Tâm Thư Thông Bạch Suy Tôn Tổ Sư Tịnh Độ Tông Việt Nam
Có thể bạn quan tâm
- Home
- Tìm kiếm
- Giới thiệu
- Tìm kiếm
- Rss Feeds
- Lịch Sử Chùa Khai Nguyên
- Lịch Sử Chùa Tản Viên Sơn Quốc Tự
- Ứng dụng Chùa Khai Nguyên cho điện thoại di động thông minh
- Thông bạch về việc xây dựng bảo tháp Báo Ân chùa Khai Nguyên
- Tin Tức
- Thông Bạch
- Sự kiện tổng hợp
- Tịnh Tông Học Hội Việt Nam
- Từ Thiện
- Khóa tu
- Lịch tổ chức khóa tu sinh viên
- Club Hương Từ Bi
- Những Câu Chuyện Nhân Quả
- Tài liệu
- Ấn tống kinh sách
- Pháp Môn Niệm Phật
- Lời Khai Thị
- Hoà Thượng Thích Thiền Tâm
- Hoà Thượng Thích Trí Tịnh
- Hoà Thượng Thích Tịnh Không
- Pháp Ngữ
- Tịnh Độ Đại Kinh Khoa Chú giảng lần thứ 4 năm 2014
- Pháp Ngữ
- Kinh tạng
- Luật tạng
- Luận tạng
- Đức Phật của tôi
- Liên Tông Sơ Tổ
- Lời Khai thị của Tổ Sư Tịnh Độ Tông
- Lịch sử Phật Giáo
- Văn Tư Tu
- Bước đầu học Phật
- Gương Vãng Sanh
- Pháp Bảo
- Hình ảnh
- Hình Phật và Bồ Tát
- Liên Tông Chư Tổ Tịnh Độ Tông
- Phật Giáo & Đời Sống
- Giáo dục đạo đức nhân quả
- Lời Phật Dạy
- Danh Tăng
- Những lá thư gửi cha mẹ
- Bài Hát Phật Giáo
- Ẩm thực chay
- Phật Đản
- Thay đổi số mệnh
- Phật Học Căn Bản
- Vong Linh Thai Nhi Vô Tội
- Học Chữ Hán
- Phật Giáo quốc tế
- Phật Giáo trong nước
- Phật Giáo và đời sống
- Tịnh Tông
- Pháp Môn Niệm Phật
- Gương Vãng Sanh
- Liên Tông Sơ Tổ
- Pháp Ngữ
- Hoà Thượng Thích Thiền Tâm
- Hoà Thượng Thích Trí Tịnh
- Hoà Thượng Thích Tịnh Không
- Tịnh Độ Đại Kinh Khoa Chú giảng lần thứ 4 năm 2014
- Lời Khai thị của Tổ Sư Tịnh Độ Tông
- Lời Khai Thị
- Đức Phật của tôi
- Lịch sử Phật Giáo
- Văn Tư Tu
- Bước đầu học Phật
- Pháp Môn Niệm Phật
- Pháp Âm
- Nhạc Phật Giáo
- Danh sách chủ đề bài giảng mp3
- Danh sách Video bài giảng
- Video Pháp Âm
- Video Phật Pháp Nhiệm Màu
- Video Thời Khoá Tụng Kinh
- Video Nhạc Phật Giáo
- Video Tụng Kinh
- Video Nhạc Niệm Phật
- Video Học Đạo Đức
- Video Giảng Kinh
- Video Vấn Đáp Phật Pháp
- Video Giảng Luận
- Video Giảng Pháp
- Video TIN PHẬT SỰ ONLINE
- Pháp Âm Tịnh Độ
- File nén Thẻ Nhớ 2993 bài sử dụng thẻ 32G
- File Thẻ 2G Khuyên Người Niệm Phật.7z
- File NiemPhatVangSanh-GiangKinhDiaTang.7z
- Videos Pháp Âm
- Videos Pháp Âm
- Pháp âm HD
- Pháp âm Video
- Ấn Quang Đại Sư
- Hòa Thượng Tịnh Không
- Giảng Kinh
- Giảng Kinh Hoa Nghiêm
- Hoa Nghiêm Áo Chỉ
- Tịnh Độ Đại Kinh Giải Diễn Nghĩa
- Giảng Kinh Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm
- Tịnh Độ Đại Kinh Khoa Chú
- Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh
- Kinh Kim Cang Giảng ký
- Kinh Vô Luợng Thọ (1998) Giảng lần thứ 10, 188 tập
- Kinh Vô Lượng Thọ (1994) - HT Tịnh Không chủ giảng
- Pháp Thoại
- Hòa Hài Cứu Vãn Nguy Cơ
- Thái Thượng Cảm Ứng Thiên
- Giảng Kinh
- Hòa thượng Hải Hiền
- Hòa Thượng Tuyên Hóa
- Hòa Thượng Quảng Khâm
- Tịnh Độ Đại Kinh Khoa Chú 2018 – HT Tịnh Không giảng
- Dharma Video
- Nghi Lễ Phật Giáo Tụng Kinh - Trì Chú
- Kênh Pháp Âm Thầy Thích Đạo Thịnh
- Kênh DTTTHH Việt Nam Chùa Khai Nguyên
- Trực tuyến Chùa Khai Nguyên
- Thời Khóa Tụng Kinh
- Kênh Diệu Âm
- Video Nhạc Phật Giáo
- Học Phật Vấn Đáp
- Nhạc Niệm Phật
- Giảng Kinh
- Tụng Kinh
- Giảng Pháp
- Phim Phật Giáo
- Nhạc Phật Giáo
- Nhạc Phật Giáo 2
- Phim Tài Liệu Phật Giáo
- Sách Nói Audio
- Diễn Đọc Kinh
- Trì Tụng Mật chú
- Videos Pháp Âm
- Thư viện ảnh
- Thư Viện Hình Ảnh
- Kinh Sách
- Thỉnh Kinh Sách
- File Truyện Tranh Nhân Quả Ba Đời
- Kinh Bắc Tông
- Sách Tịnh Độ
- Kinh Đại Thừa
- Kinh Do Chùa Hội tập và phiên dịch
- Đại Tạng Kinh
- Đọc Thư Viện Kinh Sách
- Language
- News Video Pháp Âm
- News English
- Taiwan
- 最新消息
- Hindi - भारतीय भाषा
- Trang nhất
- Tin Tức
- Sự kiện tổng hợp
| Hoà Thượng Thích Trí Tịnh: | Hoà Thượng Thích Thiền Tâm: |
| Năm sinh đệ nhất Tổ: 1917 | Năm sinh đệ nhị Tổ: 1924 |
| Năm xuất gia đệ nhất Tổ: 1937 | Năm xuất gia đệ nhị Tổ: 1945 |
| Năm thọ giới Sa Di đệ nhất Tổ: 1941 | Năm thọ giới Sa Di đệ nhị Tổ: 1948 |
| Năm thọ giới Cụ Túc đệ nhất Tổ: 1946 | Năm thọ giới Cụ Túc đệ nhị Tổ: 1950 |
| Năm 1948 Sơ Tổ thành lập Phật học đường Liên Hải | thì Nhị Tổ là Tăng sinh theo học tại Phật học đường này. |
| Năm 1950 Sơ Tổ nhập thất tịnh tu | Năm 1955 - 1964 Nhị Tổ nhập thất tịnh tu. |
| Năm 1951-1956 Sơ Tổ tham gia giảng huấn tại Phật Học Đường Nam Việt | Nhị Tổ là Tăng sinh đứng đầu tại khoá học này. |
| Năm 1953 Sơ Tổ khởi công xây dựng Chùa Vạn Đức | Năm 1967 - 1971 Nhị Tổ khởi công xây dựng Hương Quang Tịnh Thất và Hương Nghiêm Tịnh Viện. |
| Năm 1955 Sơ Tổ sáng lập hội "Cực Lạc Liên Hữu" | Năm 1971 Nhị Tổ cho thành lập đạo tràng "Tịnh Độ Chuyện Tu" trong suốt ba năm. |
| Năm 2014, nhân duyên hoá độ đã viên mãn, đức Sơ Tổ đã thâu thần vãng sinh vào hồi 9h15 phút ngày 28 tháng 2 năm Giáp Ngọ (2014). | Đức Nhị Tổ thì thâu thần thị tịch vào hồi 6h15 phút ngày 21 tháng 11 năm Nhâm Thân (1992). |
- Phó Pháp chủ kiêm Giám luật Hội đồng Chứng minh - Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam- Trưởng Ban Tăng sự Trung ương GHPGVN- Viện chủ Chùa Vạn Đức, quận Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh- Viện chủ Chùa Vạn Linh, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.I. THÂN THẾ: Đại lão Hòa thượng THÍCH TRÍ TỊNH, thế danh Nguyễn Văn Bình, sinh năm Đinh Tỵ (1917), tại làng Mỹ Luông, quận Cái Tàu Thượng, tỉnh Sa Đéc (nay là huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp). Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Cân và thân mẫu là cụ bà Võ Thị Truyện. Đại lão Hòa thượng có 7 anh em, 2 trai, 5 gái và Đại lão Hòa thượng là người con thứ 7 trong gia đình. Đại lão Hòa thượng được trưởng trong một gia đình trung nông, phúc hậu, nhơn từ, có nề nếp đạo đức vững chắc và kính tin Tam bảo. Khi lớn lên, Đại lão Hòa thượng đã mồ côi cả cha lẫn mẹ, sống với các anh chị và học hết chương trình Trung học Pháp tại tỉnh nhà. II. THỜI GIAN XUẤT GIA HỌC ĐẠO: Nhờ đã gieo căn lành từ nhiều kiếp, sớm giác ngộ cõi đời là huyễn, thế sự phù du, nên sau một thời gian đi chiêm bái khắp chốn Thiền môn trong tỉnh. Năm 1937, Đại lão Hòa thượng lên núi Cấm, đến chùa Vạn Linh, cầu xin Hòa thượng Trụ trì Pháp húy Hồng Xứng cầu thế độ xuất gia, khi trông thấy Hòa thượng, Tổ liền ấn chứng: "Các ông đừng khinh ông này, đời trước ổng đã từng làm Hòa thượng…”. Sau khi được Tổ cho phép xuất gia, ban Pháp húy là Nhựt Bình, hiệu Thiện Chánh tiếp nối dòng pháp Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 41. Sau khi xuất gia, Đại lão Hòa thượng đã đi tham học Phật pháp với chư sơn Thiền đức ở trong và ngoài tỉnh, và lần lượt nghiên cứu tài liệu Phật học in trong Tạp chí Từ Bi Âm, do Hội Nam Kỳ nghiên cứu Phật học, chùa Linh Sơn - Sài gòn ấn hành và tham học tại chùa Bích Liên, Liên Tôn – Bình Định. Năm 1940, Đại lão Hòa thượng cùng với quý Hòa thượng Thích Thiện Hòa, Thích Thiện Hoa tiếp tục ra Huế học. Trước tiên, Đại lão Hòa thượng theo học Lớp Trung đẳng tại Phật học đường Tây Thiên, do Ngài Thiền Tôn làm Giám đốc. Sau đó học lớp Cao đẳng tại Phật học đường Báo Quốc, do Ngài Tường Vân làm Giám đốc, Hòa thượng Thích Trí Độ là Đốc giáo. Năm 1941, Đại lão Hòa thượng đăng đàn thọ Sa di giới tại chùa Quốc Ân và được Sư cụ Trí Độ đặt cho Pháp hiệu là Trí Tịnh. Sau khi mãn khóa Cao đẳng Phật học năm 1945, Đại lão Hòa thượng trở về miền Nam để tiếp tục tu học và hành đạo. III. THỜI GIAN HÀNH ĐẠO: Năm 1945, Đại lão Hòa thượng đã cùng với Hòa thượng Thích Thiện Hoa, thành lập Phật học đường Phật Quang, Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Vĩnh Long), do Hòa thượng Thích Thiện Hoa làm Giám đốc, Hòa thượng làm Đốc giáo kiêm Giáo thọ. Để viên mãn tam đàn Giới Pháp, năm 1946, Đại lão Hòa thượng được đăng đàn thọ Tỳ kheo và Bồ tát Giới tại chùa Long An, Sa Đéc, do Hòa thượng Chánh Quả làm Đàn đầu Hòa thượng. Năm 1948, Đại lão Hòa thượng về Sài gòn và thành lập Phật học đường Liên Hải, tại chùa Vạn Phuớc, xã Bình Trị Đông, huyện Long Hưng Thượng, tỉnh Chợ Lớn (nay là huyện Bình Chánh, Tp. Hồ Chí Minh), do Hòa thượng làm Giám đốc, Hòa thượng Thích Huyền Dung làm Đốc giáo. Năm 1950, Đại lão Hòa thượng nhập thất tịnh tu tại chùa Linh Sơn - Vũng Tàu. Năm 1951, Đại lão Hòa thượng cùng Hòa thượng Thích Thiện Hòa sáp nhập 03 Phật học đường Liên Hải, Mai Sơn, Sùng Đức thành Phật học đường Nam Việt, trụ sở đặt tại chùa Ấn Quang, quận 10, tỉnh Chợ Lớn (nay là quận 10, Tp. Hồ Chí Minh). Từ năm 1951 - 1956, Đại lão Hòa thượng tham gia Ban Giảng huấn và giảng dạy cho Lớp Cao Đẳng Phật học. Năm 1953, Đại lão Hòa thượng khởi công xây dựng chùa Vạn Đức, Thủ Đức. Năm 1955, Đại lão Hòa thượng sáng kiến thành lập Hội Cực Lạc Liên hữu tại chùa Vạn Đức, quận Thủ Đức do Đại lão Hòa thượng làm Liên trưởng, Thượng tọa Thích Huệ Hưng làm Liên phó. Năm 1957, Đại lão Hòa thượng được Đại hội Giáo hội Tăng già Nam Việt cử làm Trị sự phó và kiêm Trưởng ban Giáo dục Giáo hội Tăng già Nam Việt. Đồng thời, hợp tác với Hòa thượng Thích Thiện Hoa, Hòa thượng Thích Thiện Hòa mở các khóa Như Lai Sứ Giả tại chùa Pháp Hội, chùa Tuyền Lâm, chùa Dược Sư… để đào tạo cán bộ Trụ trì và Giảng sư cho Giáo hội. Năm 1959, trong Đại hội Giáo hội Tăng già toàn quốc Việt Nam kỳ II, vào 02 ngày 10, 11/9/1959 tại chùa Ấn Quang, Đại lão Hòa thượng được Đại hội suy cử làm Trị sự Phó Giáo hội Tăng già toàn quốc Việt Nam. Năm 1960 - 1962, Đại lão Hòa thượng làm Giới Luật sư trong các Đại Giới đàn, tổ chức tại chùa Ấn Quang, Pháp Hội… để truyền trao giới pháp cụ túc cho chư Tăng. Năm 1962, Đại lão Hòa thượng được Giáo hội Phật giáo Trung phần cung thỉnh vào cương vị Phó Viện trưởng Phật học Viện Trung phần Hải Đức - Nha Trang. Năm 1964, Đại lão Hòa thượng làm Trưởng đoàn Đại biểu Giáo hội Tăng già Nam Việt tham dự Đại hội Thống nhất Phật giáo Việt Nam, được tổ chức tại chùa Xá Lợi trong những ngày 30, 31/12/1963 và 01/01/1964 để thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Tại Đại hội này, Đại lão Hòa thượng được suy cử vào cương vị Tổng vụ Trưởng Tổng vụ Tăng sự. Năm 1964, Đại lão Hòa thượng đảm nhiệm cương vị làm Tuyên Luật sư trong Đại Giới đàn Quảng Đức, tổ chức tại Việt Nam Quốc Tự - Sài gòn. Năm 1965, Đại lão Hòa thượng đảm nhiệm cương vị Yết ma Tiểu giới đàn Quảng Đức tại Phật học viện Huệ Nghiêm 0 Gia Định và Tuyên Luật sư Đại Giới đàn Từ Hiếu - Thừa Thiên Huế. Năm 1966, Đại lão Hòa thượng là Tuyên Luật sư Đại Giới đàn Quảng Đức, tại Phật học viện Huệ Nghiêm. Năm 1966 - 1968, tại Đại hội kỳ II Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, Đại lão Hòa thượng được suy cử vào cương vị Chánh Thư ký Viện Tăng Thống. Năm 1968 - 1971, Đại lão Hòa thượng tham gia Ban Giảng huấn Phật học viện Huệ Nghiêm và giảng dạy Phật pháp cho lớp Chuyên khoa Phật học trong ba năm. Năm 1969, Đại lão Hòa thượng đảm nhiệm cương vị Tuyên Luật Sư trong Đại Giới đàn Quảng Đức, tổ chức tại Phật học viện Huệ Nghiêm. Năm 1970, Đại lão Hòa thượng đảm nhiệm cương vị Khoa trưởng Phân Khoa Phật học tại Đại học Vạn Hạnh - Sài gòn đến năm 1975. Năm 1971, sau khi Giáo hội thành lập Viện Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm - Gia Định, Đại lão Hòa thượng được cử làm Viện trưởng từ năm 1971 đến năm 1991. Năm 1973, trong phiên họp của Hội đồng Giáo phẩm Trung ương, Đại lão Hòa thượng được cử làm Thành viên Hội đồng Giáo phẩm Trung ương. Vào ngày 05.7.1973, Đại lão Hòa thượng được cử làm Chủ tịch Hội đồng phiên dịch Tam tạng thuộc Viện Tăng Thống, GHPGVNTN. Cũng trong năm 1973, tại Đại hội Giáo hội Trung ương kỳ 4, Đại lão Hòa thượng được tấn phong Hòa thượng và được suy cử đảm nhiệm cương vị Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Cuối năm 1974, Đại lão Hòa thượng được cố Hòa thượng Thích Thiện Hòa cử làm Cố vấn Hội đồng Quản trị Tổ đình Ấn Quang và các cơ sở trực thuộc Tổ đình. Năm 1975, Đại lão Hòa thượng được Hội đồng Giáo phẩm Trung ương cử làm Trưởng ban Kiến thiết Pháp Bảo Viện tại xã Linh Xuân Thôn, Thủ Đức - Gia Định. Năm 1980, Đại lão Hòa thượng được cử làm Tuyên Luật Sư và Chánh Chủ khảo trong Đại Giới đàn Thiện Hòa, tổ chức tại chùa Ấn Quang. Đặc biệt, vào đầu xuân Canh Thân năm 1980, khi đất nước đã hoàn toàn độc lập, giang sơn nối liền một dãy, Bắc Nam sum họp một nhà, tất cả sự sinh hoạt, từ phương diện kinh tế, chính trị, xã hội… đều thống nhất trong phạm vi cả nước, và đấy cũng là một thuận duyên cho Phật giáo Việt Nam có đầy đủ cơ duyên thống nhứt thành một mối, trong phạm vi cả nước. Do đó, trong phiên họp hiệp thương của chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức, Cư sĩ của các Tổ chức Giáo hội, Hệ phái Phật giáo được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh để thảo luận chương trình thống nhất Phật giáo nước nhà. Kết quả một Ban Vận động Thống nhất Phật giáo ra đời, do Hòa thượng Thích Trí Thủ làm Trưởng ban và Đại lão Hòa thượng được cử làm Phó ban Vận động kiêm Trưởng Tiểu ban Nội dung. Tại Hội nghị Đại biểu Thống nhất Phật giáo Việt Nam, tổ chức tại Thủ đô Hà Nội, từ ngày 04 - 07/11/1981, Đại lão Hòa thượng được Đại hội suy tôn ngôi vị Thành viên Hội đồng Chứng minh, suy cử cương vị Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự kiêm Trưởng Ban Tăng sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Năm 1982, tại Đại hội Đại biểu Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh, nhiệm kỳ I, Đại lão Hòa thượng được cử làm Trưởng Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh đến năm 1987. Năm 1984, sau khi Hòa thượng Trí Thủ - Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN viên tịch vào tháng 4/1984, Đại lão Hòa thượng được suy cử Quyền Chủ tịch Hội đồng Trị sự, rồi Chủ tịch Hội đồng Trị sự nhiệm kỳ II và những nhiệm kỳ tiếp theo cho đến ngày về cõi Phật. Từ năm 1984 đến năm 2013, Đại lão Hòa thượng được cung thỉnh làm Đàn Đầu Hòa thượng Đại Giới đàn đầu tiên và những Giới đàn tiếp theo của Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh được tổ chức tại chùa Ấn Quang. Tại Đại hội Kỳ III - 1992, Đại lão Hòa thượng được Đại hội suy tôn lên ngôi vị Phó Pháp chủ kiêm Giám luật Hội đồng Chứng minh GHPGVN. Năm 2004, Đại lão Hòa thượng đảm nhiệm cương vị Đàn đầu Hòa thượng Đại giới đàn Trí Tấn do Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Bình Dương tổ chức. Đặc biệt, Đại lão Hòa thượng đã được Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Bà Rịa - Vũng Tàu cung thỉnh đảm nhiệm cương vị Hòa thượng Đàn đầu truyền giới Tỳ kheo tại các Đại giới đàn Thiện Hòa I (1993), Thiện Hòa III (2000), Thiện Hòa IV (2003), Thiện Hòa V (2006), Thiện Hòa VII (2013). + BIÊN SOẠN VÀ PHIÊN DỊCH: Mặc dù bận rộn nhiều công việc cho Giáo hội, Đại lão Hòa thượng Hòa thượng vẫn dành thời gian để dịch kinh và giảng kinh. Những tác phẩm Hòa thượng đã biên soạn, phiên dịch và phổ biến như:1. Kinh Pháp Hoa: 07 quyển2. Kinh Hoa Nghiêm: 08 quyển3. Kính Đại Bát Niết Bàn: 02 quyển4. Kinh Đại Bát Nhã: 03 quyển5. Kinh Đại Bảo Tích + Đại Tập: 12 quyển6. Kinh Phổ Hiền hạnh nguyện: 01 quyển7. Kinh Địa Tạng bổn nguyện: 01 quyển8. Kinh Tam Bảo: 01 quyển9. Tỳ kheo giới bổn: 01 quyển10. Bồ Tát giới bổn: 01 quyển11. Kinh Pháp Hoa cương yếu: Tóm tắt12. Kinh Pháp Hoa thông nghĩa: Tóm tắt13. Cực Lạc liên hữu tập: 01 quyển14. Đường về Cực Lạc: Trọn bộ15. Ngộ tánh luận: 01 quyển16. Hương Sen Vạn Đức: 01 quyển. + XÂY DỰNG: Năm 1995, Đại lão Hòa thượng Hòa thượng đã khởi công xây dựng lại chùa Vạn Linh và Tháp Tổ Hồng Xứng - Núi Cấm, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Năm 2000, với tư cách Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN, Đại lão Hòa thượng Hòa thượng đã ký quyết định thông qua dự án và bổ nhiệm Ban Trùng tu cơ sở Văn phòng 2 Trung ương Giáo hội - Thiền viện Quảng Đức, quận 3, Tp. Hồ Chí Minh. Năm 2001, Đại lão Hòa thượng Hòa thượng trùng tu Giảng đường chùa Vạn Đức, Phật đài Quan Âm, Thư viện, Thiền thất, phòng sách v.v… Năm 2002, Đại lão Hòa thượng Hòa thượng là Chủ đầu tư xây dựng lại cơ sở Văn phòng 2 Trung ương Giáo hội - Thiền viện Quảng Đức, quận 3. Năm 2004, Đại lão Hòa thượng khởi công xây dựng lại Chánh điện, Nhà Tổ chùa Vạn Đức với quy mô lớn, trang nghiêm tú lệ, đã thành tựu viên mãn các công việc Phật sự của Ngài. Với những đóng góp to lớn của Hoà Thượng cho Giáo Hội và nhà nước nên Hoà Thượng đã nhận được nhiều Bằng Tuyên dương Công đức của Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng như nhiều phần thưởng cao quý khác của Nhà nước. IV. THỜI GIAN VIÊN TỊCH: Là một trong những cao tăng cống hiến trọn đời cho sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh, Đại lão Hòa thượng đã có những đóng góp to lớn trong công cuộc chấn hưng, thống nhất và hòa hợp Phật giáo, góp phần xây dựng và bảo vệ khối đại đoàn kết dân tộc, phụng sự đất nước. Đại lão Hòa thượng là một bậc Tôn sư khả kính đã có nhiều công lao súc dưỡng và dìu dắt hàng trăm môn đồ đệ tử đã trưởng thành, noi gương từ bi hỷ xả, tự giác giác tha của Hòa thượng để bền vững đạo tâm và trang nghiêm Giáo hội. Ngày nay, khi hạnh nguyện hoằng dương Phật pháp, tế độ chúng sinh của Đại lão Hòa thượng đã viên mãn, thì cũng chính là lúc luật vô thường đưa Đại lão Hòa thượng trở về Tây phương kiến Phật vào lúc 09 giờ 15 phút, ngày 28 tháng 3 năm 2014 (28 tháng 02 năm Giáp Ngọ). Trụ thế 98 năm, hạ lạp 69 năm. Thế là Đại lão Hòa thượng đã viên thành đại nguyện, Giác linh Đại lão Hòa thượng đã trở về thế giới Niết bàn vô tung bất diệt, nhưng công đức và đạo hạnh của Đại lão Hòa thượng sẽ mãi mãi lưu lại trong tâm tư, trong ký ức của hàng Tăng, Ni, phật tử và những người yêu mến đạo Phật; như trang sử rạng ngời của Phật giáo Việt Nam thời hiện đại. Nam Mô Từ Lâm Tế Gia Phổ, Tứ thập nhất thế, Pháp húy thượng Nhựt hạ Bình, tự Trí Tịnh, hiệu Thiện Chánh, Nguyễn công Đại lão Hòa thượng Giác linh.Giáo hội Phật giáo Việt Nam. TIỂU SỬ NHỊ TỔ TỊNH ĐỘ TÔNG VIỆT NAM HOÀ THƯỢNG THÍCH THIỀN TÂM
(1925-1992) Hòa thượng pháp danh Thiền Tâm, pháp hiệu Liên Du, tự Vô Nhất thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 43, thế danh Nguyễn Nhựt Thăng, sinh năm 1925 (Ất Sửu) tại xã Bình Xuân, Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Song thân là cụ Nguyễn Văn Hương và cụ Trần Thị Dung pháp danh Giác Ân. Ngài là người thứ 10 trong số 13 anh em, 4 trai, 9 gái. Xuất thân từ gia đình Nho giáo kính tín Tam Bảo. Sáu tuổi, Ngài đã cắp sách đến trường học quốc ngữ song song với Nho học. Lúc thiếu thời, Ngài đã bộc lộ thiên tư tài hoa văn nhã, bẩm chất cao khiết, và là người con chí hiếu với cha mẹ. Do vì thấy mẹ đau yếu triền miên, năm 12 tuổi, Ngài ra đi tìm thầy học thuốc để mong trị lành bệnh cho mẫu thân. Nhân tạm trú học thuốc tại chùa Vĩnh Tràng - Mỹ Tho, Ngài có dịp nghiên tầm Phật điển và nuôi dần ý chí xuất gia tu học. Năm 18 tuổi, Ngài trở về chăm sóc mẹ đến khi lành mạnh. Sau đó, Ngài khẩn khoản xin phép song đường cho xuất gia, nhưng không được đồng ý. Cuối cùng, Ngài đành phải âm thầm trốn đi (năm Giáp Thân - 1944, lúc 19 tuổi), đến tu tại chùa Sắc Tứ Linh Thứu ở Xoài Hột, và được thế phát xuất gia vào năm Ất Dậu (1945) làm đệ tử của Đại lão Hòa thượng Thành Đạo. Năm 1948, Ngài thọ giới Sa Di và học ở Phật học đường Liên Hải cùng Phật học đường Nam Việt chùa Ấn Quang cho đến năm 1951 để hoàn tất chương trình Trung đẳng Phật học. Thời gian đó, Ngài được thọ Tỳ Kheo giới tại Đại giới đàn Ấn Quang tổ chức năm 1950. Từ năm 1951 đến năm 1954, Ngài hoàn tất chương trình Cao đẳng Phật học tại Phật học đường Nam Việt với các vị đồng khóa như: Hòa thượng Bửu Huệ, Tắc Phước, Tịnh Đức, Đạt Bửu, Tịnh Chơn... và Ngài cùng quý thầy lớp Cao đẳng đã phụ giúp đắc lực cho Hòa thượng Giám đốc Thiện Hòa trong việc điều khiển sinh hoạt đại chúng. Ngài làm Tri chúng, Ngài Bửu Huệ làm Tri sự. Lòng khoan dung, tính hòa nhã điềm đạm của Ngài giúp an chúng và thành tựu mọi Phật sự. Năm 1954, tốt nghiệp lớp Cao đẳng, Ngài xin phép chư Tôn đức trong Ban Giám Đốc lui về nhập thất tịnh tu trong mười năm tại trụ xứ Cái Bè và Vang Quới. Dù nhập thất tinh tấn chuyên tu, song Hòa thượng không xa rời bi nguyện độ sanh. Trong mười năm ấy, Ngài đã phiên dịch các loại kinh sách chuyên hướng xiển dương pháp môn Tịnh độ, như: kinh Quán Vô Lượng Thọ, Tịnh học Tân Lương, Lá thơ Tịnh Độ, Hương quê Cực Lạc, và giảng dạy cho Ni chúng khắp nơi đến thọ học. Năm 1964, Hòa thượng Thiện Hòa mở Trường Trung đẳng Chuyên khoa Phật học tại chùa Huệ Nghiêm, Bình Chánh, Sài Gòn. Ngài và hai vị Thanh Từ, Bửu Huệ được mời giao đảm trách việc giáo dục học Tăng. Song song đó, các Ngài còn phụ trách giảng dạy cho học Ni tại Phật học viện Dược Sư. Ngoài ra, Ngài còn giảng dạy tại Phân khoa Phật học thuộc Viện Đại Học Vạn Hạnh, Sài Gòn. Trong giai đoạn này, Ngài tập trung biên soạn các bộ sách để làm giáo trình kiến thức Phật học Trung Cao như: Phật học Tinh Yếu, Duy Thức học Cương yếu và phiên dịch sách Tịnh Độ Thập Nghi Luận cùng kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni. Năm 1967, Ngài đến Đại Ninh, ấp Phú An, xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, kiến thiết Hương Quang Thất, chuẩn bị cho giai đoạn ẩn tu. Năm 1968, Hòa thượng chính thức về trụ hẳn ở Đại Ninh, lập nên đạo tràng Tịnh độ. Ngài không câu nệ vào việc nhập thất, mà sẵn sàng tiếp hóa chư Tăng Ni Phật tử đến tham vấn học đạo, Ngài còn soạn thuật: Niệm Phật thập yếu, Tây phương nhựt khóa, Tịnh độ pháp nghi và phiên dịch kinh Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni. Năm 1970, Ngài xây dựng Hương Nghiêm Tịnh Viện, biến đạo tràng thành một vùng chuyên tu Tịnh độ, cũng là trung tâm xiển dương pháp môn này ở miền Nam. Tăng Ni tín đồ qui tụ về lập am thất trụ lại tu học rất đông. Danh đức của Ngài được lan truyền rộng và Phật tử đến quy ngưỡng ngày càng nhiều. Đặc biệt, ở Hương Nghiêm Tịnh Viện này tâm Tịnh độ là nguồn cảm hứng để Ngài sáng tác rất nhiều thơ văn đượm chất đạo vị, thanh thoát. Thơ văn liễu ngộ tâm cảnh Cực Lạc của Ngài cảm hóa được không biết bao nhiêu đồ chúng hướng về pháp môn này. Năm 1974, Ngài mở khóa tu học chuyên về pháp môn Tịnh độ trong ba năm, với số Liên chúng 13 vị dưới sự hướng dẫn của Ban Liên Đạo gồm 3 vị: Liên Thủ: Hòa thượng Bửu Huệ, Liên Huấn: Hòa thượng Thiền Tâm, Liên Hạnh: Hòa thượng Bửu Lai. Từ năm 1975, Ngài viễn ly mọi sự nghe thấy bên ngoài, lặng lẽ nhiếp tâm tu niệm gia trì hai pháp môn Mật Tịnh song hành. Suốt một thời gian dài, Ngài kiên trì nhập thất chăm chắm giải quyết việc lớn sanh tử, song Ngài vẫn soạn dịch bộ: “Mấy Điệu Sen Thanh” và “Tam Bảo cảm ứng lục” để lợi lạc nhân sinh khuyến tu Tịnh độ. MỘT SỐ CÂU CHUYỆN VỀ ĐỨC HẠNH VÀ SỰ CẢM HOÁ ĐỘ SINH CỦA HOÀ THƯỢNG KHI ẨN TU Ở ĐẠI NINH: Phú An là một thôn nhỏ, nằm trong Tổng Đại Ninh, thuộc xã Phú Hội, Huyện Đức Trọng, Tỉnh Lâm Đồng (Tuyên Đức - Đà Lạt). Dân số nơi đây vào năm 1968 chỉ có chừng 50 nóc nhà, mà trong đó khoảng 10 nhà là người Kinh (người Việt), số còn lại là người Thượng (dân tộc thiểu số). Đa số nhà người Kinh thì ở gần bên quốc lộ Đà Lạt - Sài Gòn (tức là quốc lộ số 20), còn nhà sàn của người Thượng thì nằm sâu trong rừng, cách quốc lộ khoảng chừng 3,4 cây số. Thôn này nằm trên bờ sông Đại Ninh, còn gọi là sông Đa Nhim, vì ở thượng nguồn của con sông này trên Đà Lạt, có đập thủy điện cao thế Đa Nhim. Chiều ngang của con sông rộng chừng 300 thước, chảy từ hướng Tây của ấp, qua hướng Nam, Đông Nam của vùng Đại Ninh với một giòng nước ngọt êm đềm, hiền hòa và mang nhiều chất phù sa mầu mỡ đã làm cho đất đai của vùng nầy, từ lâu trở nên vô cùng phong phú… "Hương Quang tịnh Thất" là nơi của cố Hòa thượng Thích Thiền Tâm ẩn tu không nằm sát ngoài quốc lộ như đa số nhà của các người Kinh khác trong thôn, mà lại là nằm sâu bên trong, sát với khu vực của người Thượng, cho nên muốn vào đến chỗ trú xứ của Ngài thì phải đi bộ một khoảng đường rất xa, mất gần cả giờ đồng hồ mới tới. Vùng Phú An này vào thời gian năm 1968, đặc biệt là chỗ của cố Hòa thượng tịnh tu, vì là nơi rừng núi, ít người lai vãng và có lẽ, cũng vì ở gần sông, suối nên có rất nhiều loại rắn khác nhau.Theo lời Ngài kể lại thì trong gần nửa năm đầu tiên về ẩn tu nơi đây, Ngài gặp nhiều thứ rắn độc khác nhau, to có, trung bình có, nhỏ có. To thì cỡ bằng cột nhà, trung trung thì bằng bắp vế, nhỏ thì bằng bắp chân, cườm tay trở xuống v.v... Có đôi lúc sau khi làm vườn xong, đến khi trở vào Thất thì thấy rắn nó quấn đuôi trên ngạch cửa thòng mình xuống, hả miệng, le lưỡi thở khè khè. Ban đầu thì Ngài cũng có ý sơ, chần chờ không dám bước qua, nhưng rồi nghĩ không lẽ đứng ở ngoài sân hoài, hay là dùng cây đập đuổi thì gây thù oán khó lòng. Thôi thì cứ niệm Phật mà bước ngang qua đại, rủi có bị nó cắn chết thì mình cũng quy Tây, càng tốt chớ sao. Rồi Ngài nhiếp tâm niệm Phật và nghĩ đến phép "từ bi quán" đoạn nhắm mắt, đi ngang qua cửa. Con rắn "đánh đu mình qua bên nầy, bên kia phạm vào mắt, vào cổ lạnh ngắt, mà Ngài vẫn cứ làm tỉnh bước đi. Đến khi vào trong Thất xong rồi, mới mở mắt nhìn lại thì nó cũng vừa buông mình ra, rớt xuống đất nghe một cái đụi rồi bò ra ngoài rừng đi mất. Lại có lần khác, sáng sớm thức dậy (để sửa soạn vào khóa lễ). Vừa bước chân xuống "đơn" (tức là cái đi văng nhỏ, bề ngang khoảng 8 tấc, bề dài khoảng 2 thước rưỡi của người tu) thì Ngài có cảm giác như là đạp trúng phải vật gì tròn tròn và mềm mềm. Ngó xuống, té ra đó là một con rắn hổ đen thui, to bằng bấp chân đang nằm khoanh một đống ở dưới chân giường! Ngài nghĩ: Cha chả, mình đạp trúng nó một cái mạnh như vậy, chắc nó cắn mình quá. Liền niệm A Di Đà Phật năm bảy câu rồi đứng chết trân tại chỗ chớ không dám nhúc nhích. Còn con rắn kia dù bị Ngài đạp trúng mà nó cũng không có phản ứng gì hung hăng hết, y từ từ cất đầu lên. nhìn Ngài một hồi rồi le cái lưỡi đỏ lòm ra khè khè mấy cái đoạn nằm im trở lại. Lúc đó Ngài mới dám bước đi, vừa mở cửa ra vừa niệm Phật mà bảo với y ta rằng: Thôi sáng rồi, đạo hữu cũng nên về đi để cho Thầy còn niệm Phật nữa. Tưởng đâu nói khơi khơi vậy rồi thôi, không dè y ta dường như biết nghe nên y mới từ từ bung mình ra dài cả mấy thước, chầm chậm bò đến cửa một cách êm ái hòa bình, rồi ra ngoài rừng mất dạng. Thêm một lần khác, đêm đó Ngài niệm Phật và trì chú Đại bi đến khuya mới xong, vừa bước một chân xuống cầu thang thì đạp phải lên một đống gì đó đen thui, to tướng, Ngài biết, chắc là rắn (quen với mấy người quá xá rồi!) nhưng cũng làm tỉnh niệm A Di Đà Phật một hồi, đoạn bước đến bàn viết, vặn đèn lên cho tỏ để xem thì thấy một con rắn quá to (không biết làm sao mà nó lọt vào nhà được, trong khi cửa nẻo đã đóng kín rồi - sau này mới biết chúng nó là các loại rắn thần) đang cuộn tròn một đống bên cạnh đôi dép của mình. Nó nhìn Ngài, Ngài nhìn nó. Hai bên làm thinh ngó nhau một chặp, Ngài vừa niệm Phật vừa hỏi, có phải đạo hữu vào đây để nghe Kinh, nghe niệm Phật không? Nếu phải vậy thì gật đầu ba cái cho Thầy biết đi. Rắn ta liền gật đầu 3 cái. Cố Hòa thượng biết rằng đây là loại rắn linh cũng ưa tu niệm chớ không có ý gì muốn làm hại mình. Cũng như các lần trước, Ngài mở cửa ra bảo thôi đạo hữu hãy về đi, và y ta nhìn Ngài với ánh mắt hiền lành rồi từ từ bò ra ngoài đi mất. Từ đó trở đi, mỗi lần làm vườn hay tình cờ gặp phải các "người bạn dài thòn", thấy dễ sợ này thì Ngài niệm Phật cho nó nghe một hồi, rồi mạnh đường ai nấy đi, việc ai nấy làm chớ không có xảy ra chuyện gì khác lạ cả.Biết vùng này có nhiều loại rắn linh mến mộ tu hành như vậy, nên Ngài mới làm pháp "Du già thí thực", hồi hướng công đức tu niệm của mình để bố thí đến cho loài rắn và nói rằng: (nói khơi khơi một mình nhưng dùng tâm tưởng và tác ý cho loài rắn được nghe). Vì khác loài nhau, nên từ nay nếu như quý vị muốn nghe Kinh chú và niệm Phật. v.v... để tu theo thì cứ ở ngoài sân chớ đừng có vào trong Thất của Thầy nữa. Sau vài lần "truyền lịnh" như thế rồi thì từ đó về sau tuyệt nhiên không còn có một con rắn nào vào trong cốc nữa. Nơi miền rừng núi cao nguyên này thường thì có rất nhiều gò mối lớn đặc biệt của miền sơn cước. Chính chỗ Thất mà Ngài đang ở (Phương Liên Thất) cũng nằm trên một gò mối lớn. Hầu hết gò mối đều là ổ hang của rắn cả (rắn làm hang trong đó để ăn mối) gò mối càng lớn bao nhiêu thì rắn ở trong đó càng nhiều và càng to bấy nhiêu. Như vừa lược qua căn Tịnh Thất của Ngài ở, Thất được xây cất trên một gò mối lớn (đã được san bằng) vì vậy nên có nghĩa là trên mặt đất thì cố Hòa thượng ở, còn dưới mặt đất là rắn ở. Hòa thượng đã vô tình "sống chung hòa bình" với cả đống rắn độc mà không hay biết chi hết. Sở dĩ các con rắn này nó không làm hại chi đến Ngài là vì cứ mỗi tối, khi Ngài niệm Phật trì chú, hoặc lễ bái, sám hối, tụng Kinh v. v... thì các "y ta" nằm im ở dưới nền nhà, hoặc là bò lên mặt đất, rồi an bình nằm tại chỗ để nghe và tu theo. Đây là lý do vì sao mà khi Ngài mới dọn về - như đã có lược qua trong phần trước - là ở dưới chân giường, cầu thang, bỗng nhiên có rắn xuất hiện, con nào con nấy cũng dài đến cả mấy thước, to bằng bắp vế, nằm một đống đen thui trong cốc mà Ngài không hiểu vì sao nó lại vào Thất được, trong khi Ngài đã đóng cửa nẻo kỹ lưỡng hết rồi. Nhờ tu theo bằng cách "dựa hơi" Hòa thượng "các ông dài" này dần dần trở nên linh thông biến hóa được. Do vì thầm cảm cái ơn trọng đại đó, cho nên các "Y ta" kính lễ cố Hòa thượng như bậc cha, Thầy, còn các "Y ta" thì giữ bổn phận của con, cháu hay đệ tử. Vì thế nên từ đó về sau các loài rắn này trở nên hiền hòa - chẳng những nó không làm cho Ngài bực bội hay gây thương tổn chi, mà trái lại còn âm thầm theo bảo vệ cho "Sư Phụ" nữa. Sau đây là một vài chuyện liên hệ mà khi còn sanh tiền, cố Hòa thượng đã tự thân kể lại cho Ni sư Thanh Nguyệt và cháu là Đại Đức Thích Hải Quang nghe: Có lần, cố Hòa thượng đang ngồi làm cỏ tranh và xới đất bên cạnh một gò mối lớn ở phía sau Thất (Phương Liên) của Ngài, lúc Ngài quơ tay ra sau lưng để cầm cuốc thì Ngài lấy làm lạ mà nói trong bụng rằng: Ủa, sao bữa nay cái cán cuốc có vẻ là lạ và bự quá vậy? Ngài quay đầu ngó lại, thì té ra là mình đang nắm nhằm cần cổ của một con rắn to bằng bắp chân người lớn, màu đen có sọc vàng. Rắn ta vì bị nắm cổ nên hả miệng, le lưỡi ra khè khè năm sáu tiếng làm cho Ngài hết hồn vội vã buông tay ra và bước lùi lại phía sau, niệm Phật cả mấy chục câu rồi mới định thần được. Xong rồi, Ngài đứng ngó y ta một lúc và nói rằng: Ủa nhà ngươi ở đâu mà ra đây, nằm sau lưng ta hồi nào vậy? Thôi hãy đi đi, Ngài lấy tay xua, khởi ý đuổi đi. Rắn ta cũng ngó Ngài một hồi, gật đầu mấy cái (giống như xin lỗi) rồi bò ra phía sau gò mối. Ngài đứng ngó theo xem nó bò đi đâu cho biết, nhưng chờ hoài mà vẫn không thấy tăm hơi gì hết, mới nghĩ: Ủa, bộ nó còn nằm gần đây sao mà không thấy bò đi đâu hết vậy kìa? Ngài đi vòng quanh gò mối tìm kiếm mấy lần mà cũng không thấy y ta đâu hết. Khuya lại, sau thời khoá trì niệm (gần 4 giờ sáng) Ngài đang ngồi trên ghế bên cạnh bàn viết nghỉ mệt, định bụng chút nữa sẽ pha cà phê uống thì nghe bên ngoài có tiếng gõ cửa. Ngài lấy làm lạ, trong bụng nghĩ rằng: Ủa, giờ này còn sớm quá mà sao mấy người Thượng lại tới gõ cửa vậy kìa? (Bởi vì mỗi buổi sáng mấy người Thượng ưa tới gõ cửa Thất của cố Hòa thượng để hỏi việc làm như là cuốc đất, phát cỏ hoang và lên giồng trồng khoai, sắn v.v... Ngài mới đứng lên, đi ra mở cửa thì thấy bên ngoài, trước Thất của Ngài là hai người Thượng một nam, một nữ, tuổi chừng 50, dung mạo rất đơn sơ, mặt mũi sần sùi, da dẻ đen đúa, cả hai đều mặc quần áo màu chàm trông cũng rất sơ sài, đầu hơi nhọn, đi chơn đất (không có dép, giày gì hết), bàn tay nhám nhúa giống như cò vảy, đang chắp tay cúi đầu chào Ngài, miệng niệm Nam Mô A Di Đà Phật. Ngài nghĩ bụng: Ủa, hai người Thượng này ở đâu đến mà thấy lạ mặt, mình ở đây cũng đã lâu rồi mà chưa quen với hai vợ chồng này. Phải hai vị đến xin việc làm hôn? Hai người ấy đáp: Mô Phật, kính bạch Hòa thượng không. Uả, vậy chớ có chuyện gì cần không mà gọi cửa tôi sớm quá vậy? Người đàn ông đáp: Bạch Hòa thượng, hai vợ chồng con đến đây để xin lỗi Hòa thượng về chuyện đáng tiếc ban trưa, có đứa cháu nội đã làm cho Ngài giật mình. Xin Hòa thượng từ bi tha lỗi và cho vợ chồng con sám hối. Cố Hòa thượng lấy làm kỳ, nên Ngài mới hỏi: Cháu nội của hai vị hả, hồi nào, nó bao nhiêu tuổi? Tôi nhớ suốt cả ngày hôm qua có gặp đứa cháu nào đâu? Người đàn bà đáp: Kính bạch Hòa thượng, cháu trai của con là đứa bé hôm qua mặc áo quần đen có sọc vàng nằm hầu phía sau lưng của Ngài lúc Ngài làm vườn đó. Ngài mới hỏi (mà trong bụng cũng chưa nhớ rõ ra là ai, bởi vì đã có đứa nhỏ nào mặc áo quần đen, sọc vàng, theo hầu sau lưng mình suốt ngày hôm qua đâu?) Vậy hả, cháu bé bao nhiêu tuổi? Người đàn bà đáp: Kính bạch bạch Hòa thượng cháu được 95 tuổi. Cố Hòa thượng của chúng ta giật mình, sửng sốt hỏi tiếp: Ủa, cháu nội mà được 95 tuổi thì hai vị đây bao nhiêu tuổi? Người đàn ông đáp: Dạ con được 842 tuổi và vợ của con 760. Đến đây thì Hòa thượng đã biết rõ họ là ai rồi, nên Ngài mới hỏi tiếp: Hai vị ở đâu tới đây? Người đàn ông thưa: Bạch Hòa thượng, chúng con ở Huỳnh Xà Thôn nằm về phía Đông của thôn Phú An này cách nơi đây khoảng 9 cây số, gia đình con có khoảng một ngàn người... Vừa nói tới đây thì người đàn bà nắm lấy tay của ông chồng đập mấy cái như ra hiệu đừng nên nói nữa (chắc sợ bị lộ tông tích) làm cho người chồng mới nói đến câu khoảng một ngàn người... thì làm thinh luôn. Cố Hòa thượng gật đầu nói: Thôi hai vị yên lòng về đi không sao đâu. Nghe Ngài bảo nbư vậy thì hai vợ chồng người này đồng chấp tay cúi chào rồi quay lưng đi vòng ra sau Thất của Ngài. Hòa thượng mới nom theo xem họ đi đâu và làm thế nào cho biết, thì Ngài thấy khi họ ra đến phía sau rồi, cả hai người đồng hóa ra hai luồng ánh sáng màu vàng nhạt lớn bằng cườm tay, bay bổng lên không về hướng Đông đi mất (giống như ông đi, bà xẹt vậy). Do đó nên Ngài biết rằng: Đứa bé 95 tuổi mặc áo đen, sọc vàng là con rắn đen có vằn vàng ngày hôm qua đã làm cho mình hết hồn! Hai vợ chồng này là rắn Chúa (chúa động). Hang ổ chánh của bọn chúng nằm về hướng Đông của ấp Phú An, cách đây 9 cây số có tên là Huỳnh Xà Động" (động rắn vàng). Chắc có lẽ họ mới biết biến hình nên dung mạo còn thô sơ chớ chưa đẹp người. Và hơn nữa chắc mỗi đêm họ ít nhiều gì đó cũng có đến đây nghe Kinh và tu theo mình nên mới có vẻ kính trọng mình và biết chắp tay niêm Phật như vậy... Nguyên gần 10 năm về trước, lúc cố Hòa thượng còn nhập Thất ở Bến Tre. Ngài có quen với một vị tu sĩ tên là "ông Sư Mỏ Cày". Sở dĩ, gọi là ông Sư Mỏ Cày vì vị này tuy có hình tượng một nhà sư Phật giáo, nhưng thật ra là một người đạo sĩ tu tiên, luyện điển theo phương pháp xuất hồn, địa danh (tên của vùng đất) nơi ông Sư này ở tu tên Mỏ Cày, không ai biết được tên thật của ổng là chi hết. Ông Sư này rất kính quý cố Hòa thượng qua phong cách và đạo hạnh của Ngài, nên thỉnh thoảng cũng có đến viếng thăm. Hòa thượng cũng có chỉ dẫn thêm cho Sư một vài pháp tu bổ túc, vì vậy mà Sư có một sự mang ơn ở nơi cố Hòa thượng. Lúc Ngài về Sài gòn và làm Đốc giáo ở Phật học Viện Huệ Nghiêm rồi thì Sư cũng có đến thăm một lần, đến khi cố Hòa thượng lìa Huệ Nghiêm để ẩn tu thì hai đàng biệt nhau. Mãi đến mấy năm sau. Sư mới tìm được lên Đại Ninh (trước sau hai lần) để thăm cố Hòa thượng, và được Hòa thượng cho phép ở lại Thất của Ngài vài ba hôm để đàm đạo giáo lý và tu tập (Sư thọ giáo mật tông từ nơi cố Hòa thượng). Qua đêm đầu tiên, sáng lại, Sư có thưa với cố Hòa thượng rằng Thất của Ngài đang ở tu nằm trên miệng hang của một động rắn "Kim Xà" rất lớn và xin Hòa thượng hãy cẩn thận, vì đây là các loại rắn thần, con nào con nấy cũng sống trên mấy trăm năm hết. Cố Hòa thượng gật đầu, nói với Sư là Ngài đã biết việc đó từ lâu rồi và cũng có kể lại cho Sư nghe về vài ba chuyện của các Kim Xà. Qua ngày kế đó, Sư nằm ngủ và xuất hồn ra đi thăm "xà động" này, khi thức dậy Sư có thưa cùng Ngài như sau: Nguyên từ mặt đất của nền Thất Phương Liên đi thẳng xuống dưới (lòng đất) sâu 800 thước có một động rắn lớn, trong đó có khoảng 200 "ông dài" đều sống từ hơn 100 cho đến gần 1000 tuổi hết. Động này có đường (hầm) thông qua 3, 4 động khác nữa. Chúa tể của tất cả các động rắn này là một đôi Xà Vương (rắn chúa) màu nửa đen, nửa vàng và đều đã được trên một ngàn tuổi rồi. Cặp Xà Vương này hiện đang ở ngay dưới nền Thất của cố Hòa thượng cùng với các con cháu, mỗi đêm đều nghe Ngài niệm Phật trì chú và tu theo, cho nên biết biến hóa và đồng thờ cố Hòa thượng làm Thầy để nương theo tu tập. Những ngày cuối cùng cuộc đời ẩn tu hành đạo, Ngài vương chút thân bệnh, trước đó Ngài đã giao phó mọi việc của Tịnh viện Hương Nghiêm lại cho Tăng đồ quản lý điều hành. Ngài cố gắng khắc phục thân bệnh, nỗ lực dụng công trì danh hiệu Phật. Cho đến khi cảm nhận thời khắc vãng sinh, Ngài bảo đồ chúng vây quanh trợ niệm, rồi đến 9 giờ sáng ngày 21 tháng 11 năm Nhâm Thân (tức ngày 14-2-1992), Ngài an nhiên thoát hóa, vãng sinh hưởng thọ 68 tuổi, hạ lạp 42. Cảm mến đức độ của một bậc danh Tăng lúc sinh thời, các vị tôn túc trong Giáo hội Tỉnh đã cung thỉnh Ngài vào Hội đồng Chứng minh Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Lâm Đồng. Trong cuộc đời hành đạo, Hòa thượng là vị Cao Tăng có công lớn trong việc xiển dương pháp môn Tịnh Độ. Sự nghiệp sáng tác và phiên dịch của Ngài để lại cho hậu thế là một vốn quí làm tư lương tu trì và giúp hàng hậu sinh nhận thức sâu rộng trong giáo pháp. Các tác phẩm của Hòa thượng để lại:• Kinh Quán Vô Lượng Thọ.• Tịnh Học Tân Lương.• Lá thơ Tịnh Độ.• Hương Quê Cực Lạc.• Phật học Tinh yếu.• Duy Thức Học cương yếu.• Tịnh độ Thập nghi luận.• Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni.• Tây phương Nhựt khóa.• Tịnh Độ Pháp Nghi.• Kinh Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni.• Mấy điệu sen thanh.• Tam Bảo Cảm ứng lục.• Niệm Phật Thập yếu. Mọi thông tin xin gửi về Chùa Tản Viên - Tản Viên Sơn Quốc Tự Địa chỉ: Xã Minh Quang, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội Đạo Tràng Tịnh Tông Học Hội Việt Nam - Chùa Khai Nguyên Địa chỉ : Xã Sơn Đông, thị xã Sơn Tây - thành phố Hà Nội Điện thoại: 04 33.610897 – 0167.6707765 Facebook: https://www.facebook.com/tinhtonghochoivietnam https://www.facebook.com/chuatanviencom www.chuatanvien.com – www.chuakhainguyen.com – www.tinhtonghochoi.vn Tags: tâm thư thông bạch suy tôn tổ sư tịnh độ tông việt nam Tổng số điểm của bài viết là: 37 trong 9 đánh giá
Tâm thư thông bạch suy tôn Tổ Sư Tịnh Độ Tông Việt Nam Xếp hạng: 4.1 - 9 phiếu bầu 5 Click để đánh giá bài viếtÝ kiến bạn đọc
Sắp xếp theo bình luận mới Sắp xếp theo bình luận cũ Sắp xếp theo số lượt thíchNhững tin mới hơn
- Chùa Khai Nguyên tổ chức khoá tu lần thứ III cho học sinh & sinh viên (02/06/2014)
- KẾ HOẠCH TỔ CHỨC KHÓA TU HỌC MÙA HÈ và HỘI TRẠI HÈ THẮP SÁNG NIỀM TIN LẦN 2 CHO HỌC SINH SINH VIÊN CHÙA KHAI NGUYÊN 2014. (11/06/2014)
- Danh sách tham dự khoá tu học sinh mùa hè 2014 - Chùa Khai Nguyên (15/06/2014)
- Công tác chuẩn bị khóa tu mùa hè tại chùa Khai Nguyên (18/06/2014)
- Khởi động khoá tu mùa hè 2014 tại Chùa Khai Nguyên (19/06/2014)
- Tưng bừng khai mạc khóa tu mùa hè 2014 tại Chùa Khai Nguyên (21/06/2014)
- Những cảm xúc trong khóa tu mùa hè 2014 (23/06/2014)
- Lắng đọng chia tay khóa tu mùa hè 2014 (25/06/2014)
- Sinh Viên Tham Dự Khóa Tu Mùa Hè 2014 tại Chùa Khai Nguyên (29/06/2014)
- Xây dựng Tam Bảo và các công trình phụ trợ Chùa Khai Nguyên (08/07/2014)
Những tin cũ hơn
- Khóa Tu Một Ngày Tại Chùa Hoa Vân (26/05/2014)
- Quan Điểm của Phật Giáo về Chiến Tranh (24/05/2014)
- Yêu nước bằng trí tuệ và tinh thần hòa bình (24/05/2014)
- Ngày thứ 2 của Pháp hội -Lễ rước Kiệu (10/05/2014)
- Hân Hoan Mừng Đón Vesak Lần Thứ 11 - Suy Tôn Đệ nhất, Đệ Nhị Tổ Sư Tịnh Độ Tông Việt Nam (09/05/2014)
- Chúc Mừng Đại Lễ Phật Đản Năm 2014 Huyện Ba Vì (08/05/2014)
- Đại Lễ Phật Đản- Vesak- PL 2558- DL 2014 tại thị xã Sơn Tây (06/05/2014)
- Hà Nội: Hơn 400 TTN phật tử phía Bắc sôi nổi tham gia thi giáo lý (29/04/2014)
- Long trọng tổ chức hội thi giáo lý dành cho TTN phật tử phía Bắc ! (28/04/2014)
- Thông điệp mừng Phật đản ( Vesak 2014) của Đức Pháp chủ (23/04/2014)
Thống kê truy cập - Đang truy cập88
- Máy chủ tìm kiếm15
- Khách viếng thăm73
- Hôm nay10,794
CHÙA KHAI NGUYÊN
Xây dựng từ : 2010 - 2026, Ban Thông Tin - Truyền Thông Chùa Khai Nguyên.
CÔNG TY TNHH VĂN HÓA PHẨM PHẬT GIÁO TẢN VIÊN
Địa chỉ: Thôn Tây Ninh, Xã Đoài Phương, TP. Hà Nội
Mạng xã hội Chúng tôi trên mạng xã hộiChúng tôi trên mạng xã hội
Trụ Trì
Thượng Tọa Thích Đạo Thịnh
Giới thiệu tiểu sử về Thượng Tọa Thích Đạo Thịnh
Tạo mã Qrcode chia sẻ link web QR-code
Thông tin về Chùa
- https://chuakhainguyen.com/uploads/logo-nho-2020.png N/A
- Chùa Khai Nguyên
- Địa chỉ: Thôn Tây Ninh, Xã Đoài Phương, Thành phố Hà Nội
- Điện thoại: 0986 611 496 - 0967 914 696
- Fax: 02433 610 897
- Email: chuakhainguyen @ gmail.com
- Kênh Youtube
- Counter - Máy đếm niệm Phật
- Kinh Sách
- Thời gian tọa thiền
- Số lần Lạy Phật
- Ấn Tống Kinh Sách
- App ChuaKhaiNguyen
- Tipiṭaka Theravada 16 ngôn ngữ
- Phật Sự Tản Viên
- Kinh Sách tham khảo Scribd
Giới thiệu bài viết cho bạn bè
Từ khóa » Tịnh độ ở Việt Nam
-
Pháp Môn Tịnh độ ở Nam Bộ Việt Nam | Giác Ngộ Online
-
Pháp Môn Tịnh độ Tại Việt Nam Nhìn Từ Bối Cảnh Hiện đại
-
Trào Lưu Tịnh Độ Tại Việt Nam - Chùa Hoằng Pháp
-
Tịnh độ Tông – Wikipedia Tiếng Việt
-
Vài Nét Về Pháp Môn Tịnh độ Và Hành Trì Tịnh độ Tại Việt Nam
-
Sự Truyền Đăng Tịnh Độ Tại Việt Nam - Linh Sơn Phật Giáo
-
Nói Chuyện Tu Tịnh độ | Phật Giáo Việt Nam
-
Tịnh Độ Tông Việt Nam - Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
-
Giới Thiệu Khái Quát Về Giáo Hội Tịnh độ Cư Sỹ Phật Hội Việt Nam
-
Khái Quát Về Tịnh độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam
-
Quá Trình Du Nhập Và Phát Triển Của Pháp Môn Tịnh độ ở Việt Nam Tt
-
[PDF] VÀI NÉT VỀ TỊNH ĐỘ TÔNG VÀ TƯ TƯỞNG TỊNH ĐỘ TRONG LỊCH ...
-
Quá Trình Truyền Thừa Pháp Trì Danh Hiệu Niệm Phật Từ Trung Quốc ...
-
Sơ Lược Về Lịch Sử Truyền Thừa Của Pháp Môn Tịnh Độ