Tạp Chí Nghiên Cứu Kinh Tế Và Kinh Doanh Châu Á

Đăng kýĐăng nhập Toggle navigation Giới thiệuHội đồng biên tậpNhân sự tạp chíNhân sự tạp chí các thời kỳChính sáchChính sách xuất bảnHướng dẫn dành cho ban biên tậpHướng dẫn dành cho phản biệnHướng dẫn dành cho tác giảĐạo đức xuất bảnHội thảo và tọa đàmGửi bài viếtTin tứcĐối tácHướng dẫn sử dụngHướng dẫn tạo và chỉnh sửa tài khoảnHướng dẫn gửi bài và chỉnh sửaHướng dẫn sử dụng hệ thống cho phản biệnLiên hệĐặt mua tạp chí

e-ISSN: 2515-964X

(Emerald - English version)

p-ISSN 2615-9104

(old version)

Đã vào

SEE US ON

Gửi bài viết Tra cứu bài viết Hướng dẫn gửi bài Hội đồng biên tập Đặt mua tạp chí Số đặc biệt Bài báo công khai

Phản biện

Bài viết phản biện

Số Tạp chí

Thông báo

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU KINH TẾ VÀ KINH DOANH CHÂU Á

“The International Journal Devoted to the Study and Promotion of Business and Economic Sustainability”

Tôn chỉ & Mục đích

Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á (Journal of Asian Business and Economic Studies – JABES) – tiền thân là Tạp chí Phát triển kinh tế (Journal of Economic Development – JED), trực thuộc Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh. Đây là Tạp chí khoa học về lĩnh vực kinh tế và kinh doanh bao gồm hai phiên bản: Phiên bản tiếng Việt (JABES-V) và Phiên bản tiếng Anh (JABES-E). JABES-V xuất bản 12 số/năm, được Hội đồng Giáo sư Nhà nước tính điểm cao trong các Tạp chí khoa học xuất bản tại Việt Nam. JABES-E phát hành 4 số/năm trên hệ thống Nhà xuất bản Quốc tế Emerald từ tháng 5/2018, và được Hệ thống dữ liệu Scopus xếp hạng Q1 từ tháng 6/2023.

JABES định hướng xuyên suốt các nghiên cứu về giải pháp chính sách và hàm ý quản trị tiềm năng cả về phương diện lý thuyết và thực tiễn và đồng thời JABES luôn nỗ lực tìm kiếm các tiếp cận nhằm cải thiện tính bền vững và đổi mới sáng tạo theo thông lệ nghiên cứu quốc tế của lĩnh vực kinh tế và kinh doanh.

Quan điểm JABES theo đuổi định hướng “Phát triển bền vững” và “Đổi mới sáng tạo” hoàn toàn phù hợp với xu thế chung của các quốc gia, các khu vực và toàn cầu trong bối cảnh biến đổi khí hậu và cách mạng công nghiệp lần thứ tư, là một quá trình mà tất cả cộng đồng khoa học và thực tiễn đều nỗ lực thay đổi hướng đến lợi ích lâu dài của quốc gia, khu vực kinh tế, tổ chức, tập đoàn, doanh nghiệp, và các cá nhân.

JABES kỳ vọng nhận được các bài báo nghiên cứu về các chủ đề kinh tế và kinh doanh ở phạm vi toàn cầu, khu vực, quốc gia, và cả ở địa phương; đồng thời, JABES cũng chào đón các nghiên cứu có giá trị về mặt chính sách từ các nhà nghiên cứu và thực tiễn đến từ các tổ chức quốc tế, chính phủ, các tổ chức thuộc khu vực công và tư, cộng đồng địa phương, các tổ chức phi chính phủ và doanh nghiệp. JABES luôn mong đợi các đề xuất, gợi ý chính sách và các hàm ý quản trị cho lĩnh vực kinh tế và kinh doanh từ các bài viết là kết quả phân tích cẩn trọng dựa trên khung lý thuyết chuẩn và bằng chứng nghiên cứu thực nghiệm theo thông lệ quốc tế.

Các bài báo sắp xuất bản

Quyền miễn trách nhiệm

Thông tin và nội dung được giới thiệu trong các ấn phẩm của JABES phản ánh quan điểm của tác giả và cộng sự. Vì vậy, JABES không chịu trách nhiệm đối với những sai sót và hệ quả phát sinh từ vấn đề sử dụng thông tin trong các bài viết.

JABES không chịu bất kỳ trách nhiệm pháp lý nào về sự sai sót và thiếu chính xác của các dữ liệu, thông tin, đánh giá, hay nhận định bắt nguồn từ độ tin cậy của thông tin cũng như quan điểm được thể hiện trong các bài viết.

Số sắp tới: Tháng 12/2025 Năm thứ 36, Số 12 Các số trước: Tháng 11/2025 Năm thứ 36, Số 11 Tháng 10/2025 Năm thứ 36, Số 10 Tháng 9/2025 Năm thứ 36, Số 9 Tháng 8/2025 Năm thứ 36, Số 8 Công ty có rủi ro thao túng số liệu kế toán cao hơn liệu có tránh thuế nhiều hơn? Bằng chứng dựa trên chỉ số Beneish M-Score và thuế suất hiệu dụng từ thị trường mới nổi Việt Nam (trang *-*) Phạm Thị Hồng Quyên Bản điện tử: 09 Feb 2026 | DOI: Tóm tắt | Bài viết | PDF(0K) Tóm tắt

Nghiên cứu kiểm định mối liên hệ giữa rủi ro thao túng số liệu kế toán và tránh thuế của các doanh nghiệp niêm yết phi tài chính Việt Nam giai đoạn 2016-2023. Tránh thuế được đo lường bằng thuế suất hiệu dụng kế toán (ACE) và thuế suất hiệu dụng dòng tiền (CFE), trong khi rủi ro thao túng được đo bằng Beneish M-score. Trên dữ liệu bảng, mô hình được ước lượng với hiệu ứng cố định theo ngành và năm, đồng thời vận dụng ước lượng GLS để xử lý phương sai thay đổi. Kết quả cho thấy M-score tương quan nghịch chiều với ACE nhưng đồng biến với CFE, hàm ý mối liên hệ giữa thao túng báo cáo và hành vi thuế phụ thuộc vào lớp đo lường thuế ghi nhận trên BCTC so với thuế thực nộp bằng tiền. Các kiểm định độ bền theo ngưỡng winsorize xác nhận dấu và ý nghĩa thống kê của kết quả là ổn định. Nghiên cứu bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho tranh luận bổ trợ-đánh đổi trong bối cảnh thị trường mới nổi, đồng thời gợi mở hàm ý quản trị rủi ro cho cơ quan thuế, nhà đầu tư và kiểm toán viên. <br><br> Abstract <br> This study examines the relationship between accounting manipulation risk and tax avoidance in Vietnamese non-financial listed companies from 2016 to 2023. Tax avoidance was measured using the accounting effective tax rate (ACE) and the cash flow effective tax rate (CFE), whereas the Beneish M-score assessed manipulation risk. Using panel data, the GLS model was employed to account for heteroskedasticity with industry-year fixed effects. The results showed that the M-score was inversely correlated with ACE but positively correlated with CFE, implying that the relationship between manipulation risk and tax behavior depends on the tax measurement class recorded in financial statements compared to actual cash tax paid. Winsorize strength tests confirmed the sign and statistical significance of the results. The study provides empirical evidence for the trade-off argument in the context of emerging markets, with implications for tax authorities, businesses, investors, and auditors.

Chuyển đổi số trong kinh tế phi chính thức: Các yếu tố quyết định áp dụng bán lẻ đa kênh của tiểu thương tại chợ truyền thống ở Đà Nẵng, Việt Nam (trang *-*) Đặng Thị Thu Trang & Phạm Thảo Nguyên Bản điện tử: 30 Jan 2026 | DOI: Tóm tắt | Bài viết | PDF(0K) Tóm tắt

Chuyển đổi số đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với khu vực kinh tế phi chính thức, đặc biệt là các tiểu thương chợ truyền thống trước sức ép cạnh tranh gay gắt từ thương mại điện tử. Tuy nhiên, các yếu tố thúc đẩy nhóm đối tượng “yếu thế” này áp dụng bán lẻ đa kênh – bước đi khởi đầu quan trọng của quá trình chuyển đổi số – vẫn chưa được làm rõ. Nghiên cứu này lấp đầy khoảng trống đó bằng cách phát triển và kiểm định một mô hình tích hợp ba lý thuyết nền tảng (TPB, TAM, TOE) trên dữ liệu khảo sát 457 tiểu thương tại các chợ truyền thống. Kết quả phân tích PLS-SEM chỉ ra rằng Thái độ đóng vai trò trung tâm, không chỉ là yếu tố tác động trực tiếp mạnh nhất đến ý định, mà còn là cơ chế trung gian thiết yếu chuyển hóa các nhận thức về công nghệ (nhận thức tính dễ sử dụng, nhận thức tính hữu ích) thành quyết tâm hành động. Đáng chú ý, các yếu tố môi trường, đặc biệt là sự hỗ trợ của Chính phủ và áp lực cạnh tranh, được xác định là những động lực ngoại sinh quan trọng. Kết quả nghiên cứu đề xuất xây dựng các chương trình đào tạo tại chỗ và thiết kế giải pháp công nghệ "bình dân hóa" nhằm thúc đẩy chuyển đổi số thành công tại các chợ truyền thống. <br><br> Abstract <br> Digital transformation is becoming an urgent imperative for the informal economy, particularly for traditional market vendors facing intense competitive pressure from e-commerce. However, the factors driving this “vulnerable” group to adopt multi-channel retailing - a critical initial step in the digital transformation process - remain unclear. This study addresses this gap by developing and validating an integrated model based on three foundational theories (TPB, TAM, and TOE) using survey data from 457 traditional market vendors. PLS-SEM analysis results indicate that Attitude plays a central role, serving not only as the strongest direct predictor of intention but also as a vital mediating mechanism that translates technological perceptions (perceived ease of use, perceived usefulness) into behavioral intent. Notably, environmental factors, specifically Government support and competitive pressure, are identified as significant exogenous motivators. The findings suggest developing on-site training programs and designing “accessible and user-friendly” technological solutions to promote successful digital transformation in traditional markets.

Tác động của học hỏi tổ chức tới kết quả hoạt động trong các doanh nghiệp Việt Nam (trang *-*) Nguyễn Duy Thành Bản điện tử: 05 Feb 2026 | DOI: Tóm tắt | Bài viết | PDF(0K) Tóm tắt

Bài báo này phân tích mối quan hệ giữa học hỏi tổ chức, quá trình quản trị tri thức và kết quả hoạt động tại 284 doanh nghiệp sản xuất chế tạo tại 25 tỉnh/thành phố của Việt Nam. Trong đó, học hỏi tổ chức và kết quả hoạt động là các biến cấu trúc bậc 1, còn quản trị tri thức là biến cấu trúc bậc 2 gồm 4 biến tiềm ẩn là: Thu thập, chuyển giao, ứng dụng và bảo vệ tri thức. Kết quả ước lượng OLS trên mô hình PLS-SEM chỉ ra rằng học hỏi tổ chức và quá trình quản trị tri thức tác động tích cực tới kết quả hoạt động định hướng tri thức. Tuy nhiên, quá trình quản trị tri thức có tác động lớn hơn học hỏi tổ chức tới kết quả hoạt động. Đồng thời, quá trình quản trị tri thức đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa học hỏi tổ chức và kết quả hoạt động trong các doanh nghiêp Việt Nam. <br><br> Abstract <br> This paper analyzes the relationship between organizational learning, knowledge process capability, and firm performance across 284 manufacturing enterprises in 25 provinces and cities in Vietnam. Among these variables, organizational learning and firm performance are first-order constructs, while knowledge process management is a second-order construct, comprising 4 latent variables, including: Knowledge acquisition, knowledge transfer, knowledge application, and knowledge protection. The estimation results following OLS methodology using the PLS-SEM model indicate that both organizational learning and the knowledge process capability have a positive impact on firm performance. However, knowledge process capability has a bigger effect on firm performance than organizational learning. Furthermore, the knowledge process capability also plays a mediating role in the relationship between organizational learning and firm performance in Vietnamese enterprises.

MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẠO ĐỨC LÃNH ĐẠO VÀ NHẬN THỨC GIAN LẬN: VAI TRÒ TRUNG GIAN CỦA MÔI TRƯỜNG AN TOÀN TÂM LÝ (trang *-*) Lê Thanh Tra Bản điện tử: 28 Jan 2026 | DOI: Tóm tắt | Bài viết | PDF(0K) Tóm tắt

Nghiên cứu này xem xét ảnh hưởng của đạo đức lãnh đạo đến nhận thức gian lận, đồng thời phân tích vai trò trung gian của môi trường an toàn tâm lý trong mối quan hệ này. Dữ liệu được thu thập từ 249 kiểm toán nội bộ đang làm việc tại các doanh nghiệp ở Việt Nam thông qua khảo sát bằng bảng câu hỏi. Kết quả nghiên cứu được kiểm định mô hình đo lường và mô hình cấu trúc thông qua phần mềm SmartPLS4 đánh giá các qỉa thuyết. Kết quả cho thấy đạo đức lãnh đạo có tác động tích cực đến nhận thức gian lận và môi trường an toàn tâm lý đóng vai trò trung gian đáng kể trong mối quan hệ giữa hai yếu tố này. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra các hàm ý lý thuyết và thực tiễn liên quan đến việc thúc đẩy đạo đức lãnh đạo và nâng cao nhận thức gian lận trong tổ chức. <br><br>Abtract<br> This study examines the effect of ethical leadership on fraud awareness and analyzes the mediating role of psychological safety climate in this relationship. Data were collected from 249 internal auditors working in Vietnamese enterprises through a questionnaire survey. The measurement model and structural model were assessed using SmartPLS 4 to test the proposed hypotheses. The findings indicate that ethical leadership has a positive impact on fraud awareness, while psychological safety climate plays a significant mediating role in the relationship between these two variables. Based on these results, the study provides important theoretical and practical implications for promoting ethical leadership and enhancing fraud awareness within organizations.

Tác động của hệ thống kế toán quản trị và kiểm soát đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Vai trò của đổi mới sáng tạo mở hướng nội (trang *-*) Trần Thị Quanh & Lê Đình Trực & Phạm Ngọc Toàn Bản điện tử: 05 Feb 2026 | DOI: Tóm tắt | Bài viết | PDF(0K) Tóm tắt

Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của hệ thống kế toán quản trị và kiểm soát đến đổi mới sáng tạo mở hướng nội và kết quả hoạt động kinh doanh, đồng thời kiểm định vai trò trung gian của đổi mới sáng tạo mở hướng nội. Kết quả phân tích dữ liệu từ 262 doanh nghiệp vừa và lớn tại Việt Nam từ phần mềm SmartPLS4 cho thấy việc sử dụng hệ thống kế toán quản trị và kiểm soát chẩn đoán và tương tác đều có ảnh hưởng tích cực đến đổi mới sáng tạo mở hướng nội. Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh thông qua đổi mới sáng tạo mở hướng nội. Nghiên cứu đóng góp thêm vào tài liệu học thuật về việc sử dụng hệ thống kế toán quản trị kết hợp khung đòn bẩy kiểm soát của Simons (1995) trong bối cảnh đổi mới sáng tạo mở. Bên cạnh đó, bài báo cung cấp hàm ý quản trị quan trọng cho các nhà quản lý trong việc sử dụng hệ thống kế toán quản trị và kiểm soát, tích cực tiếp thu các kiến thức và công nghệ từ bên ngoài nhằm nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. <br><br>Abstract <br> This study examines the impact of management accounting and control systems on inbound open innovation and firm performance, while also testing the mediating role of inbound open innovation. Analysis of data from 262 medium and large enterprises in Vietnam using SmartPLS4 software shows that the use of both diagnostic and interactive management accounting and control systems positively influences inbound open innovation. Furthermore, it also affects firm performance through inbound open innovation. This study contributes to the academic literature on the use of management accounting system combined with levers of control framework of Simons (1995) in the context of open innovation. In addition, the article provides important managerial implications for managers in using management accounting and control systems, actively acquiring external knowledge and technology to improve firm performance.

Tin tức
Bình đẳng giới và vai trò của phụ nữ trong phát triển bền vững tại châu Á
21/11/2025

Đó là chủ đề của Hội thảo Khoa học Quốc tế HERASIA 2025 do Học viện Phụ nữ Việt Nam phối hợp với Tạp chí Kinh tế & Kinh doanh Châu Á - JABES (Scopus Q1) tổ chức. Hội thảo hướng tới mục tiêu xây dựng một diễn đàn học thuật liên ngành, nơi tri thức, chính sách và thực tiễn được kết nối để thúc đẩy bình đẳng giới trong bối cảnh phát triển bền vững toàn cầu.

Tọa đàm học thuật JABES Seminar Talks 2025 về chủ đề Thuế “xanh” và tự động hóa
30/10/2025

Ngày 30/10/2025, Giáo sư Nadia Doytch đến từ City University of New York (CUNY, USA) đã trực tiếp đến Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (UEH) chia sẻ và trao đổi về học thuật. Đây là hoạt động trong khuôn khổ chuyến công tác và làm việc với UEH, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á (JABES) về hợp tác nghiên cứu khoa học và kế hoạch xuất bản tạp chí khoa học theo chuẩn quốc tế.

Hội thảo Khoa học Quốc tế về Kinh tế và Kinh doanh Châu Á lần thứ 7 (ACBES 2025): Những đổi mới và thành tựu
14/08/2025

Ngày 14‒15 tháng 8 năm 2025, Hội thảo Khoa học Quốc tế về Kinh tế và Kinh doanh Châu Á lần thứ 7 (the 7th Asia Conference on Business and Economics Studies – ACBES 2025), thuộc chuỗi hội thảo thường niên do Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á (JABES) - Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (UEH) tổ chức với hơn 350 học giả từ 45 quốc gia tham dự đã diễn ra thành công tốt đẹp.

Từ khóa » Các Bài Báo Khoa Học Về Kinh Tế Quốc Tế