TẬP HUẤN TRỒNG CHÈ - CÔNG TY QUYẾT THẮNG

CÔNG TY CP NÔNG LÂM NGHIỆP QUYẾT THẮNG QUẢNG NAM

TÀI LIỆU TẬP HUẤN

QUY TRÌNH TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY CHÈ XANH

THÔN BAN MAI- XÃ BA - ĐÔNG GIANG - TỈNH QUẢNG NAM

A/ Giới thiệu chung:

Cây chè (Camellia sinensis) là cây công nghiệp dài ngày có nguồn gốc vùng cận nhiệt đới, bộ phận thu hoạch là lá và chồi non (chiếm 8-13% sinh khôi của cây). Cây chè ưa điều kiện ẩm ướt, râm mát và ưa ánh sáng tán xạ, giới hạn nhiệt độ thích hợp trong khoảng 15-28°C. Vùng núi cao sương mù nhiều, ẩm ướt, nhiệt độ thấp, biên độ nhiệt ngày đêm lớn là điều kiện thuận lợi để sản xuất chè.

Đất trồng chè Việt Nam phần lớn là đất đỏ vàng feralit (tích lũy sắt, nhôm) phát triển trên đá granit, phiến thạch sét và mica. Đất chua, nghèo chất hữu cơ, hàm lượng dinh dưỡng NPK tổng số, dễ tiêu và các chất dinh dưỡng trung và vi lượng đều nghèo.

Chè xanh là cây lấy lá và búp (tôm chè), cây chè không chỉ cần hút nhiều đạm, lân, kali mà còn cần nhiều yếu tố trung và vi lượng khác để sinh trưởng và phát triển.

Với diện tích trồng chè khoảng >140 ngàn ha, năng suất bình quân 8-10 tấn/ha/năm, Việt Nam đứng thứ 5 trên thế giới về sản xuất và chế biến chè, tuy nhiên giá chè của chúng ta chỉ bằng 60% giá chung trên thế giới.

Cây chè xanh ở Nước ta đều có mặt trên ba miền đất nước; Nhưng chủ yếu tập trung trồng nhiều ở Miền Bắc (Thái Nguyên, Phú Thọ…) và Tây Nguyên (Lâm Đồng, Gia Lai…). Ở Miền Trung cây chè được phân bố rải rác ở các tỉnh như: Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng Bình và Quảng Nam (Đông Giang, Núi Thành, Tiên Phước, Hiệp Đức...)

Các giống chè mới hiện nay:

Giống PH1; Giống chè Trung du; Giống LDP1; LDP2; Giống chè Kim Tuyên; Thúy Ngọc; Phúc Vân Tiên; Giống TB14; Giống LD 97; TRI 777…

Các giống chè thích hợp với miền Trung (có khí khí hậu khô, nóng…) như: Giống LDP1: Giống chè Trung du; LD 97; TRI 777; TB14. Mỗi giống chè có những đặc tính khác nhau.

1/ Giống chè TRI777

* Nguồn gốc:

- Đây là giống chè chè shan ở Chồ Lồng huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La được viện nghiên cứu chè Phú Hộ Việt Nam gửi hạt sang Srilanka để nghiên cứu chon lọc và nhập lại Việt Nam năm 1977. Mang số hiệu giống TRI 777

- Giống đã được công nhận giống quốc gia năm 1996

* Đặc điểm hình thái:

- Thân gỗ nhỡ, góc phân cành hẹp.

- Cây sinh trưởng khá, búp to có lông tuyết, mật độ búp thưa hơn các giống khác như Trung du, PH1.

- Tán tương đối rộng, số cành cấp 1 nhiều, lá xanh đen, phiến lá nhẵn, góc lá hơi xiên, lá dài 8,6 cm, rộng 3,3 cm, chóp lá rất nhọn, búp vừa trọng lượng búp 0,94g, búp có nhiều tuyết.

* Năng suất:

- Năng suất bình quân 7,82 tấn búp/ha (chè 2 - 4 tuổi), hơn giống chè Trung đu đại trà 13 - 18%.

- Giống chè TRI777 ở Phú Hộ với 8 tuổi 10-12 tấn búp/ha.

* Chất lượng:

- Búp chè có hàm lượng nước 75%, tanin 30,5%, chất hòa tan 42,5%, hàm lượng cafein 3,05%, đường khử 2,62%.

- Nguyên liệu dùng chế biến chè xanh, chè đen có chất lượng tương đối cao

* Tính chống chịu:

- Chịu được hạn và gió tây.

- Chống sâu bệnh trung bình (rầy xanh, nhện đỏ, cánh tơ).

- Chú ý phòng trừ bọ xít muỗi và rệp vẩy.

* Nhân giống:

- Nhân giống dễ dàng bằng giâm cành, Cây con có sức sinh trưởng khỏe, khi trồng có tỷ lệ sống cao.

2/Giống chè LDP1

* Nguồn gốc:

- Giống LDP1 là giống chè được chọn lọc từ hạt hữu tính năm 1981 tại Phú hộ, với mẹ là đại bạch trà (giống chè trung Quốc có chất lượng tốt) và bố là giống PH1 giống có năng suất cao.

- Giống do Viện nghiên cứu chè lai tạo, được công nhận giống quốc gia năm 2002.

* Đặc điểm hình thái:

- Cây sinh trưởng khỏe, phân cành thấp, mật độ cành dày, mật độ búp rất dày, sớm cho năng suất cao.

- Tán rộng, mật độ cành đều đặn, búp to trung bình.

- Nếu trồng, chăm sóc và đốn tạo hình hợp lý thì chè tuổi 3 có thẻ khép tán.

* Năng suất:

- Giống có khả năng cho năng suất cao. Chè tuổi 3 - 4, có thể đạt 5 - 7 tấn búp/ha.

- Các tỉnh Phú Thọ, Nghệ An, Yên Bái, Sơn La đều cho năng suất bình quân 15 tấn búp/ha.

* Chất lượng:

- Giống chè LDP1 có hàm lượng tanin 31,76%, chất hòa tan 42,61%, hàm lượng cafein tổng số 139,23mg/g chất khô.

- Nguyên liệu dùng chế biến chè xanh, chè đen cho chất lượng khá.

- Điểm thử nếm chè xanh 16,0 điểm, chè đen 16,3 điểm.

* Tính chống chịu:

- Giống chè LDP1 có khả năng chịu hạn hán và sâu bệnh tốt

- Giống có khả năng thích ứng rộng

* Nhân giống:

- Giống chè LDP1 dễ giâm cành và có hệ số nhân giống rất cao.

3/ Giống chè TB 14: Đây là giống chè Shan Trấn Ninh được hình tuyển tại B’Lao-Bảo Lộc.Là một trong những giống chè tốí ưu trong tập đoàn giống cuả Trung tâm thực nghiệm Nông nghiệp Bảo Lộc thơì Pháp thuộc, có từ những năm 50. Giống chè naỳ có lá maù xanh nhạt, hình thon dài, lá dài từ 10 đến 15cm. Gốc lá lớn, búp có rất nhiều lông tơ trắng, năng suất từ 18 đến 20 tấn/ha/năm. Chất lượng chè Shan TB14 rất tốt, phù hợp cho chế biến chè xanh,chè hương nội tiêu và cả chè đen.

4/ Giống chè LD 97: Là giống do TTNC Thực nghiệm chè Lâm Đồng chọn lọc từ năm 1993 đến 1997. Lá hình thon dài maù xanh đậm, búp chè có nhiều lông tơ trắng mịn một đặc điểm để xác định hương vị và chất lượng chè tốt hay không. Sau 5 đến 7 năm trồng,giống chè LD 97 có thể cho năng suất 18 đến 20 tấn/ha. Chè LD 97 chế biến chè hương sẽ tạo ra hương vị đặc trưng rất riêng và thơm ngon.

B/ QUY TRÌNH KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY CHÈ

I. THỜI KỲ KIẾN THIẾT CƠ BẢN

1. Chọn đất

Cây chè không yêu cầu nghiêm ngặt về đất, song cây chè thích hợp trên đất nhiều mùn, tơi xốp có tầng canh tác dày trên 50 cm, độ dốc bình quân không quá 25°. Khác với một số loại cây trồng khác, cây chè ưa đất có phản ứng chua (pH 5,0 – 5,5) để thuận tiện cho quá trình hấp thu tốt nhất dinh dưỡng khoáng của cây.

2. Chuẩn bị đất trồng chè

(Thời vụ làm đất: Tiến hành làm đất tối thiểu trước khi trồng 30-40 ngày).

- Cày rãnh trồng/ cuốc hố: Rãnh trồng được cày sâu 20-25cm hoặc cuốc hố theo hàng đã thiết kế, theo đường đồng mức (vành nón) với vùng đất có độ dốc trên 5°, vùng đất bằng hoặc có độ dốc thấp nên tiến hành cày toàn bộ bề mặt sâu 20-25cm, bừa san và tiến hành cày rãnh. Khoảng cách giữa các rãnh (hàng) tùy theo kiểu trồng và mật độ (1,4-1,5m/hàng; 0,4-0,5m/cây).

- Bón lót trước khi trồng

Bón lót trước khi trồng: Sau khi đào rãnh hàng xong bón lót phân hữu cơ 20 – 30 tấn/ha và 100 – 150 kg P2O5/ha, trộn phân vào đất trồng.

Cách bón: Trước khi trồng rải và đảo đều lượng phân hữu cơ, phân lân cùng một phần đất trong rãnh trồng, tiến hành lấp rãnh trồng cách mặt đất 7-10 cm.

3. Chọn cây giống và kỹ thuật trồng

3.1. Tiêu chuẩn cây giống

Cây giống cần đạt 8–10 tháng tuổi, có 6 – 8 lá thật trở lên, cao 25cm có 1/3 thân đã hóa gỗ, đường kính thân 2,5mm, cây không bị sâu bệnh dị hình, chiều cao tối thiểu 22cm (trên 30cm phải bấm ngọn); Bầu không bị vỡ và không nhiễm sâu bệnh.

3.2/ Thời vụ trồng:

Phía Bắc trồng chè vào tháng 1-3 và 8-9.

Phía Nam trồng chè vào tháng 2-4 và tháng 6-7

Miền Trung (Quảng Nam) trồng vào các tháng 9-11 và các tháng có lượng mưa dông nhiều và đất đủ độ ẩm.

Khoảng cách trồng: Theo thiết kế hàng cách hàng và cây cách cây 1,4x1,4; 0,4x0,4) = (17.000 – 18.000 cây/ha)

3.2. Kỹ thuật trồng

Cuốc hố rộng 20cm sâu 20-25cm, hốc cách hốc 40-50cm, dùng dao rạch nhẹ túi bầu (giữ nguyên bầu đất), đặt cây vào hốc theo cùng hướng để tiện chăm sóc, lấp đất và lèn chặt quanh bầu chè sau đó lấp một lớp đất tơi xốp lên mặt luống chè. Tiến hành tủ gốc giữ ẩm cho đất bằng phụ phẩm nông nghiệp (rơm rạ, thân cây đậu, lạc, các loại cây phân xanh hoặc cỏ khô) nếu có. Dự phòng lượng giống cùng loại (khoảng 7-10%) để trồng dặm khi cần thiết (năm thứ nhất và thứ hai chè vẫn chết).

Trồng dặm: chọn những cây tốt nhất, trồng dặm phải cuốc hố rộng và bón phân lót đầy đủ. Cây trồng dặm cần được chăm sóc kỹ hơn, tạo diều kiện tốt nhất cho chúng phát triển để đuổi kịp các cây trồng trước đó.

Đối với chè phân hữu cơ có vai trò rất quan trọng, nó không những cung cấp chất dinh dưỡng trực tiếp cho cây mà còn cải thiện lý tính đất như: làm cho đất tơi xốp, tăng kết cấu đất, tăng khả năng thấm và giữ nước của đất, tăng sự hoạt động của các hệ vi sinh vật trong đất và tăng thành phần dinh dưỡng khoáng cho đất, tạo điều kiện thuận lợi cho cây sinh trưởng và phát triển. Thực tế việc sử dụng phân bón hữu cơ cho cây chè thường khó khăn do đồi chè xa nhà, vận chuyển, đi lại khó khăn ở thời kỳ kinh doanh và cũng một phần vì nguồn phân hạn chế. Vì vậy, khi trồng chè nhất thiết phải bón đủ lượng phân hữu cơ và nên trồng xen cây phân xanh hoặc các cây họ đậu thời kỳ kiến thiết cơ bản để tăng lượng hữu cơ cho đất.

4. Trồng cây phân xanh và trồng xen cây họ đậu

Nên lựa chọn loại cây có sinh khối lớn, sinh trưởng và phát triển khỏe, bộ rễ ăn sâu và là cây có khả năng cố định đạm tự do (cốt khí, lạc dại) hoặc các cây họ đậu khác để trồng vừa tăng hệ số sử dụng đất lại vừa có vật liệu tủ gốc chè.

4.1. Cây cốt khí

Là cây trồng lâu năm có khả năng cộng sinh vi khuẩn cố định đạm, bộ rễ ăn sâu, cây phát triển khỏe, số lượng và chất lượng chất xanh khá.

Sau khi làm đất, đào rãnh trồng chè, giữa các rãnh nên tiến hành gieo 1-2 hàng cây cốt khí (thời vụ tốt nhất từ tháng 1 đến tháng 3). Cách gieo: 40-50cm cuốc một hố, mỗi hố gieo 3-5 hạt, lấp đất 2-3cm. Thời kỳ kiến thiết cơ bản của cây chè, cây cốt khí vừa làm nhiệm vụ che bóng, vừa hạn chế xói mòn và rửa trôi dinh dưỡng bề mặt, đồng thời lại có thể hấp thu dinh dưỡng tầng sâu để trả lại cho cây chè thông qua việc hoàn trả hữu cơ từ lá cây rụng. Khi cây chè sinh trưởng mạnh cần tỉa và đốn thưa cốt khí khoảng 1,0-1,5m để lại một cây.

4.2. Cây lạc (đậu Phộng)

Là cây trồng họ đậu hàng năm, có khả năng cộng sinh vi sinh vật cố định đạm, có sinh khối lớn và phát triển khỏe. Trồng xen lạc dại giúp tăng độ che phủ cho đất, giữ ẩm và chống xói mòn, rửa trôi dinh dưỡng trong đất. Thu hoạch thân cây tủ gốc giữ ẩm cho chè và cung cấp hữu cơ cho đất.

5. Trồng cây che bóng, chắn gió

Cây chè là loại cây ưa ánh sáng tán xạ nên việc trồng cây che bóng cho cây chè là điều cần thiết. Loại cây che bóng được trồng phổ biến là cây muồng lá nhọn, trồng vào mùa mưa, mật độ 150-250 cây/ha, trồng cây con và trồng cùng hàng chè. Hoặc có thể trồng xen cây ăn trái vừa che bóng vừa tăng hiệu quả kinh tế, mật độ trồng xen là: 12m x 14m (60 cây/ha).

Xung quanh lô nên trồng các loại cây muồng đen, keo lá tràm, keo tai tượng, trồng hàng kép nanh sấu, cây cách cây 3m, nên bố trí hàng chắn ngang hướng gió chính.

6. Làm cỏ, phá váng

Làm cỏ ngay khi cỏ còn non, chưa ra hoa, rụng hạt (3-4 lần/năm). Trồng chè nếu không được tủ gốc khi mưa to đất bị chặt, dí cần thiết phải xới phá váng (nên tiến hành vào ngày trời nắng ráo).

7. Đốn chè thời kỳ kiên thiết cơ bản

Cần thiết phải đốn chè, tạo tán để tăng cường quá trình hình thành cành thứ cấp giúp làm nền tảng cho phát triển năng suất thời kỳ kinh doanh (thời gian đốn từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau).

- Đốn lần 1(khi chè 2 tuổi): Khi đồi chè có 70% số cây cao trên 65cm và đường kính gốc trên 1 cm. Đốn thân chính cao 15-20 cm, cành 30-35 cm tùy theo giống (giống phân cành thấp, đốn thấp và ngược lại)

- Đốn lần 2(khi chè 3 tuổi): đốn cành chính cao 35-40cm, cành bên cao 45 cm và tạo tán bằng

8. Hái chè thời kỳ kiên thiết cơ bản

- Hái tạo hình trước đốn:

+ Chè tuổi 1: Thời điểm hái từ tháng 10 trở đi, bấm ngọn những cây cao trên 60 cm

+ Chè tuổi 2: Những cây to, khỏe hái cách mặt đất 50 cm trở lên.

- Hái tạo hình sau đốn:

+ Lần hái thứ nhất (tuổi 2): Đợt hái đầu, hái cách mặt đất 40-45 cm; Đợt hai sau, hái đọt, để lại 2 lá và lá cá (Lá cá và 2 lá thật).

+ Lần hái thứ hai (tuổi 3): Đợt hái đầu, hái cách vết đốn lần 1 từ 25-30 cm; Đợt hái sau, hái đọt, để lại 2 lá và lá cá (Lá cá và 2 lá thật).

9. Bón phân cho chè kiến thiết cơ bản

Tuổi chè

Loại phân

Lượng phân kg/ha

Số lần

Thời gian bón (tháng)

Tuổi 1

Ure

Super lân

Kali

85-90

180-190

55-60

04 lần

( lần đầu ít hơn lần sau)

2-3; 5-7;9-12 (khi trời mưa đủ độ ẩm trong đất), sạch cỏ dại

Tuổi 2

Ure

Super lân

Kali

Hữu cơ(nếu có)

130

180-190

75-80

15.000-20.000

04 lần

2-3; 5-7;9-12 (khi trời mưa đủ độ ẩm trong đất), sạch cỏ dại

Tuổi 3

Ure

Super lân

Kali

175-180

250-260

115-120

04 -5 lần

2-3; 5-7;9-12 (khi trời mưa đủ độ ẩm trong đất), sạch cỏ dại

- Cách bón: Rạch theo hàng chè sâu 5-10 cm cách gốc chè 35-40 cm, trộn đều các loại phân trước khi bón và rải theo rãnh sau đó lấp kín phân.

II. THỜI KỲ KINH DOANH

1/ Bón phân cho chè kinh doanh

1.1/ Nguyên tắc và hình thức bón phân

- Nguyên tắc chung:

+ Bón theo sức sinh trưởng và mức năng suất của đồi chè.

+ Cây chè cho năng suất thấp bón ít, năng suất cao bón nhiều.

+ Bón phân hữu cơ kết hợp cân đối các yếu tố khoáng đa lượng (N, P, K), bổ sung các yếu tố trung lượng và vi lượng khi cần thiết.

+ Bón đúng cách, đúng lúc, đúng đối tượng, bón lót, bón thúc kịp thời.

+ Tuỳ điều kiện đất, khí hậu mà quy định lượng, tỷ lệ bón các loại phân thích hợp.

- Có ba hình thức bón được áp dụng:

+ Bón lót.

+ Bón thúc vào đất.

+ Phun thúc qua lá.

1.2/ Qui trình bón phân cho cây chè thời kỳ kinh doanh

* Bón lót:

Thường ở giai đoạn này, có thể áp dụng hình thức bón lót 2 hoặc 3 năm 1 lần tùy theo chất đất tốt hay xấu. Đất giầu mùn thì 3 năm, đất ít mùn thì 2 năm một lần bón lót.

Thời gian và số lần bón tương tự như với chè KTCB. Có hai điểm khác biệt. Một là lượng phân hữu cơ nhiều hơn 10 tấn (25 - 30 tấn/ha), hai là bón sâu 15 - 20cm ở vị trí giữa hai hàng chè.

* Bón thúc:

- Với diện tích chè ở thời kỳ đang sung sức:

+ Tỷ lệ N/P/K = 2 - 3/1/1. Điều này có nghĩa là nên phối hợp giữa 3 yếu tố Đạm, Lân và Kali theo tỷ lệ cứ 2 đến 3 phần Đạm thì có 1 phân lân và 1 phần Kali để bón cho chè thời kỳ kinh doanh. Trong thương trường hiện nay có rất nhiều loại phân tổng hợp với các tỷ lệ N:P:K theo các công thức phối trộn rất khác nhau. Chúng ta nên chọn loại có tỷ lệ phối trộn N:P:K - 2:1:1 như 24 - 12 - 12 và 28 - 14 - 14 hoặc N:P:K - 3:1:1 như 36 - 12 - 12 và 42 - 14 - 14.

Năng suất càng cao thì tỷ lệ N (đạm) càng lớn. Một năm bón từ 3 - 4 lần theo sản lượng, có điều kiện nhân lực bón 5 lần hoặc mỗi tháng 1 lần đều tốt. Phân lân bón 1 lần đầu năm, phân kali bón 2 - 3 lần. Giành phần lớn lượng bón ở đầu vụ cho sản lượng và 1 phần nhỏ gần cuối vụ (tháng 9 - tháng 10) giúp cây qua đông.

+ Năng suất đọt dưới 6 tấn/ha bón liều lượng như sau: 100 - 120kg N + 40 - 60kg P2O5 + 60 - 80kg K2O/ha. Tương đương với 217 - 260kg urê + 235 - 353kg supe lân + 100 - 133kg KCl/ha.

+ Năng suất đọt từ 6 đến dưới 8 tấn/ha bón liều lượng như sau: 100 - 120kg N + 40 - 60kg P2O5 + 60 - 80kg K2O/ha. Tương đương với 260 - 390kg urê + 353 - 588kg supe lân supe lân + 133 - 200kg KCl/ha.

Bảng: Xác định loại phân bón, lượng bón và kỹ thuật bón cho chè kinh doanh thu búp

Loại chè

Loại phân

Lượng phân (Kg/ha)

Số lần bón

Thời gian bón (vào tháng)

Kỹ thuật bón

1

2

3

4

5

6

Các loại hình 3 năm 1 lần

Hữu cơ

25.000 -30.000

1

12 - 1

Trộn đều, bón rạch sâu 15 - 20cm, giữa hàng, lấp kín

P2O5

100

1

12 - 1

Năng suất đọt < 6 tấn/ha

N

100 - 120

3 - 4

2; 4; 6; 8

Trộn đều, bón sâu 6 - 8cm, cách gốc 25 - 30cm, lấp kín. Bón 40 - 20 - 30 - 10% hoặc 40 - 30 - 30% N; 100% P2O5; 60 - 40% K2O

P2O5

40 - 60

1

2

K2O

60 - 80

2

2; 4

Năng suất đọt 6 - dưới - 8 tấn/ha

N

100 - 180

3 - 4

2; 4; 6; 8

Trộn đều, bón sâu 6 - 8cm, giữa hàng, lấp kín. Bón 40 - 20 - 30 - 10 % hoặc 40 - 30 - 30% N; 100% P2O5; 60 - 40% K2O

P2O5

60 - 100

1

2

K2O

80 - 120

2

2; 4

Năng suất đọt 8 - dưới 12 tấn/ha

N

180 - 300

3 - 5

1; 3; 5; 7; 9

Trộn đều, bón sâu 6 - 8cm, giữa hàng, lấp kín. Bón 30 - 20 - 20 - 20 - 10% hoặc 30 - 20 - 30 - 20% N; 100% P2O5; 60 - 30 - 10% K2O

P2O5

100 - 160

1

1

K2O

120 - 200

2 - 3

1; 5; 9

Năng suất đọt >12 tấn/ha

N

300 - 600

3 - 5

1; 3; 5; 7; 9

Trộn đều, bón sâu 6 - 8cm, giữa hàng, lấp kín. Bón 30 - 20 - 20 - 20 - 10% hoặc 30 - 20 - 30 - 20% N; 100% P2O5; 60 - 30 - 10% K2O

P2O5

160 - 200

1

1

K2O

200 - 300

2 - 3

1; 5; 9

Với năng suất đọt dưới 8 tấn/ha thì nên bón phân vào các tháng chẵn 2, 4, 6 và 8 hàng năm. Lượng đạm chia theo các tháng theo tỷ lệ 40 - 30 - 20 - 10%. Nếu bón 3 lần thì theo tỷ lệ 40 - 30 - 30%. Kali bón 2 lần vào tháng 2 và 4 theo tỷ lệ 60 - 40%.

+ Năng suất đọt từ 8 đến dưới 12 tấn/ha bón liều lượng như sau: 100 - 120kg N + 40 - 60kg P2O5 + 60 - 80kg K2O/ha. Tương đương với 390 - 652kg urê + 588 - 941kg supe lân + 200 - 333 KCl/ha.

+ Năng suất đọt trên 12 tấn/ha bón liều lượng như sau: 100 - 120kg N + 40 - 60kg P2O5 + 60 - 80kg K2O/ha. Tương đương với 652 - 1034kg urê + 941 - 1176kg supe lân + 333 - 500kg KCl/ha.

Với năng suất đọt trên 8 tấn/ha thì nên bón phân vào các tháng lẻ 1, 3, 5, 7 và 9 hàng năm. Lượng đạm chia theo các tháng theo tỷ lệ 30 - 20 - 20 - 20 - 10%. Nếu bón 4 lần thì theo tỷ lệ 30 - 20 - 30 - 20%. Kali bón lần vào tháng 1, 5 và 9 theo tỷ lệ 60 - 30 - 10%.

Cách bón giữa các thời kỳ tương tự nhau: Trộn đều, bón sâu 6 - 8cm, giữa hàng, lấp kín.

- Xác định lượng phân bón cho cây trồng dặm:

Đối với nương chè tuổi lớn, mất khoảng < 40% cần tiến hành phục hồi. Đào hố hay hố trồng rộng 40cm, sâu 30cm bón phân hữu cơ lượng 2,5 - 3kg/gốc, trộn đất lấp kín trước khi dặm ít nhất 1 tháng. Những điểm mất khoảng liên tục tiến hành gieo cây phân xanh, bổ sung cây bóng mát như chè kiến thiết cơ bản trên đất phục hoang.

Bảng : Bón phân bổ sung cho cây trồng dặm

Loại phân

Lượng phân (kg/gốc)

Số lần

Thời gian (vào tháng)

Kỹ thuật bón

Hữu cơ

3 - 5

1

12 - 1

Trộn đều với phân lân, bón rạch sâu 15 - 20cm, giữa hàng, lấp kín. Bón trước 1 năm đối với chè đốn đau, đốn trẻ lại

N

0.20 - 0.30

2 - 3

2; 5; 8

Trộn đều, bón sâu 6 - 8cm, giữa hàng, lấp kín. Bón 60 - 40% hoặc 30 - 30 - 40%N, 100% P2O5 và 60 -40%K2O

P2O5

0.10 - 0.15

1

12 - 1

K2O

0.15 - 0.20

2

2; 6

Bón sau khi mưa, đất đủ ẩm, hoặc bón khi trời mát kết hợp tưới nước. Đất độ dốc cao bón theo hốc, đất bằng bón theo rạch (rạch theo mép tán chè), bón vùi lấp phân.

* Sử dụng phân bón lá cho cây chè

- Ngoài việc sử dụng loại phân truyền thống bón vào đất, chúng ta có thể sử dụng phối kết hợp với loại phân phun lá cho chè.

- Sử dụng phân phun lá hiệu quả nhanh nhưng dễ gây cháy lá nếu sử dụng sai chỉ dẫn.

- Chè chủ yếu trồng trên đất dốc, độ chua cao, sau mỗi mùa mưa, tầng đất mặt bị bào mòn nặng. Hàng năm chè vẫn được bón phân bổ sung, nhưng hiệu suất của phân bón không cao, đặc biệt là phân lân. Bón phân lân vào đất chua có nhiều sắt, nhôm di động, chỉ sau một thời gian ngắn, nguyên tố lân bị khoáng hóa hết, cây không hút được. Chè của ta luôn ở trong tình trạng đói phân, đặc biệt là phân lân và kali, năng suất không vươn lên được. Bón nhiều phân đạm, năng suất tuy có nhích lên nhưng chất lượng chè giảm, giá thành cao.

- Để tháo gỡ yếu tố hạn chế này, áp dụng biện pháp phân bón qua lá. Bón phân qua lá không bị keo đất hấp thu, không bị biến đổi về thành phần hóa học, ít bị rửa trôi, lá cây hấp thu trực tiếp, nên hiệu suất của phân bón rất cao. Phân bón qua lá không làm thay đổi thành phần hóa học của đất, không làm thay đổi thành phần cấu tạo của đất, không gây tác hại đến quần thể vi sinh vật có ích trong đất... Hiện nay trên thị trường có nhiều loại phân bón qua lá, qua tìm hiểu thấy có một số loại phân thỏa mãn được yêu cầu thâm canh cây chè.

Ví dụ:

+ Phân bón lá Poly-feed 19-19-19: Đây là loại phân đa lượng có hàm lượng đạm, lân và kali bằng nhau và đều chiếm 19%, tỷ lệ này phù hợp với cây chè. Ngoài các nguyên tố đa lượng trong phân còn có các nguyên tố vi lượng (đơn vị tính mg/kg) sắt 1000, măng gan 500, bo 200, kẽm 150, đồng 110, mô líp đen 70... đều ở dạng dễ tiêu và tan hoàn toàn trong nước. Với thành phần trên cung cấp đầy đủ và cân đối cho chè, giúp cho chè ra nhiều lá, nhiều búp, chất lượng chè được tăng lên rõ. Pha phân poly-feed với nước nồng độ 0,5-1% phun ướt đẫm toàn bộ tán lá cây chè, mỗi tháng phun một lần xen kẽ với dùng Multi-k.

+ Phân Multi-K hay KNO3 (13-0-46): phân có 13% đạm, không có lân, 46% kali. Đây là loại phân bón lá rất giàu kali, giúp cho cây tăng khả năng vận chuyển các sản phẩm quang hợp về bộ phận tích lũy; tăng lượng nước kết hợp trong tế bào của cây, giúp cho cây tăng khả năng chống rét, chống hạn và chống chịu sâu bệnh. Dùng phân Multi-k cây quang hợp bình thường khi ánh sáng yếu. Pha Multi-k với nước theo nồng độ từ 1-2% mỗi tháng phun một lần, sau khi phun Poly-feed được 15 - 16 ngày. Dùng xen kẽ Multi-k và Poly-feed năng suất chè tăng từ 20 - 25%, chất lượng chè được cải thiện rõ. Hai sản phẩm phân bón này hoàn toàn không để lại dư lượng trên nông sản.

+ Humate kali: Đây là loại phân phun lá rất an toàn khi sử dụng cho chè. Sử dụng theo đúng chỉ dẫn trên bao bì.

- Những điều cần chú ý khi sử dụng phân bón lá cho chè?

+ Khi cây chè đã có bộ khung tán ổn định, phân bón lá chỉ phát huy hiệu quả tốt theo hướng có lợi cho sinh trưởng cây chè, khi đã cung cấp đủ chất dinh dưỡng nền về khoáng đa lượng, phân hữu cơ bón vào đất.

+ Sử dụng phân bón lá rất hiệu quả cho những nương chè sau đốn trẻ lại và giai đoạn cây con ở vườn ươm.

+ Sử dụng theo đúng chỉ dẫn trên bao bì, không tự phối hợp với các hóa chất khác hoặc thay đổi nồng độ pha chế.

+ Lựa chọn loại bình phun tốt, phun dạng sương mù tránh nhỏ giọt.

+ Chỉ nên phun phân lá khi thời tiết mát mẻ, không mưa.

+ Chỉ được sử dụng các loại phân bón lá đã được cấp chứng chỉ an toàn vệ sinh theo tiêu chuẩn VietGAP. Đảm bảo thời gian cách li tối thiểu 15 ngày sau khi phun mới thu hái sản phẩm.

2. Đốn chè

Đốn phớt:

- Thời gian đốn từ tháng 12 đến tháng 01 năm sau

- Vị trí đốn, đốn cao trên vết đốn cũ 5 cm (2 năm đầu), 3 cm ở những năm sau và 1 cm khi vết đốn trước cao hơn 70 cm.

Đốn lửng: Tiến hành đốn khi vết đốn năm trước cao trên 90 cm

- Với đồi chè năng suất thấp: Vết đốn cao 60-65 cm

- Với đồi chè năng suất còn tốt: Vết đốn cao 70-75cm

Đốn đau: Đồi chè đốn lửng nhiều lần năng suất giảm nên tiến hành đốn đau (đốn cách mặt đất 40-45 cm).

Đốn trẻ hóa: Đồi chè đốn đau nhiều lần năng suất giảm nên tiến hành đốn trẻ hóa (đốn cách mặt đất 10-15 cm).

3. Hái chè

Hái tay: Hái một tôm và 2-3 lá non, khi trên tán có 30% số búp đủ tiêu chuẩn hái và tận thu búp mù, xòe:

- Vụ xuân (tháng 3-4) hái để lại một lá cá và hai lá thật

- Vụ hè thu (tháng 5-10) hái để lại một lá cá và một lá thật

- Vụ Thu đông (tháng 11), hái để lại lá cá; Tháng 12 hai cả lá cá

Hái máy (hái chừa theo vết đốn):

- Đốn cao 60-65cm: Hái chừa vết đốn 15 cm

- Đốn cao 70-75cm: Hái chừa vết đốn 10 cm

- Đốn cao trên 75 cm: Hái chừa vết đống 7-10 cm

- Đốn đau và đốn trẻ hóa: Hái như hái tạo tán thời kỳ kiến thiết cơ bản

Búp chè hái Phần chừa lại

4. Tưới nước

Nhu cầu nước của cây chè: Chè là loại cây ưa ẩm, thu hoạch búp, lá non, nên càng cần nhiều nước. Muốn thâm canh chè tốt việc tưới nước cho cây thời kỳ khô hạn là rất cần thiết và việc tưới nước nên tiến hành khi độ ẩm đất xuống dưới 50%.

Cách tưới: Tưới phun trực tiếp, tưới nhỏ giọt, hoặc tưới phun mưa (sử dụng nguồn nước sạch, không dùng nguồn nước ô nhiễm, nước thải khu công nghiệp và nước phân tươi để tưới)

III. SÂU BỆNH HẠI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

1. Sâu hại

Nhóm chích hút (rầy xanh, bọ cánh tơ, bọ xít muỗi, nhện đỏ ...): chích hút nhựa của búp lá non làm giảm năng suất và chất lượng chè. Chích hút trên lá già, lá bánh tẻ làm giảm quá trình quang hợp của lá ảnh hưởng khả năng sinh trưởng và phát triển của cây, làm gia tăng khoảng cách giữa các lần thu hái.

Biện pháp phòng trừ

- Không nên đốn chè quá sớm hoặc quá muộn

- Thời kỳ phát triển của dịch hại nên hái kỹ búp chè để hạn chế khả năng phát triển về sau.

- Sử dụng phân bón chuyên dùng (đủ và cân đối dinh dưỡng)

- Cày lật hàng năm, che tủ gốc để diệt trứng và nhộng bọ cánh tơ

- Làm sạch cỏ, phát quang bụi rậm, cây ký chủ của dịch hại

- Trồng cây che bóng ở mật độ thích hợp

- Dùng thuốc hóa học (Actara 25WP, Midan 10WG, Comite 73EC, Cofido…) khi dịch hại mới xuất hiện. Sử dụng theo hướng dẫn trên bao bì của nhà sản xuất.

Sâu bệnh hại chè

- Nhóm miệng nhai (sâu chùm, sâu róm): Sâu ăn hại toàn bộ lá và búp chè, chỉ để lại cành, có thể làm cây không thể ra búp và thậm chí gây chết cây. Sâu thường sống tập trung thành từng đám.

Biện pháp phòng trừ

- Bắt diệt sâu non, bẫy đèn bắt ngài, làm cỏ xới xáo diệt nhộng vụ đông

- Dùng thuốc hóa học thuộc nhóm tiếp xúc vị độc theo hướng dẫn trên bao bì nhà sản xuất.

2. Bệnh hại

Bệnh phồng lá:

Bệnh hại lá non, cành non vết bệnh phần lớn ở mép lá, cành bị bệnh sẽ chết. Bệnh làm giảm năng suất và chất lượng, bệnh thường xuất hiện từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau (vùng núi cao, nhiệt độ thấp bệnh xuất hiện sớm)

Biện pháp phòng trừ

- Sử dụng phân bón chuyên dùng (đủ và cân đối dinh dưỡng)

- Dùng các thuốc có gốc đồng phun ngay sau khi hái (phun kép hai lần cách nhau 7-10 ngày).

Bệnh thối búp:

​Bệnh thường xuất hiện ở bộ phận non, cuống lá, cành non và búp. Lúc đầu vết bệnh là một chấm đen nhỏ sau đó lan dần ra hết cả búp và cành chè, khi thời tiết nắng, ẩm dễ bị rụng. Bệnh gây hại khi thời tiết nắng nóng và mưa kéo dài (tháng 7-9)

Biện pháp phòng trừ

- Sử dụng phân bón chuyên dùng (đủ và cân đối dinh dưỡng), vườn bị nặng có thể bón bổ sung thêm kali

- Dùng các thuốc có gốc đồng phun ngay khi bệnh mới xuất hiện.

Bệnh phồng lá Bệnh thối búp

Từ khóa » Giống Chè Ldp1