Tạng Truyền Du Già Bồ Tát Giới Luận (Bồ Đề Chánh Đạo ... - 123doc

Trong đây, ngài Tsong Kha Pa đã phân tích tỉ mỉ, giải bày tường tận những ý nghĩa thâm sâu của Bồ tát giới luật, phô bày sự khác biệt giữa giới biệt giải thoát của Thanh văn và giới luật

Trang 1

Thượng sư Tsong Kha Pa tạo luận Thang Hương Danh dịch sang Hán văn

Mark Tatz dịch sang Anh văn Thích Pháp Chánh dịch sang Việt văn

Tạng Truyền Du Già

Bồ Tát Giới Luận

(Bồ Đề Chánh Đạo Bồ Tát Giới Luận)

Asanga’s Chapter on Ethics

With the Commentary of Tsong Khapa The Basic Path to Awakening, The Complete Bodhisattva

Tường Quang Tùng Thư 7 Bản hiệu đính năm 2015

Trang 3

Mục Lục

LỜI NGỎ 9

LỜI GIỚI THIỆU 13

LỜI TỰA 15

CHƯƠNG 1: DẪN NHẬP 19

CHƯƠNG 2: GIẢI THÍCH GIỚI PHẨM 25

A1 T ỔNG NHIẾP 25

A2 P HÂN BIỆT GIẢI THÍCH 26

B1 Nói sơ lược về tự tánh giới 26

C1 Giới tánh 26

C2 Sự lợi ích thù thắng 30

B2 Nói chi tiết về tất cả giới 33

C1 Giới pháp 33

D1 Phân biệt 33

E1 Phân biệt sở y 33

E2 Phân biệt tự tánh 34

D2 Tự tánh 35

E1 Nhiếp luật nghi giới 35

E2 Nhiếp thiện pháp giới 44

F1 Nói sơ lược 44

F2 Nói chi tiết 45

F3 Nhiếp nghĩa 48

D3 Nhiếp hữu tình giới 49

D4 Nhân duyên đầy đủ 51

E1 Nhân duyên đầy đủ của nhiếp luật nghi giới 51

F1 Không nuối tiếc dục lạc ở quá khứ 51

F2 Không ham thích dục lạc đời vị lai 52

F3 Không đắm mê dục lạc ở hiện tại 53

F4 Ưa thích chỗ vắng vẻ 54

F5 Lời nói, tư tưởng thảy đều thanh tịnh 55

F6 Không tự khinh miệt 56

F7 Nhu hòa 57

Trang 4

F9 Không phóng dật 58

F10 Đầy đủ quỹ tắc tịnh mệnh 60

E2 Nhân duyên đầy đủ của nhiếp thiện pháp giới 61

F1 Tầng bậc của năm ba la mật 61

F2 Tầng bậc của Tuệ ba la mật 62

E3 Nhân duyên đầy đủ của Nhiếp hữu tình giới 63

F1 Làm bạn trợ giúp cho người cần trợ giúp 64

F2 Làm lợi ích cho người mê muội nghĩa lý 66

F3 Làm lợi ích cho những người ơn 69

F4 Cứu hộ những sự xâm hại, sợ sệt 70

F5 Làm cho những người đang sầu khổ được khai tâm mở ý 70

F6 Làm lợi ích cho người thiếu thốn 72

F7 Làm lợi ích cho người đến cầu nương tựa 73

F8 Tùy tâm chúng sinh mà làm lợi ích 74

F9 Làm lợi ích cho người tu chánh hạnh 79

F10 Làm lợi ích cho những người phạm tội 80

F11 Dùng thần lực làm lợi ích 81

D4 Thâu góp ý nghĩa chánh yếu 84

CHƯƠNG 3: LÃNH THỌ GIỚI PHÁP 91

C2 L ÃNH THỌ GIỚI PHÁP 91

D1 Thông nghĩa 91

D2 Bổn nghĩa 93

E1 Pháp có thầy truyền giới 93

F1 Nghi thức thọ giới 93

G1 Khải thỉnh 93

H1 Biện minh nhân vật 93

I1 Biện minh người thọ giới 93

I2 Biện minh người truyền giới 95

H2 Biện minh pháp thọ giới 97

I1 Biện minh pháp của người thọ giới 97

I2 Biện minh pháp của người truyền giới 98

G2 Đầy đủ tư lương 102

G3 Cung thỉnh nhanh chóng truyền giới 103

G4 Sinh khởi niềm vui thù thắng 104

G5 Hỏi theo thứ tự 105

F2 Nghi quỹ chánh hành 105

F3 Nghi quỹ chung hành 106

Trang 5

G1 Khải bạch thỉnh cầu chứng minh 106

G2 Tán thán công đức thọ giới 108

G3 Cúng dường báo ân 109

G4 Không được khinh suất khai thị Bồ tát giới 110

D2 Pháp không có thầy truyền giới 111

CHƯƠNG 4: CÁC TỘI THA THẮNG XỨ 116

C3 P HÒNG HỘ GIỚI PHÁP 116

D1 Nói tổng quát về phòng hộ giới 116

D2 Nói chi tiết về phòng hộ giới 121

E1 Các tội nên xả 121

F1 Các tội tha thắng 122

G1 Tự tánh của tội tha thắng 122

H1 Thuyết minh của Du Già Sư Địa Luận 122

I1 Vì lợi dưỡng cung kính, khen mình chê người 122

I2 Bỏn sẻn không bố thí tài vật, Phật pháp 124

I3 Đánh đập hữu tình, không xả oán kết: 125

I4 Phỉ báng Bồ tát tạng, nói pháp tương tự: 126

H2 Thuyết minh của các bộ luận khác 133

I1 Đả phá các luận sư khác 133

J1 Nêu lên lập luận của họ 133

J2 Đả phá lập luận của họ 137

J3 Chánh thuyết 139

I2 Thuyết minh của Tập Bồ Tát Học Luận 140

J1 Kệ tụng 140

J2 Phân biệt giải thích 143

G2 Hậu quả của sự phạm tội tha thắng 162

G3 Phân biệt ba loại phiền não phạm giới 163

G4 Sự đặc thù của việc có thể khôi phục thanh tịnh 178

G5 Nhân duyên xả bỏ Bồ tát tịnh giới 181

CHƯƠNG 5: CÁC TỘI VI PHẠM 186

F2 C ÁC TỘI VI PHẠM 186

G1 Nói tổng quát 186

G2 Giải thích chi tiết 186

H1 Vi phạm lục độ nhiếp thiện pháp giới 186

Trang 6

J2 Chướng ngại sự đối trị san tham 189

J3 Chướng ngại vô úy thí 190

K1 Đối với thắng cảnh 191

K2 Đối với hằng cảnh 191

J4 Chướng ngại sự bố thí của người khác 192

K1 Không nhận sự mời thỉnh 192

K2 Không nhận đồ vật cúng dường 194

J5 Chướng ngại pháp thí 196

I2 Chướng ngại trì giới 198

J1 Chướng ngại sự lợi tha 198

K1 Chánh chướng giới lợi tha 198

L1 Bỏ phế người đáng thương xót 198

L2 Không học những điều giới chung với Thanh văn 199

L3 Tu học giới không cùng chung với Thanh văn 200

K2 Nêu rõ sự khác biệt giữa tánh tội của giới Bồ tát và tánh tội của giới biệt giải thoát 205

J2 Chướng ngại việc tự lợi 218

K1 Hủy phạm tịnh mệnh 218

K2 Hủy phạm quỹ tắc 219

K3 Đắm mê ba cõi 220

J3 Chướng ngại việc lợi ích mình và người 223

K1 Không phòng hộ danh dự mình 223

K2 Không dùng biện pháp mạnh để lợi ích chúng sinh 224

I3 Chướng ngại nhẫn nhục 225

J1 Không chịu an nhẫn 225

J2 Không xả bỏ tâm sân hận triền miên 226

K1 Không tự xả bỏ 226

K2 Không tha thứ lỗi lầm của người khác 227

J3 Không khởi tâm đối trị phiền não 229

I4 Chướng ngại tinh tiến 229

J1 Ý hướng hành vi hạ liệt 229

J2 Hành vi lười biếng 230

J3 Ham việc đàm luận vô ích 231

I5 Chướng ngại thiền định 232

J1 Chướng ngại gia hành 232

J2 Chướng ngại chánh hành 233

J3 Chướng ngại chung hành 236

I6 Chướng ngại trí tuệ 237

Trang 7

J1 Đối với liệt cảnh 237

K1 Không học pháp Tiểu thừa 237

K2 Chuyên tâm tu học pháp Tiểu thừa 239

K3 Chuyên tâm tu học giáo điển ngoại đạo 239

K4 Đam mê tu học pháp ngoại đạo 240

J2 Đối với thắng cảnh 241

K1 Ghét bỏ hủy báng cảnh giới trí tuệ 241

K2 Có thể phá hoại quả của trí tuệ 244

K3 Có thể hủy hoại nhân của trí tuệ 245

L1 Không đi nghe Chánh pháp 245

L2 Có thể hủy hoại cảnh giới của sự nghe pháp 246

H2 Vi phạm Nhiếp hữu tình giới 247

I1 Tổng tướng 247

J1 Không làm lợi ích 247

J2 Không cứu giúp người sầu khổ 249

K1 Không giúp trừ diệt sự khổ 249

L1 Không giúp đỡ người bệnh 249

L2 Không giúp diệt trừ sự khổ 250

K2 Không giúp diệt trừ nguyên nhân sự khổ 251

I2 Biệt tướng 252

J1 Không làm lợi ích 252

K1 Không biết báo ơn 252

K2 Không an ủi người sầu khổ 253

K3 Không cứu giúp người nghèo khổ 254

K4 Không khéo chế ngự đệ tử 255

K5 Không tùy thuận người khác 257

K6 Không tán thán người có đức 258

J2 Không điều phục 260

K1 Đối với việc phi pháp, không chịu dùng uy đức chiết phục 260

K2 Đối với việc trái ngược Thánh giáo, không chịu điều phục 261

CHƯƠNG 6: HỘ TRÌ TÂM TƯỚNG CỦA HÀNH GIẢ 264

E2 H Ộ TRÌ TÂM TƯỚNG CỦA HÀNH GIẢ 264

E3 P HƯƠNG TIỆN LÀM CHO NGƯỜI PHẠM GIỚI KHÔI PHỤC THANH TỊNH 265

E4 M ẬT Ý CỦA SỰ THUYẾT MINH “ THAM LÀ TỘI NHẸ ” 274

E5 P HÂN BIỆT CÁC TỘI PHẨM THƯỢNG , TRUNG , HẠ 277

E6 A N TRỤ TRONG NHÂN DUYÊN AN LẠC 279

Trang 8

CHƯƠNG 7: LUẬN VỀ SỰ KHÁC BIỆT CỦA CÁC GIỚI 282

B3 L UẬN VỀ SỰ KHÁC BIỆT CỦA CÁC GIỚI 282

C1 Nan hành giới 282

C2 Nhất thiết môn giới 283

C3 Thiện sĩ giới 284

C4 Nhất thiết chủng giới 284

C5 Toại cầu giới 286

C6 Thử thế tha thế lạc giới 287

C7 Thanh tịnh giới 287

B4 S Ự LỢI ÍCH THÙ THẮNG CỦA GIỚI 290

C1 Sự lợi ích thù thắng rốt ráo 290

C2 Sự lợi ích thù thắng hiện đời 290

B5 N HIẾP TẬP GIỚI TƯỚNG 292

B6 H ÀNH NGHIỆP CỦA GIỚI 292

CHƯƠNG 8: KẾT LUẬN 295

PHỤ LỤC: BỒ TÁT GIỚI NHỊ THẬP TỤNG 297

Trang 9

Lời Ngỏ

Bản hiệu đính năm 2015

Trong lịch sử hoằng truyền Phật pháp Đại thừa tại Trung Hoa, Đại Hàn, Nhật Bản và Việt Nam, lý tưởng Bồ tát Đại thừa chưa hề được phát huy đúng mức; không những thế, những lý tưởng này nhiều khi còn bị hiểu lầm và xuyên tạc đến chỗ lệch lạc nghiêm trọng

Dưới ảnh hưởng nặng nề của chế độ Tăng đoàn, đại

đa số người học Phật sùng thượng mô hình Thanh văn (Tiểu thừa), phần nhiều ca tụng những hình ảnh xuất gia khổ hạnh, nhàn nhã độc cư, lánh xa trần thế, và gần như cho đó

là mô hình độc nhất cho tất cả những người tu học Phật pháp, thế nhưng, những hình ảnh đó không phải là mô hình

lý tưởng của những hành giả Đại thừa đang mong mỏi học tập Bồ Tát Hạnh

Phật giáo Trung Hoa và Việt Nam có liên hệ rất mật thiết đến đỗi có thể nói rằng Phật giáo Việt Nam phần lớn chỉ

mô phỏng những mô hình của Phật giáo Trung Hoa, mà trong đó có nhiều mô hình lệch lạc về Phật giáo Đại thừa Không những các nhà hoằng pháp không chịu tận lực phát huy mô hình Bồ tát đến những địa vị xứng đáng, ngược lại còn biến dạng họ trở thành những vị thần ban phước cho đa

số những Phật tử tha thiết kiền thành Ngài Quán Âm trở thành một nhân vật chuyên đi cứu rỗi, còn ngài Địa Tạng thì trở thành một vị thần xử án ở địa ngục, v.v ; trong khi đó, những công hạnh sống động, thiết thực của các ngài, tuy rất gần gũi với loài người, thì lại không được phát huy đúng mức Những bậc có trách nhiệm hoằng pháp không chịu quan tâm đến việc đem các mô hình Bồ tát này vào đời sống hiện thực, khiến cho những tín đồ Phật giáo có thể noi theo

Trang 10

chú trọng đến mặt tín ngưỡng, thờ phụng, vái van Chung quy, Phật pháp Đại thừa đã phải chịu một cuộc sống xa cách dật dờ bên dòng lịch sử của những dân tộc Phật giáo Á Đông Đây là một điều vô cùng đáng tiếc

Muốn phát huy Phật pháp Đại thừa, không có gì thiết thực hơn là sống theo tinh thần Đại thừa, dùng đó làm mực thước trong cuộc sống hàng ngày của mình Không thể tự xưng là người Đại thừa mà hễ mở miệng là ca tụng lý tưởng yếm ly xuất thế Thế nhưng, muốn sống đúng với mô hình Bồ tát Đại thừa thì phải phát tâm học tập Bồ tát giới

Lại có người cho rằng hiện nay không còn cần đến

“giới”, mà chỉ cần sống “đạo đức” là đủ, không ngờ rằng “đạo đức” cũng là một phần của giới Vả lại, quan niệm “đạo đức” biến đổi với thời gian, còn giới của chư Phật thì lúc nào cũng

phù hợp với thiện pháp của chúng sinh nhân loại Kinh

Aryasura nói: “Morality does not become pure unless

darkness is dispelled by the light of wisdom (Đạo đức không thể trở thành thanh tịnh, trừ phi được ánh sáng trí tuệ phá trừ bóng tối vô minh).” Quan niệm đạo đức phát xuất từ

“ánh sáng vô minh leo lét” của loài người, không thể nào so sánh với giới luật được xuất phát từ ánh hào quang trí tuệ của chư Phật

Đại thừa giới có ba tụ là nhiếp luật nghi giới (giới biệt giải thoát của Thanh văn), nhiếp thiện pháp giới (bao gồm tất cả công hạnh, kể cả những hành vi đạo đức), và nhiếp hữu tình giới (những công hạnh lợi ích chúng sanh) Nếu hiểu được như vậy thì không có một pháp thế gian, hoặc xuất thế gian nào mà có thể ra ngoài phạm vi của Giới

Học Đại thừa học, học Đại thừa hạnh, kể cả học pháp Thanh văn, đều phải lấy giới làm nền tảng Vì thấy được tầm

Trang 11

mức cực kỳ quan trọng của giới luật Đại thừa như thế, chúng

tôi đã cho hiệu đính quyển Bồ Đề Chánh Đạo Bồ Tát Giới

Luận (sửa chữa những chỗ sai lầm, bổ túc những điều thiếu

sót), với hy vọng những ai thấy nghe đều phát tâm Bồ Đề, thọ Bồ tát giới, hành Bồ tát hạnh Giới không lìa hạnh, hạnh không lìa giới Từ tướng vào tánh, thể nhập Chân như, đồng thành Phật Đạo Từ tánh hiển tướng, phát khởi Nguyện hạnh, cứu độ hữu tình

Trong lần hiệu đính này, chúng tôi đã cẩn thận sửa chữa những chỗ sai lầm và bổ túc những nơi thiếu sót Chúng tôi đã tham khảo thêm bản hiệu đính tiếng Hán của

Bồ Đề Chánh Đạo Bồ Tát Giới Luận, xuất bản năm 1989 tại

Đài Bắc, và bản dịch tiếng Anh của Mark Tatz tựa đề

Asanga’s Chapter on Ethics With the Commentary of Tsong Khapa The Basic Path to Awakening, The Complete Bodhisattva, xuất bản năm 1986 tại New York Ngoài ra

chúng tôi cũng đã sắp xếp lại mục lục cho người đọc dễ dàng theo dõi nội dung của quyển sách Tuy chúng tôi đã tốn nhiều công sức trong việc hiệu đính này, nhưng vì nhân lực hạn hẹp, e rằng vẫn còn rất nhiều sai lầm và thiếu sót Ngưỡng mong quý vị thiện tri thức rũ lòng từ bi chỉ chánh Mùa Vu Lan, năm Ất mùi, 2015

Thích Pháp Chánh

Trang 13

Lời Giới Thiệu

Bản dịch Việt văn

Bồ Đề Chánh Đạo Bồ Tát Giới Luận, nguyên đề Tối Cực Thanh Tịnh Bồ Tát Giới Tạng Trì Giới Hành Tướng Bồ Đề Chánh Đạo Luận, là một trong những kiệt tác của Thượng sư Tsong Kha

Pa (1357-1419), tổ sư khai sáng phái Gelug (Mũ vàng) của Mật tông Tây Tạng Theo truyền thuyết, Thượng sư là hóa thân của đức Văn Thù, thị hiện làm một nhà tôn giáo vĩ đại, một bậc học giả uyên bác, tinh thông Tam tạng, và cũng là một nhà canh tân vĩ đại của Phật giáo Tây Tạng vào thế kỷ thứ mười bốn

Bổn luận luận giải phần Giới Ba La Mật của Du Già Sư

Địa Luận (gọi tắt là Du Già Sư Địa Luận), một trước tác vĩ đại

của hai ngài Di Lặc và Vô Trước thuộc trường phái Duy Thức Trong đây, ngài Tsong Kha Pa đã phân tích tỉ mỉ, giải bày tường tận những ý nghĩa thâm sâu của Bồ tát giới luật, phô bày sự khác biệt giữa giới biệt giải thoát của Thanh văn

và giới luật nghi của Bồ tát, cùng trình hiện tỏ tường năng lực vĩ đại của Bồ đề tâm là có thể làm cho một hành giả Bồ tát thừa, bất luận tại gia hay xuất gia, phạm tội căn bổn, có thể hoàn toàn khôi phục lại giới thể thanh tịnh Đây là một

sự kiện “kinh động” mà Phật giáo Đại thừa Trung hoa và Việt nam chưa hề mơ tưởng tới Hơn nữa, bộ luận này còn hé mở cho chúng ta thấy được chân trời siêu việt của lý tưởng Đại thừa, một sự sinh động tuyệt vời, một tinh thần cách mạng

vĩ đại, cùøng những sự hy sinh hùng tráng của những hành giả Đại thừa chân thật

Những điều giới Bồ tát trong phần Giới Ba La Mật đã từng được phiên dịch tại Trung quốc, lần thứ nhất do ngài

Tam tạng Đàm Vô Sấm, dưới tựa đề Địa Trì Bồ Tát Giới Bổn,

Trang 14

hai do ngài Tam tạng Huyền Tráng, dưới tựa đề Du Già Bồ

Tát Giới Bổn, bao gồm bốn giới trọng và bốn mươi ba giới

khinh Hai giới bổn này tuy phiên dịch đã lâu nhưng không được phổ biến rộng rãi, lý do là vì Phật giáo Trung quốc quá

chú trọng đến Phạm Võng Bồ Tát Giới Bổn

Trong bổn luận, ngoài những điều giới được liệt kê

trong Du Già Sư Địa Luận, ngài Tsong Kha Pa còn trích lục thêm mười bốn điều giới trọng từ Đại Thừa Tập Bồ Tát Học

Luận (gọi tắt là Tập Bồ Tát Học Luận) của Bồ tát Tịch Thiên,

đồng thời khai triển các giới khinh thành bốn mươi sáu điều, tổng cộng có mười tám giới trọng và bốn mươi sáu giới khinh Ngoài ra, ngài còn tham khảo các bộ giới luận cùng các kinh điển khác để tìm lời giải đáp thỏa đáng nhất cho những sự thắc mắc hoặc nghi ngờ về ý nghĩa và công năng của Bồ tát giới luật

Bồ tát giới luật được phân tích và phát huy ở đây là gia sản chung cho cả Đại thừa Hiển giáo và Mật giáo Nó là nền tảng cơ bản và đồng thời cũng là một cấu trúc quy mô thiết yếu cho tất cả hành giả Đại thừa muốn đi trên con đường huy hoàng đến mục đích tối cao của mình là Vô thượng Bồ đề

Mùa Vu Lan năm Bính tuất, 2006

Thích Pháp Chánh

Trang 15

đi chánh quỹ, tu tập, phụng hành oai lệch hành nghi Muốn vượt biển khổ mà không nghiêm trì giới đức, thì cũng giống như voi cuồng đi lạc đường tà Đạo pháp mịt mờ, âu cũng là nỗi lo của Bồ tát vậy

May thay, Bậc Thượng sư của chúng ta, Thánh Tsong Kha Pa, Bậc trí tuệ khai ngộ siêu việt hơn đời, Đấng giới đức

uy nghiêm vượt xa thế tục, xuất sinh ở Cam Ninh, trưởng thành tại Tây Tạng, học nhiều hiểu rộng, thâm nhập Thánh giáo, hoằng dương Chân Thừa Mở đường đạt đạo cho ba loại căn cơ, bày sự thâm sâu của Hiển giáo, Mật giáo Đây chính là đắp đường phẳng đến Niết bàn, chấn uy phong cho giới luật Ngài đã tham khảo luật tạng mà tạo nên bộ luận này, thống nhiếp vạn hạnh thành ba tụ, bao quát ức độ vào chín loại Chỗ xả bỏ, tức là mười tám tội tha thắng, bốn mươi sáu tội vi phạm, chỗ giữ lấy, tức là giới biệt giải thoát của bảy chúng, cùng các học xứ lục độ, tứ nhiếp, lại còn thâu nhiếp

bổn nghĩa của các bộ Du Già Sư Địa Luận, Tập Bồ Tát Học

Trang 16

rộng rãi vào các sớ giải của kinh luận để xiển minh hành tướng giới luật, nghi quỹ thọ giới, cùng hành tướng của sự phòng hộ tịnh giới

Hai thừa Hiển, Mật, xả bỏ giới luật thì không còn là con đường đạo mà Bồ tát ba đời đều phải học tập Đây quả thực là Thuyền Từ trong việc độ thế, Diệu Phẩm cho sự xuất

ly

Hương Danh, lúc ở cố đô học pháp, từng nghe vị Thượng sư họ Tân nói: “Bộ luận này, ý chỉ sâu xa, nghĩa lý tinh xác Người tại gia, xuất gia học tập Phật pháp ở Tây Tạng, bất luận Hiển giáo hay Mật giáo, không ai mà không nghiên cứu, dùng đây làm pháp thức cho sự tu hành.”

Hôm nay, nhân cơ duyên thành lập Bồ Đề Học Hội, với tông chỉ hoằng truyền Phật pháp, Hương Danh bèn đem luận này trưng bày trước đại chúng, nguyện ý phiên dịch, mọi người trong hội nghe qua đều nhiệt liệt tán đồng, nhân đây, vào tháng tám năm Giáp tuất (1934) thiết lập Dịch Kinh

Xứ, ủy nhiệm Hương Danh chủ quản sự việc này Hương Danh đã cung cẩn y vào bản Tạng văn của chùa Tung Chúc ở Bắc Kinh san hành mà phiên dịch Khi gặp ý nghĩa khó hiểu thì đến nhờ sự chỉ giáo của vị Đạo sư của Bồ Đề Học Hội là Thượng sư Vinh Tăng, qua sự thông dịch của ông Ngô Kiếm Quân, hơn nữa, lại còn được ông Cao Quán Như giúp đỡ hiệu đính lời văn Đến tháng tư năm sau, Ất hợi (1935) thì phiên dịch hoàn tất

Hương Danh, học thức thô thiển, chưa thể hiểu thấu ý nghĩa sâu xa khó dò, e rằng bản dịch mất đi phần nào ý nghĩa chân thực Nguyện các bậc cao đức Phật giáo, từ bi chỉ chánh những chỗ sai lầm, làm sáng tỏ những nơi tăm tối

Trang 17

Xin nguyện Tam Bảo gia hộ, chứng minh lòng thành của con, khiến cho Diệu Pháp được phổ cập, để mọi người đều được ngồi trên thuyền Giới Luật, đến thẳng nơi Phật Địa

Tiết Mạnh Hạ, Dân Quốc năm Ất Hợi (1935),

Thang Hương Danh kính ghi ở Thượng Hải Dịch Kinh Xứ

Trang 19

Đại Thừa Du Già

Bồ Tát Giới Luận

Thượng Sư Tsong Kha Pa tạo luận Thang Hương Danh dịch Tạng sang Hán Mark Tatz dịch Tạng sang Anh Thích Pháp Chánh hợp dịch sang tiếng Việt

[ Tán thán Bồ tát Di Lặc]

Lạy Bậc được Đấng Đại Giác Tôn, Thọ ký kế vị ngôi Pháp Vương, Thế gian tự tại, Vô Năng Thắng, Dùng Thanh Tịnh Tạng hộ hữu tình

[Tán thán ngài Vô Trước]

Kính lạy dưới chân như đóa sen, Của bậc thánh giả, ngài Vô Trước, Ngài đem đến mọi sự cát tường,

Trang 20

[ Tán thán Bồ tát địa]

Ngài Vô Năng Thắng diễn diệu pháp, Đối với hạnh Bồ tát cần học,

Chỉ dạy pháp tu hợp Chánh lý, Người thích Thượng thừa nên thọ trì

Những Bậc có căn tánh Thượng thừa, Đối với pháp này, rất thích nghe

Diệu Cát Tường Bổn Tục (Mañjuśrī-mūlatantra) nói về ngài

Vô Trước:

Có bậc Tỳ kheo tên Vô Trước, Thấu rõ chân nghĩa của luận tạng, Hay khéo quyết đoán các kinh điển, Hoặc liễu nghĩa, hoặc không liễu nghĩa, Lại hay khai triển trí thế gian,

Khéo phân biệt luận tạng bổn nghĩa, Ngài là bậc viên chứng trì minh,

Là sứ giả của Đức Điều Ngự,

Trang 21

Bậc nói lời thật đủ uy lực, Khéo hay sinh khởi tuệ thù thắng, Khiến Thánh Giáo trụ thế lâu dài, Chọn nghĩa chân thực của kinh điển, Ngài thọ một trăm năm mươi tuổi, Sau khi mất, hiện thân cõi Phật, Tuy ở trong sinh tử luân hồi, Vĩnh viễn hưởng mùi vị an lạc, Trong đời vị lai sẽ chứng được,

Vô thượng Bồ đề tối cứu cánh

Đó là những lời ký biệt của Đức Phật Bồ tát Vô Trước tu tập pháp môn thù thắng vi diệu, phát nguyện rộng lớn, đã trong nhiều đời, tích tập vô lượng tư lương khó nghĩ bàn, tinh tiến thành khẩn tu tập, chứng được Pháp quang định, thông đạt rốt ráo tất cả các pháp môn, giống như vượt biển lớn, đã đến

bờ bên kia, đầy đủ năng lực khéo léo quyết đoán lựa chọn các pháp mà các chúng sanh khác khó thể lường được Ngài

ở nơi Bồ tát Di Lặc, rộng nghe vô lượng Phật pháp, đặc biệt đối với lý thú hành quả rộng lớn của Thượng thừa, ngài đã nghe và lãnh thọ một cách viên mãn Sau đó ngài đã sưu tập

những nghĩa lý thiết yếu, biên soạn Bồ Tát Địa (trong Du Già

Sư Địa Luận)

Tôi (Tsong Khapa) quán xét thấy có người, đối với pháp Thượng thừa, tu tập ít ỏi, sức hiểu biết yếu ớt, đối với các học xứ của Bồ tát, không thể quán xét, thông đạt, vì muốn những người kém cỏi này có thể hiểu rõ một cách dễ

dàng, cho nên tôi xin giải thích sơ lược ý nghĩa phẩm Giới Ba

La Mật của phần Bồ Tát Địa này

Hành giả Bồ tát dùng chỗ nào làm nơi y chỉ? Phải y như Thánh giáo đã dạy Trước tiên phải phát khởi tâm Bồ đề thù thắng, kế đó, đối với những điều Bồ tát phát nguyện tu

Trang 22

học, phải dùng sự trì giới làm công hạnh thiết yếu, vì nếu như không thể tu tập học xứ của Bồ tát, thì không thể nào chứng đắc Vô thượng Bồ đề, bởi thế, trì giới là con đường quan yếu nhất trong tất cả công hạnh của Bồ tát ba đời

Bồ Tát Địa nói: “Ba tụ giới này (luật nghi, nhiếp thiện

pháp, nhiếp hữu tình) là những điều mà tất cả Bồ tát quá khứ cầu Đại Bồ đề đã học, tất cả Bồ tát vị lai sẽ học, và tất cả

Bồ tát hiện tại ở vô lượng vô biên mười phương thế giới

đang học.” Lại nữa, Giới Sớ (Comentary to the Chapter on

Ethics) nói: “Tất cả hành giả đã phát tâm Vô thượng Bồ đề,

bước vào ngưỡng cửa Đại thừa, cầu việc lợi mình lợi người,

tự phát thệ nguyện làm hành giả Đại thừa, ắt phải an trụ trong tịnh giới của Bồ tát.”

Nếu đối với những học xứ của Bồ tát đã được giảng nói trong Giới Ba La Mật không chịu tu tập, hoặc không cung kính, tin tưởng, mà tự cho mình là hành giả Đại thừa, thì nên biết đây chỉ là Bồ tát tương tự, chứ không phải Bồ tát chân thực

Bởi thế, phát tâm Bồ đề, mà đối với học xứ của Bồ tát, không chịu tu tập với lòng tin tưởng sâu xa, thì không thể nào chứng đắc Vô thượng Bồ đề Những vị hành giả cầu đạo

Bồ đề, phải nên quán xét học xứ của Bồ tát, xem đó là con đường chính yếu của mình, theo đó mà siêng năng tu học

Thánh Tam Giới Kinh (Teaching on the Three Vows) nói: “Này

Hộ Quang Nếu có thiện nam, thiện nữ nào tu học Bồ tát thừa, khi nghe được Bồ tát học xứ, mà lại không thể sinh lòng tin tưởng chân thực sâu xa, nên biết người đó rốt ráo không thể chứng đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề Vì sao? Do sự tu học mà chứng được Bồ đề, chẳng phải không

tu học mà có thể chứng được Nếu như không tu học mà có thể chứng được, thì những loài như mèo, thỏ, v.v , cũng phải

Trang 23

chứng được Vô thượng Bồ đề Vì sao? Vì những người không

tu chánh hạnh, ắt không thể chứng được quả Vô thượng Lại nữa, nếu không tu chánh hạnh mà chứng được Vô thượng

Bồ đề, thì lời nói, âm thanh cũng chứng được Vô thượng Bồ

đề, giống như chỉ cần nói lời như sau: ‘Tôi sẽ thành Phật Tôi

sẽ thành Phật.’, cũng sẽ làm cho vô lượng chúng sanh thành Phật.”

Nếu như cho rằng chỉ có hành giả Hiển giáo mới cần

tu học, hành trì tịnh giới của Bồ tát, còn hành giả Mật giáo thì không cần phải tu học, quan niệm như thế gọi là đại tà kiến

Những bộ kinh Mật giáo như Tam Bồ Đề (Sampuṭa),

Kim Cương Không Hành (Vajraḍākiṇī), Kim Cương Đảnh (Vajraśikhara) đều nói như sau:

Con nay đúng lý xin phát khởi, Tâm Bồ đề tối thắng vô thượng, Đối với tất cả giới luật nghi, Cùng giới nhiếp thiện pháp vi diệu, Giới nhiêu ích hữu tình thù thắng, Mỗi giới đều kiên quyết thọ trì

Nếu muốn thọ trì giới luật của Kim cương thừa (Mật thừa), trước tiên cần phải phát nguyện học ba tụ giới này Hơn nữa, đối với tam muội da giới của năm Phật bộ, phải nên cung kính thọ trì, nghĩa là y cứ vào nghi quỹ Mạn đà la, và cũng phải hộ trì hai loại giới “cộng” và “bất cộng.” Cộng giới, tức là giới pháp của Bồ tát Bởi thế, hành giả Bồ tát phát tâm hành trì, đối với ba tụ giới, hoặc sáu Ba la mật, đều phải nên tu học Ngoài ba tụ giới và sáu Ba la mật, không có con đường Đại thừa Ba la mật nào khác Vì thế, việc tu học ba tụ giới và sáu Ba la mật, là điều cần thiết của bốn Tục bộ trong Mật thừa, bất luận là bộ nào

Trang 24

Lại nữa, phát tâm Bồ đề và thực hành sáu Ba la mật là con đường chung cho cả Hiển giáo và Mật giáo, cho nên hành giả Mật giáo, trong tất cả mọi thời, đều không nên xả bỏ hai điều này

Diệu Cát Tường Bổn Tục nói: “Hành giả Mật giáo, phải

nên đầy đủ viên mãn ba pháp Ba pháp đó là gì? Một là không xả bỏ chúng sanh; hai là hộ trì Bồ tát tịnh giới luật nghi; ba là không tự mình bỏ mất những Mật pháp hiện đang

tu tập.”

Kim Cương Đảnh Kinh nói:

Đối với sáu hạnh Ba la mật, Phải theo thứ tự mà tu học,

Có thể làm lợi ích hữu tình, Đây gọi là hành Bồ tát hạnh

Kim Cương Mạn Kinh (Vajrapañjarā), phẩm thứ mười hai

cũng nói:

Con phát tâm Bồ đề thù thắng, Rộng nhiếp tất cả kẻ đáng thương, Nương vào Thắng Bồ Đề tu tập,

Vì lợi chúng sanh, nguyện thành Phật

Đối với các học xứ của Bồ tát, sự khai, giá của Hiển giáo và Mật giáo tuy có khác biệt, song bản thể của giới chỉ là một Phải nên biết rằng, Hiển giáo và Mật giáo, bất luận tu theo pháp nào, đều phải nghiêm trì giới luật

Trang 25

Chương 2: Giải thích giới phẩm

Giải thích giới phẩm, sơ lược phân làm hai phần: B1 Tổng nhiếp, B2 Phân biệt giải thích

A1 Tổng nhiếp

Thế nào là Bồ Tát Giới Ba La Mật Đa? Ôn đà nam nói:

Tự tánh, nhất thiết, nan Nhất thiết môn, thiện sĩ Nhất thiết chủng, toại cầu Nhị thế lạc, thanh tịnh Chín loại hành tướng này Nói sơ lược về giới

Chín loại giới này gọi là Bồ tát giới ba la mật đa: (1) Tự tánh giới, (2) Nhất thiết giới, (3) Nan hành giới, (4) Nhất thiết môn giới, (5) Thiện sĩ giới, (6) Nhất thiết chủng giới, (7) Toại cầu giới, (8) Nhị thế (đời này đời sau) lạc giới, (9) Thanh tịnh giới

Thế nào là tất cả giới của Bồ tát? Nói sơ lược về hành tướng thì có chín loại giới:

(1) Tự tánh, (2) nhất thiết, (3) nan, (4) Nhất thiết môn, (5) thiện sĩ, (6) Nhất thiết chủng, (7) toại cầu, (8) Nhị thế lạc, (9) thanh tịnh, Chín loại hành tướng này, Nói sơ lược về giới

Trang 26

Trong đây, (1) tự tánh giới: là tổng tướng của giới; (2) nhất

thiết giới: nói rộng về sự sai biệt của giới; (3) nan hành giới:

giới này rất khó hành trì, không phải những người tầm

thường có thể hành trì được; (4) nhất thiết môn giới: giới này có thể phân biệt tất cả công hạnh; (5) thiện sĩ giới: giới

này có thể làm chỗ y chỉ thù thắng cho những bậc tu hành;

(6) nhất thiết chủng giới: giới này có thể phân biệt rộng rãi

về hành tướng, chủng loại của giới; (7) toại cầu giới: như trong Đại Sớ có nói: “có tác dụng trừ khổ, hoặc sự khác biệt giữa cảnh và hành.” (8) nhị thế lạc giới, và (9) thanh tịnh

giới, đều là nói về quả báo thù thắng của giới Theo thou tự

vừa nêu trên mà có sự đoạn hoặc, chứng chơn khác biệt

A2 Phân biệt giải thích

Có sáu phần: (B1) nói sơ lược về tự tánh giới; (B2) nói tường tận về tất cả giới; (B3) lập luận về sự sai biệt; (B4) nói

về sự lợi ích thù thắng của giới; (B5) nhiếp tập giới tướng; (B6) nói về hành nghiệp của giới

B1 Nói sơ lược về tự tánh giới

Có hai phần: (C1) giới tánh, (C2) sự ích lợi thù thắng

C1 Giới tánh

Thế nào là tự tánh giới? Nói sơ lược, có đầy đủ bốn công đức thì gọi là tự tánh giới của Bồ tát: (1) thọ giới từ người khác; (2) ý nguyện thanh tịnh; (3) sám hối thanh tịnh các điều giới đã phạm; (4) cung kính sâu xa, chuyên tâm tưởng niệm, hành trì giới pháp không vi phạm

(1) Bồ tát chánh thức thọ giới từ người khác, nếu

lỡ vi phạm giới pháp, vì sợ người khác chê trách nên sinh

Trang 27

lòng hổ thẹn (2) Bồ tát, vì có ý nguyện thanh tịnh, nếu lỡ

vi phạm giới pháp, trong lòng cảm thấy rất hổ thẹn (3)

Do hai nhân duyên (1) sám hối thanh tịnh và (2) cung kính chuyên tâm hành trì, mà xa lìa các hành vi xấu ác

Như vậy, Bồ tát nương vào hai việc: (1) thọ giới từ người khác và (2) ý nguyện thanh tịnh, mà sanh khởi tâm hổ thẹn Do sự hổ thẹn mà có thể khéo phòng hộ giới pháp đã thọ, và từ sự phòng hộ này mà xa lìa các pháp xấu ác

Trong đây, hai pháp (1) thọ giới từ người khác, và (2) ý nguyện thanh tịnh, dẫn đến hai pháp (3) sám hối thanh tịnh, và (4) cung kính hành trì Do ba pháp (1) thọ giới từ người khác, (2) ý nguyện thanh tịnh, và (3) cung kính hành trì, mà đưa đến sự không vi phạm những điều giới đã thọ Hơn nữa, nên biết rằng do pháp sám hối thanh tịnh mà đưa đến sự khôi phục giới thể thanh tịnh

Trong phần giới tánh, có bốn công đức, nghĩa là công đức của tự tánh giới tổng cộng có bốn loại: (1) công đức của sự chánh thức thọ giới từ người khác; (2) công đức của ý nguyện thanh tịnh; (3) công đức của sự sám hối thanh tịnh những sự phạm giới; (4) công đức của sự cung kính sâu xa, chuyên tâm tưởng niệm, hành trì giới pháp không có sự vi phạm

Bốn công đức, có nghĩa là: (1) Do sự chánh thức thọ giới từ người khác, nếu có nhân duyên vi phạm giới pháp, biết rõ sẽ bị người khác quở trách, hủy báng sự bất chánh, vì vậy đối với những hành động xấu, sanh tâm hổ thẹn; (2) vì đối với giới pháp có niềm tin ý nguyện thanh tịnh, cho nên, nếu có nhân duyên vi phạm, liền tự quán xét chính mình, e

sợ sự phạm giới sẽ lôi kéo, phá hoại những công phu tu

Trang 28

hành, liền khởi tâm hổ thẹn đối với việc ác Do vì hai việc: (3) sau khi phạm giới, sám hối thanh tịnh, và (4) không hề hủy phạm giới pháp, cho nên xa lìa pháp ác Do vì Bồ tát chánh thức thọ giới từ người khác, nương vào niềm ý nguyện thanh tịnh, cho nên sinh tâm hổ thẹn, và do tâm hổ thẹn, cho nên không phạm giới; hoặc giả, nếu lỡ phạm thì liền sám hối thanh tịnh, nhờ đó có thể khéo phòng hộ những điều giới đã thọ Do vì cẩn thận phòng hộ, nên không bị phạm giới, xa lìa pháp ác

Bởi thế, có thể nói rằng, những người thọ giới phải nên đúng lý, dùng trí lực quán xét tự tâm; do thường thường quán xét, cho nên xa lìa những sự hổ thẹn, hối hận; cho đến khi không còn phạm vào các điều giới, dù nặng hay nhẹ, do đây mà có thể sanh khởi tâm thanh tịnh thù thắng

Nhân đây, từ lúc bắt đầu thọ giới, không còn bị nhiễm

ô bởi sự lỗi lầm, giả như, đôi lúc bị mất chánh niệm, bị nhiễm

ô bởi sự lỗi lầm, thì vẫn có thể ngay lập tức, không một chút

do dự, khiển trừ những lỗi lầm đó không còn mảy may, bằng cách phát lộ sám hối trừ diệt tội phạm giới, làm cho trở lại thanh tịnh Sau khi sám hối xong, phải nên khởi tâm cực kỳ

hổ thẹn; sau đó phải nên từ một vị thiện tri thức đầy đủ đức hạnh uy nghi, cầu thọ lại tịnh giới Sự mong muốn thọ giới, không phải là theo ý người khác, mà phải do chính người thọ giới suy ngẫm, quyết định; cũng không phải vâng theo mệnh lệnh của người khác, mà là y theo ý nguyện vi diệu thù thắng của chính mình Đối với hai nhân duyên này, phải khéo chuyên tâm chú ý

Bốn công đức này, những bộ sớ giải khác, phần nhiều đều cho rằng công đức thứ nhất là do sự thọ giới, còn ba

công đức sau là do sự hộ giới; thế nhưng, Du Già Sư Địa Luận

Trang 29

thì cho rằng hai công đức đầu là nhân của sự hộ giới Bồ Tát

Giới Nhị Thập Tụng nói:

Dùng niềm vui thích thắng diệu này,

Từ vị thầy giới đức thanh tịnh, Trí lực thù thắng mà thọ giới

Nghĩa là hai công đức đầu thuộc về sự thọ giới, còn hai công đức sau thuộc về sự hộ giới

Lại nữa, các Bồ tát, lúc đang cầu thọ giới, nếu như không gặp được vị thầy đầy đủ giới đức, thì có thể quán tưởng chư Phật, Bồ tát, hiện đến trước mặt, truyền thọ giới pháp cho mình Thế nhưng, thọ giới từ người khác vẫn là điều chính yếu Nếu như gặp được bậc thiện tri thức, thì phải đến chỗ của ngài, rập đầu cầu thỉnh vị ấy truyền giới cho mình Sau khi đã được truyền thọ giới pháp, phải nên cung kính vui mừng, hộ trì những điều giới đã thọ, thì có thể

nhanh chóng phát sanh giới hạnh thanh tịnh Tập Bồ Tát Học

Luận nói: “Trì giới, nghĩa là hành giả đối với học xứ của Bồ

tát, phải nên từ bậc có giới đức lãnh thọ hành trì, chân thực

tu tập tịnh giới của Bồ tát Những hành giả như thế, nếu vi phạm những điều giới đã học, phải nên khởi tâm hổ thẹn, sợ rằng đã dối trá bậc Thượng sư cho nên sinh lòng hổ thẹn Do lòng hổ thẹn đó, cho nên không cần phải nhờ vào sự khích lệ của người khác, mà tự mình đối với giới pháp sinh tâm vui mừng cung kính Vì vậy, tất cả Bồ tát, nếu muốn thành tựu các học xứ này, phải nên đối trước chư Phật mà chánh thức thọ học.”

Nói về hành tướng nhân quả của công đức Phải nên biết rằng hai công đức đầu có thể dẫn phát hai công đức sau Hai công đức đầu là nhân, hai công đức sau là quả Hành tướng của sự dẫn phát đã được trình bày ở phần trên

Trang 30

Trong bốn loại công đức trên, hai loại có thể làm giới hạnh thanh tịnh, tức là: (1) hoàn toàn không vi phạm, (2) sau khi phạm giới, sám hối khôi phục sự thanh tịnh

Nên biết, do ba điều: (1) sự chánh thức thọ giới từ người khác, (2) ý nguyện thanh tịnh, (3) cung kính sâu xa, chuyên tâm tưởng niệm, không có sự vi phạm, có thể làm cho hành giả sẽ không hủy phạm những điều giới thanh tịnh

đã thọ Lại nữa, (4) sau khi phạm giới, sám hối thanh tịnh, có thể làm cho người phạm giới trở lại thanh tịnh, lại làm cho khôi phục giới thể Do hai loại này, nên nói là có bốn

Trong các bộ sớ giải khác, nhiếp tập bốn loại công đức có bốn lối giải thích:

(1) Công đức đầu tiên là sự thọ giới, ba công đức sau

sự tổn não chúng sanh mà thọ giới Tự tánh giới cũng có ba điều: (i) giới pháp đã thọ, (ii) sau khi thọ sám hối thanh tịnh; (iii) phòng hộ giới pháp

(4) Hai nhân và hai quả của tịnh giới

C2 Sự lợi ích thù thắng

Trang 31

Như vậy, Bồ tát đầy đủ bốn công đức tự tánh thi la: (1) diệu thiện tịnh giới: chánh thức lãnh thọ, tùy thuận học tập, có thể làm lợi ích cho mình và người, lợi ích an lạc tất cả chúng sanh, thương xót tất cả trời người trên thế gian, v.v…; (2) vô lượng tịnh giới: nhiếp thọ vô lượng sở học của Bồ tát; (3) nhiêu ích nhất thiết hữu tình tịnh giới: hiện tiền có thể đem đến lợi ích an lạc cho tất cả hữu tình; (4) năng hoạch đại quả thắng lợi tịnh giới: nhiếp thọ, có thể dẫn đến quả vị Vô thượng Bồ đề thù thắng Đây gọi là

Bồ tát tự tánh giới

Có bốn loại: (1) diệu thiện tịnh giới, (2) vô lượng tịnh giới, (3) nhiêu ích nhất thiết hữu tình giới, (4) năng hoạch đại quả thắng lợi giới

(1) Diệu thiện tịnh giới: sau khi từ người khác chánh

thức lãnh thọ giới pháp tự tánh đầy đủ bốn công đức như thế xong, tùy thuận giới luật mà tu học, thì có thể phát sanh nhiều sự lợi ích

Một là tự lợi, nghĩa là các vị Thanh văn, lúc tu hạnh tự lợi, biết rõ tứ đế, lìa xa các phiền não và những sự khổ khổ, ít làm, ít việc, chỉ lo tu tập, tự thân tịch tĩnh, hoặc tự điều phục Còn các vị Bồ tát, lúc tu hạnh tự lợi, liền đoạn trừ hai chấp (ngã chấp, pháp chấp), mà chứng hai trí (thực trí, quyền trí)

Hai là lợi tha, nghĩa là lúc mới phát tâm, liền muốn làm lợi ích rộng lớn cho hai loại hữu tình hữu tánh và hữu tình vô tánh

Làm thế nào để lợi ích hữu tình vô tánh? Nghĩa là hiện tiền, đối với việc cứu độ, phát tâm làm cho chúng sinh

xa lìa nẻo ác: chúng sanh chưa sanh khởi việc ác, làm cho không sanh khởi; đã sanh khởi việc ác, làm cho xả bỏ, đây

Trang 32

gọi là hạnh làm lợi ích chúng sanh của Bồ tát; hơn nữa, lại dẫn đạo chúng sanh tu tập pháp lành: chúng sanh chưa sanh khởi pháp lành, làm cho sanh khởi; đã sanh khởi pháp lành, làm cho tăng trưởng, đây gọi là hạnh làm an lạc cho chúng sanh của Bồ tát Lại nữa, đối với các chúng sanh vô tánh, tâm còn nhiều sân hận, không có duyên lành đối với Phật pháp, lạc trong đường tà, rơi vào nẻo ác, Bồ tát vì những chúng sanh này mà làm người hướng dẫn, lãnh đạo, lợi ích an lạc, vui thích cứu độ không hề xả bỏ chúng sanh; thường đợi những cơ hội để làm lợi ích cho họ Đây gọi là hạnh của Bồ tát thương xót chúng sanh

Làm thế nào để lợi ích hữu tình hữu tánh? Nghĩa là có thể dẫn dắt các chúng sanh hữu tánh này tu tập, đạt đến các thánh quả, đây gọi là hạnh của Bồ tát lợi ích tất cả trời người Làm thế nào để lợi ích? Nghĩa là dùng phương tiện dẫn dắt họ từ hai giai vị tư lương và gia hạnh, đạt đến thánh quả Lại có thể làm cho họ hiện đời được an lạc, thân tâm thanh thoát, hân thưởng niềm vui của sự giải thoát Đây gọi

là hạnh an lạc của Bồ tát Do những công hạnh này mà hành giả đối với giới pháp Bồ tát thanh tịnh vi diệu không còn lầm lẫn nghi hoặc Trong các bộ sớ giải khác có nói nhiều về những sự lợi ích của giới pháp Ở đây không thể trình bày hết được

(2) Vô lượng tịnh giới: nhiếp thọ vô lượng pháp học

(học xứ) của Bồ tát

(3) Nhiêu ích nhất thiết hữu tình giới: trong hai giai

đoạn tu hành (tu đạo) và chứng đắc (cứu cánh đạo), đều thường làm lợi lạc cho tất cả chúng sanh

(4) Năng hoạch đại quả thắng lợi giới: trong lúc đang

ở giai vị Bồ tát thì tự mình cầu chứng đắc quả vị Bồ đề rộng

Trang 33

lớn viên mãn, đến lúc đạt được quả Phật, thì có thể đem quả

vị này bố thí cho chúng sanh được sự thắng lợi to lớn Thế nào là sự thắng lợi to lớn? Các bậc Thanh văn phải đầy đủ ba học (giới định tuệ) thì mới được sự hoàn thiện trong ba thời, còn Bồ tát chỉ cần thọ trì giới pháp thì đã được sự hoàn thiện trong ba thời, nghĩa là lúc mới phát tâm, nói rộng về việc lợi ích tự tha, đây gọi là sơ thiện, kế đó thực sự làm lợi ích tất cả chúng sanh, đây gọi là trung thiện, cuối cùng chứng được quả Phật, đây gọi là hậu thiện

B2 Nói chi tiết về tất cả giới

Có ba phần Phần một là giới pháp, phần hai là lãnh thọ giới pháp, phần ba là phòng hộ giới pháp

C1 Giới pháp

Phần một lại có bốn phần: (1) phân biệt, (2) tự tánh, (3) nhân duyên đầy đủ, (4) tập hợp đầy đủ nghĩa thiết yếu

D1 Phân biệt

E1 Phân biệt sở y

Bồ tát nhất thiết giới là gì? Nói sơ lược, Bồ tát giới có hai loại: (a) xuất gia giới và (b) tại gia giới Đây gọi là Nhất thiết giới

Chỗ y chỉ có hai: một là Bồ tát tại gia, hai là Bồ tát xuất gia, cùng tất cả những người thuộc về hai chúng Bồ tát này Như vậy, những giới pháp mà hai hàng tại gia, xuất gia y chỉ được gọi là tất cả giới pháp Do vì mỗi người y chỉ học tập tất cả giới pháp, nên gọi là Bồ tát tại gia, Bồ tát xuất gia

Trang 34

Lại nữa, ngài Tối Thắng Tử (Jinaputra) có nói: “Ba ác đạo và cõi trời chỉ có sự tự nhiên thọ giới, nghĩa là chỉ có giới pháp tại gia; riêng cõi người thì có cả hai loại giới pháp, tại

gia và xuất gia.”” Tát Mục Trát Sớ (The commentary

attributed to Samudramegha) nói: “Ba ác đạo và cõi trời sắc giới, không thọ giới từ người khác, mà chỉ có sự tự nhiên thọ giới; còn cõi trời người trong dục giới thì có hai cách thọ giới: tự nhiên thọ giới và thọ giới từ người khác, cho nên có hai loại giới tại gia và xuất gia Như vậy, người thọ giới pháp

Bồ tát, sau khi chết, tuy luân chuyển trong ba cõi, nhưng giới thể vẫn vĩnh viễn không mất, tùy chỗ thọ sanh, tự nhiên được lại giới thể.”

Nói tóm lại, người thọ giới, tuy sau khi mất, lưu chuyển trong ba cõi, nhưng giới thể của Bồ tát tịnh giới vẫn duy trì liên tục, vĩnh viễn không mất Ở đây, nói có hai loại tại gia và xuất gia là do các vị Bồ tát có thọ trì đầy đủ năm loại giới xuất gia (sa di, sa di ni, thức xoa ma na, tỳ kheo, tỳ kheo ni) hay không mà có sự phân biệt

E2 Phân biệt tự tánh

Y vào hai loại tịnh giới tại gia và xuất gia mà nói sơ lược

ba loại: (1) luật nghi giới, (2) nhiếp thiện pháp giới, (3) Nhiếp hữu tình giới

Y cứ vào hai phần tịnh giới tại gia và xuất gia này, nói sơ lược về ba loại: (1) luật nghi giới, (2) nhiếp thiện pháp giới, (3) Nhiếp hữu tình giới Ba loại giới này hàm nhiếp tất cả giới pháp mà Bồ tát thọ trì

Vì sao ba loại giới trên có tên như vậy? Theo các bộ

sớ giải khác, có hai lối giải thích: (1) Có người nói: “Trong Thanh văn thừa có ba loại luật nghi, giống như ba tụ giới ở

Trang 35

đây, nghĩa là (a) biệt giải thoát luật nghi, hàng phục phiền não, (b) tĩnh lự luật nghi, tạm thời dứt hết các duyên, (c) vô lậu luật nghi, vĩnh viễn đoạn trừ tất cả phiền não.” (2) Lại có người nói: “Hạnh của Bồ tát, phát khởi từ hai việc: (a) tự thành tựu chính mình và (b) thành tựu người khác (a) Do vì muốn tự thành tựu chính mình mà xa lìa hành động ác, tích tập công hạnh lành, cho nên có hai loại giới luật nghi và nhiếp thiện pháp, (b) do vì muốn thành tựu người khác, cho nên phải gìn giữ Nhiếp hữu tình giới Đây là ý nghĩa của ba

tụ giới của Bồ tát.” Trong hai lối giải thích vừa nêu trên, chúng ta nên y theo lối giải thích thứ hai

Vì sao lại sắp đặt ba giới theo thứ tự trên (luật nghi,

nhiếp thiện pháp và nhiếp hữu tình)? Tát Mục Trát Sớ nói:

“Giới viễn ly (nhiếp luật nghi) thì chung cho Bồ tát và Thanh văn, còn hai giới sau (nhiếp thiện, nhiếp chúng sanh), tuy đều lấy giới luật nghi làm nhân, thế nhưng, khi hành trì thì không thể lộn lạo Hành trì không lộn lạo, nghĩa là tự mình chưa được đắc độ thì chưa thể độ người khác, tự mình chưa đoạn trừ phiền não thì chưa thể đoạn trừ phiền não cho người khác, tự mình chưa tu pháp lành, thì chưa thể làm lợi ích cho chúng sanh (nhiêu ích hữu tình) Cho nên nói theo thứ tự trên.”

D2 Tự tánh

E1 Nhiếp luật nghi giới

Nhiếp luật nghi giới, tức là bảy giới biệt giải thoát [tỳ kheo, tỳ kheo ni, thức xoa ma na, sa di, sa di ni, ưu bà tắc

và ưu bà di] mà Bồ tát thọ trì Bảy loại giới này được phân làm giới tại gia và giới xuất gia Đây gọi là Bồ tát luật nghi giới

Trang 36

[Nhiếp] luật nghi giới là giới biệt giải thoát của bảy chúng (giới tỳ kheo, giới tỳ kheo ni, giới thức xoa ma na, giới sa di, giới sa di ni thuộc về giới xuất gia; giới cận sự nam, giới cận

sự nữ thuộc về giới tại gia) mà các Bồ tát thọ trì

Trên nguyên tắc, giới biệt giải thoát có tám loại, nhưng ở đây không liệt kê cận trụ giới (bát quan trai giới)

Bồ Tát Giới Nhị Thập Tụng Nan Thích của ngài Bồ Đề Hiền

(Bodhibhadra) nói: “Giới này chỉ thọ trì một ngày đêm, không phải là điều khó làm, không vĩnh viễn xa lìa sự dâm dục, không thọ trì liên tục trong thời gian lâu dài, cho nên

không liệt kê.” Tát Mục Trát Sớ (Samudramegha) nói: “Giới

cận trụ là chỗ an trụ chánh yếu của cận sự nam và cận sự nữ,

và vì được bao hàm trong giới cận sự cho nên không liệt kê.” Lại nói: “Giới thức xoa ma na được bao hàm trong giới tỳ kheo ni.” Hai điều này hình như không đúng

Hỏi: Nếu vậy, giới luật nghi của Bồ tát có khác biệt với giới

luật nghi của bảy chúng hay không? Nếu nói khác biệt, thì

tương phản với lập luận của Bồ Tát Địa, bởi vì trong Bồ Tát

Địa, ngoài giới luật nghi của bảy chúng ra, không thấy nói

đến các giới khác Còn nếu nói không khác biệt, thì phải giống như giới biệt giải thoát, nghĩa là Bồ tát sau khi mạng chung, giới thể luật nghi sẽ bị mất, và như vậy các hàng trời người, v.v , tuy muốn phát tâm tu học ba tụ tịnh giới của Bồ tát, chung quy, cũng không thể đắc được giới thể luật nghi của Bồ tát?

Đáp: Nếu là Bồ tát xuất gia đầy đủ Bồ tát giới thì trong năm

loại giới biệt giải thoát của chúng xuất gia tùy thọ một loại thì đó tức là giới luật nghi của Bồ tát; còn hàng Bồ tát tại gia đối với hai loại giới biệt giải thoát của hàng tại gia, tùy thọ một loại, tức là giới luật nghi của Bồ tát Hàng trời người, dù không thể thọ trì giới biệt giải thoát, cũng vẫn có thể đắc

Trang 37

được giới thể của Bồ tát, nghĩa là xa lìa mười nghiệp bất thiện, hoặc là xa lìa bảy nghiệp bất thiện của thân và miệng tức là giới luật nghi Bảy việc xa lìa này là xa lìa tánh tội, có công năng giống như bảy loại giới biệt giải thoát, nhưng không phải là giới biệt giải thoát thực sự

Bồ Đề Đạo Đăng Luận Sớ (Lamp of the Path) nói: “Bồ

tát luật nghi giới là bảy loại giới biệt giải thoát phòng hộ chế tội, giới phòng hộ tánh tội, và giới phòng hộ mười điều bất thiện.” Trong đây, phần đầu (bảy loại giới luật nghi) là thể của giới biệt giải thoát, còn phần sau (giới phòng hộ tánh tội,

và giới phòng hộ mười điều bất thiện) là tướng chung với bảy loại giới biệt giải thoát

Lại nữa, Ma Ni Hộ Niệm Trang Nghiêm Luận

(Muni-Jmatālamkāra) nói: ”Luật nghi giới là giới ngăn chặn, nghĩa

là phải như thực xa lìa bảy ác (thân ba, khẩu bốn), mà lại có thể sinh khởi ba loại pháp lành là vô tham, vô sân, và chánh kiến.” Bộ luận trên lại nói: “Sau khi sinh khởi (ba loại pháp lành), lại do đầy đủ lực tăng thượng của giới, nên có thể thành tựu mười nghiệp lành.”

Bồ Tát Giới Nhị Thập Tụng Nan Thích nói: “Giới luật

nghi mà Bồ Tát Địa đề cập đến chính là bảy loại giới biệt giải thoát mà Bồ tát thọ trì Nên biết giới biệt giải thoát là một phần của Bồ tát giới Người đầy đủ biệt giải thoát luật nghi là người có căn khí chánh thức thọ giới Bồ tát, được phép lãnh thọ những học xứ mà Bồ tát cần phải học Những luật nghi trong giới Bồ tát, chẳng hạn như cấm sát sanh, v.v , đều không khác với giới biệt giải thoát Nếu như chưa thể đình chỉ việc tạo nghiệp, như sát sanh, v.v , thì chưa thể trở thành căn khí thọ giới Bồ tát.” Đoạn văn trên muốn nói rằng

vì chưa đình chỉ những nghiệp sát sanh, v.v , cho nên chưa thể trở thành căn khí thọ giới Bồ tát Nếu suy ngẫm sâu xa, ý

Trang 38

nghĩa của sự đình chỉ cũng giống như trong giới biệt giải

thoát Bởi thế, Bồ Tát Địa cho rằng bảy loại giới biệt giải

thoát là một phần của Bồ tát luật nghi

Như phần sau có nói, trong giới Bồ tát, đối với bảy chi của thân và miệng như sát sanh, v.v , cũng có trường hợp khai duyên, nghĩa là trừ giới uống rượu ra, tất cả những chế tội (giá tội) khác, trong trường hợp bị bệnh hoạn, đều được khai duyên Điều này không giống như giới pháp của tỳ kheo, bởi vì muốn đắc giới tỳ kheo thì phải thọ toàn phần, chứ không thể chỉ thọ có một phần giới mà thôi Bồ tát luật nghi, trừ bảy chi giới của thân và miệng có sự khai duyên ra, các điều giới khác cũng phải giống như giới biệt giải thoát, nghĩa là phải thà mất thân mạng, quyết giữ gìn không cho vi phạm

Bồ Đề Đạo Đăng Luận [kệ 20] nói:

Chỉ người nào lập thệ lâu bền, Giữ một trong bảy biệt giải thoát, Mới đủ tư cách phát Bồ đề, Ngoài ra, không có cách nào khác

Ý bài kệ muốn nói nếu như chưa thể tùy thuận hành tướng của bảy loại giới biệt giải thoát thì không thể sanh khởi giới luật nghi của Bồ tát Điều này có nghĩa là nếu không có cộng tướng của bảy loại giới biệt giải thoát thì không thể sanh khởi Bồ tát tịnh giới, chứ không có nghĩa là không có biệt tướng của bảy loại giới biệt giải thoát, không thể sanh khởi

Bồ tát tịnh giới Bồ Đề Đạo Đăng Luận Sớ nói: “Bài kệ muốn chỉ rõ sự y chỉ thù thắng của tịnh giới.” Điều này trong Bồ

Tát Giới Nhị Thập Tụng Nan Thích của ngài Bồ Đề Hiền cũng

đã nói rõ Ở đây chỉ nói tóm lược lại những ý nghĩa đã góp nhặt trong đó mà thôi

Trang 39

Có hai lập luận khác nhau: (1) phải nương vào giới biệt giải thoát, như nói: “Nếu muốn sanh khởi và an trụ trong Bồ tát luật nghi, phải nên y chỉ giới biệt giải thoát”, (2) không nên nương vào giới biệt giải thoát, như nói: “Giới biệt giải thoát là của Thanh văn, nó sẽ chướng ngại Bồ tát luật nghi.”

Phái chủ trương phải nương vào giới biệt giải thoát nói: “Có Bồ tát biệt giải thoát (nhiếp luật nghi) tức là phải có giới biệt giải thoát của bảy chúng của Đại thừa và Tiểu thừa

Ở đây dùng sự không tổn não chúng sanh làm cộng tướng cho giới biệt giải thoát của hai Thừa, phải nên y chỉ vào cộng tướng này, không được tổn não tất cả chúng sanh có ơn với chúng ta Đến như sự khác biệt của giới biệt giải thoát của hai thừa Đại, Tiểu, chẳng hạn như giới thể tương tục không đoạn, giữ ý cho người khác, sau khi phạm giới có thể sám hối thanh tịnh, thường ưa thích làm lợi ích chúng sanh là giới biệt giải thoát của Đại thừa mà trong giới Tiểu thừa không

có Nếu không phân biệt cộng tướng và bất cộng tướng, thì chư Bồ tát sẽ y vào giới biệt giải thoát của Tiểu thừa, và sẽ đi ngược lại với tông chỉ Bồ tát của mình Bồ tát thực sự dùng giới biệt giải thoát của Đại thừa làm học xứ chánh yếu, làm

chỗ y chỉ, và điều này không có sự mâu thuẫn nào cả Bảo

Vân Kinh nói: “Biệt giải thoát luật nghi (của Tiểu thừa) có sự

khác biệt với pháp học của Bồ tát.” Lại nữa, bảy chúng của Đại thừa, khi lãnh thọ, hoặc hộ trì giới luật, phải y như những điều giảng dạy trong các bộ Tỳ nại da (luật tạng) mà hành trì

Những điều vừa nêu lên hoàn toàn không hợp lý Nếu như Bồ tát luật nghi phải y vào giới biệt giải thoát của bảy chúng mà phát khởi, thì hàng trời người (chưa thọ giới của bảy chúng) không thể sanh khởi Bồ tát luật nghi Nếu như

Trang 40

nhất định phải nương vào giới biệt giải thoát để an trụ, thì chúng sanh sau khi chết, luân chuyển trong sanh tử, tại mỗi nơi thọ sanh, đều không mất giới biệt giải thoát; nếu thế, trời, người, súc sanh, đều có giới tỳ kheo (một cách tự nhiên, không cần phải thọ giới) Do đây, sự sanh khởi của Bồ tát

luật nghi, không cần phải nương vào giới biệt giải thoát Mâu

Ni Hộ Niệm Trang Nghiêm Luận cũng có nói: “Nếu cho rằng

Bởi vậy, khi Bồ Tát Địa nói Bồ tát luật nghi giới là giới

biệt giải thoát của bảy chúng, nên biết điều này có hai phần: một là giới biệt giải thoát căn bản của bảy chúng, và hai là phần giới tướng của tánh tội của giới biệt giải thoát chung với Bồ tát luật nghi, chứ không phải chỉ là giới biệt giải thoát của bảy chúng Trong đây, giới tướng của tánh tội của giới biệt giải thoát chung với Bồ tát luật nghi và Bồ tát luật nghi, được sanh khởi cùng lúc, bởi vì không có sự phân biệt giữa giới tướng của tánh tội và năng y sở y của Bồ tát luật nghi

Như vậy, dù chưa thọ giới biệt giải thoát căn bản của bảy chúng, vẫn có thể sinh khởi (lãnh thọ) Bồ tát luật nghi Thế nhưng, tốt nhất vẫn phải như pháp, nương vào giới biệt

Từ khóa » Du Già Bồ Tát Giới Pdf