Thăm Đức Đệ Tam Pháp Chủ Thích Phổ Tuệ - Tiền Phong

Vị Đại Đức này khi đó đang trụ trì một ngôi chùa ven đường 1 thuộc huyện Phú Xuyên, Hà Tây.

Trong một lần về thăm ngôi chùa này, vị Đại Đức có thổ lộ với chúng tôi: - Kể cả về mặt kiến thức, Phật pháp, đạo hạnh… tôi chỉ như hạt cát bên cạnh Tổ Ráng - Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ. Nếu có dịp, các vị nên thăm vấn. Ngài hiện trụ trì chùa Ráng, cũng cách đây mươi cây số thôi.

Ít lâu sau, vào ngày 14/4/2007, Đại hội Đại biểu toàn quốc Phật giáo Việt Nam lần thứ VI đã suy tôn Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ lên ngôi Đệ Tam Pháp chủ – lãnh đạo tối cao của Phật giáo Việt Nam.

Tuy vẫn chưa quên lời của vị Đại Đức thông Tuệ, nhưng rồi mãi tới dịp tết Nguyên đán vừa qua, chúng tôi mới có cơ duyên được về thăm chùa Ráng - nơi trụ trì của vị Pháp chủ mà danh tiếng khiến cho cả những vị thiền sư ở nước ngoài cũng nể trọng.

Từ Hà Nội đi theo đường 1 về phía Nam, tới thị trấn Đỗ Xá, rẽ trái rồi men theo đê sông Hồng, hỏi đường về chùa Quang Lãng (người dân nơi đây quen gọi là chùa Ráng), chúng tôi tới nơi vào đúng tầm trưa.

Chỉ cách chốn Kinh kỳ trên dưới năm chục cây số, tới đây, ta như lạc vào một thế giới đối nghịch hoàn toàn với không khí thời “a còng”. Một không khí tĩnh mịch bao trùm; lại vào giờ trưa, nên không một khách vãng lai khiến cảnh vật nhà chùa càng thêm vắng lặng.

Vừa tới sân chùa, chúng tôi được một sư cô với gương mặt phúc hậu tiếp đón niềm nở: - Mời các vị ngồi chơi xơi tạm chén nước. Tổ vừa mới ngả lưng, lát nữa Ngài sẽ tiếp các vị.

Qua cuộc chuyện trò với sư cô, chúng tôi được biết đôi điều về Đức Đệ Tam Pháp chủ Thích Phổ Tuệ. Cụ sinh năm 1917, quê gốc ở xã Khánh Tiên, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình, xuất gia từ năm 1922 khi mới tròn 5 tuổi; năm 19 tuổi thì về tu tại chùa Ráng (1936) cho tới tận ngày nay.

Trong thời kỳ Pháp thuộc, dù chùa bị giặc đàn áp, nhiều lần phải sơ tán nhưng cụ vẫn một lòng sắt son với ngôi chùa này, kể cả khi có lời mời gọi cho đi “tu nghiệp” tại nước ngoài. Tuy không qua một trường lớp chính quy nào, nhưng cụ có một vốn kiến thức uyên thâm về Phật học và Hán học.

Nhiều công trình nghiên cứu, biên soạn, dịch thuật về Phật học có sự đóng góp không nhỏ của cụ như Đại từ điển Phật học, Đại Luật, Đại tạng kinh Việt Nam, Đề cương Kinh Pháp Hoa, Kinh Bách Dụ, Phật Tổ Tam kinh, Phật học là tuệ học…

Tuy đạo cao, đức cả, làu thông kinh sử, nhưng cụ lại khiêm tốn, giản dị và ẩn mình.

Hơn một nửa thế kỷ, ngoài các kỳ giảng đạo ở các trường học, cụ không tham gia vào bất kỳ một chức tước nào cho mãi tới năm 1987 khi đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Ban Tôn giáo Chính phủ về tận nơi, cùng với sự khẩn khoản của Tăng sư, Phật tử, cụ mới ra lãnh nhiệm một số vị trí như Viện trưởng Phân viện nghiên cứu Phật học Việt Nam tại Hà Nội, Hiệu trưởng trường Trung cấp Phật học rồi Phó Chủ tịch kiêm Phó Ban Tăng sự T.Ư giáo hội, Phó Pháp chủ kiêm Chánh thư ký Hội đồng chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam (HĐCMGHPGVN).

Và, trước sự tín nhiệm của Đại hội ĐBTQ Phật giáo Việt Nam lần thứ VI, cụ đã được suy tôn lên ngôi Đức Đệ Tam Pháp chủ GHPG Việt Nam. Sau khi Đại hội kết thúc, Ban trị sự THPG Hà Tây và đông đảo phật tử, công chúng đã mở Đại lễ rước cụ về Hà Đông mà trước đó ba lần cụ khước từ không được.

Khi thấy đoàn rước quá lớn, kéo dài hàng cây số, cụ than: Chúng tôi tự hỏi đã làm được gì trong cuộc đời tu hành của mình mà dám nhận cái phúc đó. Phúc phải do tu mà có.

Phúc thì nên tích mà không nên tán. Phúc không tích thêm mà cứ lạm hưởng thì rồi cũng hết, khi đó, phúc trở thành họa… Chúng tôi phải làm gì đây để báo đáp sự cung ngưỡng lớn lao thế này của đại chúng...

Là người đọc sâu, hiểu rộng lại trải qua ngót một thế kỷ tu luyện, cụ thường có cái nhìn sự vật không chỉ dựa trên giáo lý nhà Phật mà rất sát với logic duy vật.

Chẳng hạn, sau Đại hội, khi được hỏi về dư luận trong tăng ni, cư sĩ, phật tử đối với vấn đề nhân sự và hệ thống giáo dục Phật giáo hiện tại, cụ cho rằng trong một xã hội đa dạng, những ý kiến ngược chiều, trái chiều là điều bình thường, không nên động tâm hoang mang.

Giáo lý nhà Phật đề cập rất sâu đến chính kiến và Giáo luật, nhấn mạnh đến giới Vọng Ngữ (nói dối, nói thêu dệt, nói đổi chiều, nói cay độc). Nhà Nho xưa cũng nói:

“Phi lễ thì không nghe, không nhìn, không nói”. Nếu thâm nhập kỹ càng giáo lý, Giáo luật thì sẽ không vọng động. Tuy nhiên, là con người với đủ cả thất tình, lục dục thì khó tránh khỏi xao xuyến bâng khuâng khi có ý kiến nọ kia, thậm trí tranh cãi, phân bua, kiện tụng.

Chư quý vị phật tử cứ dụng công học cho sâu, tu cho tinh tiến, nghiêm trì Giới luật rồi thì nhất cử, nhất động sẽ khế hợp với chân lý nhà Phật.

Về tổ chức nhân sự và bộ máy GHPG hôm nay là một tổ chức và hệ thống con người vừa có tính chất Đạo Phật, vừa có tính chất thế gian tùy hợp với điều kiện của đất nước ngày nay, nhà Phật gọi là tùy duyên.

Về giáo dục Phật học, cụ bày tỏ ý kiến: - Chùa to, cảnh lớn, giảng đường đẹp, phòng ốc sang dù sao cũng chỉ là phương tiện. Linh hồn của nó là thầy và trò trong quan hệ tu tập và hành trì.

Giảng sư cần phải hiểu biết sâu rộng bằng sự chiêm nghiệm, tu tập của chính bản thân về Phật pháp mà tích cực, nhiệt thành, gương mẫu để có thể “dĩ thân vi giáo” (lấy thân mình làm gương mà dạy), cần tâm niệm “học không biết chán, dạy không biết mỏi”.

Các nhà giáo dục cũng phải không ngừng được giáo dục. Tăng ni sinh thì cần nhiệt tình tu học, nhưng phải có sự hướng dẫn tu tập của các bậc tiền bối…

“Tre già thì măng mọc”, nói như vậy chỉ là ru khoát, cần nói thêm rằng: tre già phải được dùng vào việc có ích và măng mọc cũng cần có hàng, có lối; được chăm sóc và bảo vệ thì mới thẳng, đẹp, mới có ích cho Đạo cho Đời…

Ngắm nhìn cảnh tĩnh lặng, hoang vắng, chúng tôi băn khoăn không hiểu suốt hơn 70 năm qua, cụ sinh hoạt ra sao, sư cô cười: “Chúng tôi nơi đây là chùa nhỏ, xa dân, khuất nẻo.

Nếp sống sinh hoạt hàng ngày có thứ gì, dùng thứ nấy. Tổ cũng vậy. Từ ngày về đây, ngoài giờ tụng kinh, niệm Phật, soạn, dịch các tài liệu, thư tịch, Ngài cũng cày, cuốc như mọi người, cho mãi tới năm Ngài 80 tuổi thì mới buông tay cày. Ở đây, chúng tôi đều là những “nông tăng”…

Chuyện trò với sư cô, chúng tôi càng hồi hộp háo hức xen lẫn tò mò mong được diện kiến vị Tổ chùa Ráng.

Chúng tôi không phải chờ lâu. Có lẽ, ai cũng phải hết sức ngạc nhiên khi lần đầu được gặp Tổ Ráng, bởi, nếu vận bộ quần áo nâu sòng thì cụ chẳng khác gì một lão nông: Dáng vẻ cao, gầy, nước da của người đồng quê, phong thái, cử chỉ thật giản dị, gần gũi.

Bước đi của cụ còn vững chãi lắm mặc dù đã bước vào tuổi 92. Thế nhưng, điều đặc biệt ấn tượng nhất đối với chúng tôi, đó là trí mẫn tiệp tới mức tuyệt vời của cụ.

Ngoài việc nhớ tới từng chi tiết cụ thể trong quá khứ, khi giao tiếp, cụ trình bày những suy nghĩ của mình vừa rành rọt, lưu loát mà giản dị và rất ngắn gọn.

Cụ kể rằng, lịch sử ngôi chùa này có từ bao giờ thì không có thư tịch nào ghi rõ, nhưng trước đó, chùa được dựng ở ngoài bãi sông Hồng, cho tới năm 1900 thì có nguy cơ sạt lở, cho nên dân làng hai xã Quang Lãng và Mai Xá đã công đức và mời Pháp sư Thích Nguyên Uẩn tới trụ trì và dỡ chuyển chùa đến nơi hiện nay.

Pháp sư sinh năm Giáp Tý (1864) là người Phú Xuyên (Hà Tây), xuất thân trong gia đình thợ mộc, năm 12 tuổi thì Ngài xuất gia, về trụ trì chùa Ráng năm 36 tuổi.

Khi đã xây dựng quy củ, thì Pháp sư tập hợp tăng ni trong Sơn Môn Pháp Phái để thành lập đạo Tràng lấy tên là Viên Minh Pháp Hội giảng dạy tu học Phật pháp. Bởi thế, nơi đây còn được gọi là “Viên Minh tự”. Ngoài thời khóa tụng niệm, Pháp sư còn viết, soạn rất nhiều kinh sách.

Cả đời tu hành, trải qua hai cuộc chiến tranh, tài sản duy nhất mà dù bất cứ hoàn cảnh nào chúng tôi cũng phải gìn giữ không để ly thân là thư từ, tài liệu, kinh sách của chư tổ để lại. Chúng tôi còn dành hàng chục năm trời để học nhập tâm tất cả để gìn giữ những gì chư tổ để lại…

Khi chúng tôi ngỏ ý muốn xin một số kinh sách do chính cụ soạn, dịch, cụ vui lòng rời Tổ đường, xuống phòng giảng đạo lựa mấy cuốn trao tặng rồi cụ bảo: - Sách hay, sách tốt căn nguyên là ở người đọc.

Tôi rất băn khoăn, có người đọc thuộc lòng mà chẳng hiểu gì, ví như câu “Thân thông quảng đại” trọn nghĩa là Đức Phật có mặt ở mọi nơi trên thế gian, vậy mà có người cứ nhầm là “Thần thông quảng đại” thì mất hết ý nghĩa…

Nhìn dáng Đức Đệ Tam Pháp chủ trên sân chùa trong buổi chiều xuân, chúng tôi chợt có cảm giác, cụ tựa như một “Cây tư tưởng di động”. Còn nhớ, khi trả lời trang tin điện tử “Phật tử Việt Nam” về bí quyết trường thọ, cụ trả lời rằng: “…

Sống ở trên đời này được bao nhiêu năm, theo tôi, không phải là thước đo giá trị của đời người. Con rùa nó sống hàng ngàn năm thì đã sao? Vấn đề là sống để thực hiện sứ mệnh gì, mang lại lợi ích gì cho Đời, cho Đạo, ngài Trần Nhân Tông chỉ ở đời có 51 năm, Ngài Pháp Loa có 47 năm mà công nghiệp thì bất khả tư nghì.

Tôi trụ thế đến nay đã 91 năm, ở chùa 85 năm, thụ Đại giới được 71 năm, nghiệp là tu hành, nuôi thân thể chủ yếu bằng nghề làm ruộng, chưa từng dám lạm dụng một bát gạo, một đồng tiền của tín thí thập phương, khi nào chư Phật, chư Tổ cho gọi thì về thôi…”.

Chúng tôi chợt nhớ tới cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng: Cũng dáng cao gầy, cũng vào tuổi ngoại “cửu tuần”, cũng nói với chúng tôi về tuổi thọ và lẽ sống tương tự. Hình như có nét gì đó rất giống nhau, thông tâm với nhau giữa cố Thủ tướng và Đức Đệ tam Pháp chủ Thích Phổ Tuệ! A Di Đà Phật!

---------------------

Bài viết có tham khảo và trích dẫn từ các tập: “Phật Tổ Tam kinh” (do Đức Đệ Tam Pháp chủ Thích Phổ Tuệ giảng tại thảo am Viên Minh), “một thoáng thiên môn” và website phathocvietnam.

Hà Nội Phật Đản 2552

Mạnh Việt

Từ khóa » đệ Tam Pháp Chủ Nghĩa Là Gì