuma, T., & Beike, D.R. (2003). “Blaming the victim” under memory load. Psychological Science, 3, 53-61.

Jaspars, J., Fincham, F.D., & Hewstone, M. (1983). Attribution Theory and Research: Conceptual Developmental and Social Dimensions. Academic Press.

Jones, E.E. & Nisbett, R.E. (1971). The Actor and the Observer: Divergent Perceptions of the Causes of Behavior. New York: General Learning Press.

Nguồn: Attribution and How We Explain Behavior

https://www.verywellmind.com/attribution-social-psychology-2795898

Người dịch: Nguyễn Hoàng Diệu

Người biên tập: Trần Bích Hằng, Trần Thị Thu Hằng

Hình ảnh: Trần Thị Thu Hằng.

Chia sẻ:

  • X
  • Facebook
Thích Đang tải...

Có liên quan

Từ khóa » Thuyết Quy Kết Là Gì