Thẩm Quyền Về Bất động Sản Theo Pháp Luật Công Chứng, Chứng Thực
Có thể bạn quan tâm
Bài viết đưa ra cách hiểu thống nhất đối với thẩm quyền về bất động sản theo pháp luật công chứng, chứng thực, thực tiễn áp dụng phạm vi, thẩm quyền về bất động sản hiện nay và đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng, chứng thực trong lĩnh vực này.
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
THẨM QUYỀN VỀ BẤT ĐỘNG SẢN THEO PHÁP LUẬT
CƠNG CHỨNG, CHỨNG THỰC
Hồng Giang Linh 1
Tĩm tắt: Thực tiễn hoạt động cơng chứng, chứng thực cho thấy phạm vi, thẩm quyền về bất
động sản (BĐS) đang được hiểu theo nhiều cách khác nhau khi áp dụng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) dẫn đến khơng thống nhất, gây tâm lý bức xúc, thiếu tin tưởng của người dân đối với cơ quan, tổ chức cĩ thẩm quyền Bài viết sau đưa ra cách hiểu thống nhất đối với thẩm quyền về bất động sản theo pháp luật cơng chứng, chứng thực, thực tiễn áp dụng phạm vi, thẩm quyền về bất động sản hiện nay và đề xuất một số kiến nghị nhằm hồn thiện pháp luật cơng chứng, chứng thực trong lĩnh vực này
Từ khĩa: Cơng chứng, chứng thực, Luật Đất đai, Luật Cơng chứng.
Nhận bài: 10/05/2018; Hồn thành biên tập: 13/06/2018; Duyệt đăng: 24/07/2018
Abstract: The practice of notarization and authentication shows that the scope and competence
of real estate are being interpreted in different ways under the application of laws on notary The application of laws on notary leads to inconsistency, inconfidence of people in competent agencies and organizations.The article brings forward the consistent understanding about competence of real state under the law of notarization and authentication, practice of applying scope, competence of real state recently and suggests some solutions to finalize the law on notarization and authentication in this field.
Keywords: Notary, Certification, Land users rights, Land Law, Law on Notary;
Date of receipt: 10/05/2018; Date of revision: 13/06/2018; Date of approval: 24/07/2018
1 Thẩm quyền về bất động sản
Theo Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015,
khái niệm BĐS là: “a) Đất đai; b) Nhà, cơng
trình xây dựng gắn liền với đất đai; c) Tài sản
khác gắn liền với đất đai, nhà, cơng trình xây
dựng; d) Tài sản khác theo quy định của pháp
luật.” 2 Như vậy, theo khái niệm trên thì tài sản
khơng thể dịch chuyển được (bất động) như
nhà ở, cơng trình xây dựng, những vật gắn liền
với cơng trình, nhà ở nhà làm luật gọi là
BĐS Ngược lại, những tài sản di chuyển được
như ơ tơ, xe máy, tàu hỏa nhà làm luật gọi là
động sản
Trong giao lưu dân sự, những tài sản cá nhân,
tổ chức mang ra mua bán, chuyển nhượng, cho
thuê, thế chấp theo quy định của pháp luật bao
gồm BĐS, động sản Bên cạnh đĩ, Nhà nước
buộc các chủ thể khi tham gia hợp đồng, giao
dịch phải tuân theo hình thức nhất định, trong đĩ
cĩ việc chuyển nhượng BĐS
Thẩm quyền về BĐS trong hoạt động cơng chứng, chứng thực được khởi nguồn từ Thơng tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 khi Nhà nước chủ trương thành lập phịng cơng chứng Tại Thơng tư 574/QLTPK, nhà làm luật quy định Ủy ban nhân dân (UBND) các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương lãnh đạo chung cơng tác cơng chứng ở địa phương trong phạm vi nhiệm vụ và thẩm quyền của mình Ngay sau đĩ, ngày 15/10/1987, Bộ Tư pháp ban hành Thơng tư số 858/QLTPK, hướng dẫn thực hiện các việc làm cơng chứng
Đến năm 1991, Nhà nước ban hành Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/02/1991, quy định về
tổ chức và hoạt động cơng chứng Nhà nước Tại Điều 22 Nghị định này, nhà làm luật quy định rõ
thẩm quyền cơng chứng về BĐS: “ phải được
chứng nhận tại phịng cơng chứng Nhà nước nơi
cĩ bất động sản ”.
Năm 1996, Chính phủ ban hành Nghị định số 31/CP ngày 18/05/1996 quy định về tổ chức và
1 Cơng chứng viên, Văn phịng Cơng chứng Gia Khánh, Hà Nội
2 Khoản 1 Điều 107 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trang 2Số 4/2018 - Năm thứ Mười Ba
hoạt động cơng chứng Nhà nước Theo Điều 26
Nghị định này, nhà làm luật quy định thẩm quyền
cơng chứng về BĐS: “ phải được chứng nhận
tại Phịng Cơng chứng Nhà nước hoặc Uỷ ban
nhân dân cấp huyện nơi cĩ bất động sản ”.
Năm 2000, Chính phủ ban hành Nghị định số
75/2000/NĐ-CP cĩ hiệu lực ngày 01/04/2001,
hướng dẫn chung về cơng chứng, chứng thực Tại
khoản 1 Điều 23 Nghị định này, nhà làm luật quy
định: “Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết
định thẩm quyền địa hạt cơng chứng hợp đồng,
giao dịch liên quan đến bất động sản trong địa
phương mình cho từng Phịng Cơng chứng “Địa
hạt” là một hoặc một số quận, huyện, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh” Như vậy, tại Nghị định số
75/2000/NĐ-CP nhà làm luật đã định nghĩa thẩm
quyền “địa hạt” thuộc quyết định của UBND tỉnh
đối với UBND cấp dưới và Phịng cơng chứng
trong lĩnh vực cơng chứng, chứng thực
Khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO), hệ thống pháp luật nĩi chung
cũng như chế định cơng chứng nĩi riêng đã cĩ
nhiều thay đổi nhằm đáp ứng được yêu cầu của xu
hướng hội nhập, khu vực hĩa và tồn cầu hĩa
Trong bối cảnh này, Luật Cơng chứng ngày
29/11/2006 được ban hành quy định chức năng,
nhiệm vụ và thẩm quyền của Cơng chứng viên
thay thế cho Nghị định số 75/2000/NĐ-CP Sau
khoảng tám năm, ngày 20/06/2014, Quốc hội họp
thơng qua Luật Cơng chứng năm 2014, cĩ hiệu lực
ngày 01/01/2015 thay thế cho Luật Cơng chứng
năm 2006, theo đĩ, thẩm quyền về BĐS được quy
định tại Điều 42: “Cơng chứng viên của tổ chức
hành, nghề cơng chứng chỉ được cơng chứng hợp
đồng, giao dịch về bất động sản trong phạm vi tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức hành
nghề cơng chứng đặt trụ sở, trừ trường hợp cơng
chứng di chúc, văn bản từ chối nhận di sản là bất
động sản và văn bản ủy quyền liên quan đến việc
thực hiện các quyền đối với bất động sản.” 3
Tại Luật Cơng chứng năm 2014, nhà làm luật
loại bỏ ngoại lệ liên quan đến thẩm quyền về BĐS
được quy định tại Luật Cơng chứng năm 2006 như
sau: “Nhiều bất động sản thuộc các tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương khác nhau cùng được thế
chấp để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ thì việc cơng chứng hợp đồng thế chấp đĩ do Cơng chứng viên của tổ chức hành nghề cơng chứng cĩ trụ sở đặt tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi
cĩ một trong số bất động sản thực hiện” (khoản 2,
Điều 47, Luật Cơng chứng năm 2006) Theo tác giả, nhà làm luật loại bỏ quy định này là thuyết phục bởi thực tế cịn cĩ nhiều trường hợp BĐS thuộc các tỉnh khác nhau được thực hiện trong cùng một giao dịch, ví dụ: Khai nhận/phân chia di sản; hoặc Thỏa thuận phân chia tài sản chung vợ, chồng mà những tài sản tham gia giao dịch là BĐS lại ở nhiều tỉnh khác nhau, trong khi đĩ, Luật Cơng chứng năm 2006 chỉ quan tâm đến giao dịch thế chấp là chưa hợp lý
Tiếp đến, ngày 16/02/2015 Chính phủ ban hành Nghị định số 23/2015/NĐ-CP cĩ hiệu lực ngày 10/04/2015 thay thế các quy định về chứng thực hợp đồng, giao dịch tại Nghị định số 75/2000/NĐ-CP của Chính phủ về cơng chứng,
chứng thực Tại khoản 6 Điều 5, Nghị định số
23/2015/NĐ-CP hướng dẫn chứng thực hợp
đồng, giao dịch của UBND thì:“Việc chứng thực
các hợp đồng, giao dịch liên quan đến quyền của người sử dụng đất được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cĩ đất Việc chứng thực các hợp đồng, giao dịch liên quan đến nhà ở được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cĩ nhà.” Quy định này cho thấy hiện nay UBND
cấp huyện khơng thực hiện chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến BĐS Như vậy UBND cấp xã là chủ thể duy nhất thực hiện chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến BĐS
Tĩm lại, chỉ BĐS nhà làm luật mới hạn chế thẩm quyền của tổ chức hành nghề cơng chứng (TCHNCC) và UBND, cịn lại đối với động sản nhà làm luật khơng hạn chế thẩm quyền cơng chứng, chứng thực
2 Thực tiễn áp dụng phạm vi, thẩm quyền
về bất động sản hiện nay
Trên thực tế, việc áp dụng phạm vi BĐS (địa hạt) trong pháp luật cơng chứng cịn cĩ những cách hiểu khác nhau, cụ thể như sau:
Thứ nhất, đặt cọc là giao dịch của các bên cĩ
đối tượng là tài sản nhưng khơng phải là BĐS nên
3 So với thẩm quyền về “địa hạt” theo khoản 2, Điều 37, Luật Cơng chứng năm 2006 thì tại Điều 42, Luật Cơng chứng năm 2014 nhà làm luật đã bổ sung thêm nội dung “văn bản ủy quyền”.
Trang 3HỌC VIỆN TƯ PHÁP
khơng phụ thuộc phạm vi địa hạt khi chứng nhận
giao dịch Những cơng chứng viên theo quan điểm
này cho rằng đặt cọc là chế định độc lập và cĩ chế
tài riêng nếu các bên vi phạm thỏa thuận đã giao
kết Theo đĩ, BLDS năm 2015, khái niệm đặt cọc
là: “ việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc)
giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc)
một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật
cĩ giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt
cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc
thực hiện hợp đồng” 4(về cơ bản, nội dung đặt cọc
được nhà làm luật quy định tương tự như BLDS
năm 2005 nhưng đã loại bỏ “việc đặt cọc phải
được lập thành văn bản”) Như vậy, biện pháp đặt
cọc là các bên bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hoặc
giao kết hợp đồng, giao dịch thơng qua việc một
bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc một vật
khác cĩ giá trị để bảo đảm cho việc ký kết, thực
hiện hợp đồng giữa các bên trong giao lưu dân sự
Chế định về đặt cọc cũng nêu khá rõ việc một
trong các bên từ chối giao kết hợp đồng thì: “ nếu
bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp
đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc;
nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực
hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản
đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài
sản đặt cọc, trừ trường hợp cĩ thoả thuận khác” 5
Cĩ thể thấy đối tượng của hợp đồng đặt cọc là
khoản tiền hoặc vật khác cĩ giá trị định giá được
bằng tiền mà khơng phải là BĐS (hoặc tài sản
khác được phép giao dịch theo quy định của pháp
luật) Rõ ràng, ý nghĩa của việc đặt cọc thường là
các bên giao nhận trước cho nhau một khoản tiền
để bảo đảm và chuẩn bị cho một giao kết trong
tương lai mà khi đến một thời hạn do hai bên thỏa
thuận sẽ thực hiện, giao kết hợp đồng, giao dịch
nhằm đạt được mục đích của mình Sau thời điểm
đặt cọc và nhận đặt cọc nếu các bên tiếp tục thực
hiện các quyền và nghĩa vụ từ giao dịch đặt cọc
(thực hiện ký hợp đồng, giao dịch) thì lúc này các
bên đang thực hiện một giao dịch khác, độc lập
tương đối với việc đặt cọc trước đĩ, nếu liên quan
thì đĩ là khoản tiền (hoặc tài sản khác) được bù
trừ khi các bên thanh tốn, giao nhận tài sản
Ngược lại với những cơng chứng viên đồng
ý chứng nhận giao dịch đặt cọc mà tài sản là BĐS
ở ngồi phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi TCHNCC đặt trụ sở, cơng chứng viên khác lại cho rằng mặc dù đối tượng của đặt cọc khơng phải là BĐS nhưng theo Điều 42, Luật Cơng chứng năm 2014, nhà làm luật quy định trong trường hợp “liên quan” đến việc thực hiện các quyền đối với BĐS thì phải hiểu đặt cọc để chuyển nhượng/mua bán BĐS cũng bị hạn chế thẩm quyền “về” địa hạt
Thứ hai, văn bản chuyển nhượng hợp đồng
mua bán nhà ở (VBCNHĐ) nhiều người hiểu đối tượng của giao dịch là “hợp đồng” chứ khơng phải
“bất động sản” dẫn đến sự việc trong cùng một thời điểm và cĩ chung luật điều chỉnh nhưng được hiểu theo nhiều hướng khác nhau Theo đĩ, cĩ Cơng chứng viên đồng ý chứng nhận “hợp đồng” mà
khơng quan tâm đến phạm vi BĐS bởi “hợp đồng
là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” 6 Trường hợp khác, Cơng chứng viên lại khơng đồng
ý chứng nhận bởi VBCNHĐ vẫn thuộc thẩm quyền
“về” BĐS theo quy định tại Điều 42 Luật Cơng chứng năm 2014 Tuy nhiên, việc chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở đã được nhà làm luật quy định tại Điều 117, Luật nhà ở năm 2014 như sau:
“Giao dịch về nhà ở bao gồm các hình thức mua bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại, tặng cho, đổi, thừa kế, thế chấp, gĩp vốn, cho mượn, cho ở nhờ và
ủy quyền quản lý nhà ở”.
Theo tác giả, việc Luật Nhà ở năm 2014 quy định VBCNHĐ thuộc trường hợp giao dịch nhà ở
là chưa hợp lý và cịn nhiều khiên cưỡng bởi tại thời điểm các bên tham gia giao dịch chỉ chuyển giao quyền và nghĩa vụ để tiếp tục thực hiện “hợp đồng” và bên chuyển nhượng tại thời điểm chuyển nhượng chỉ sở hữu “tài sản” là hợp đồng (thực ra
là giá trị hợp đồng) chứ khơng phải sở hữu một BĐS Mặt khác, về hiệu lực của hợp đồng mua bán nhà ở quy định thì sau khi hồn thành nghĩa
vụ nộp tiền của bên mua hoặc bên bán bàn giao nhà thì lúc đĩ các bên mới hồn tất việc mua bán
4 Khoản 1, Điều 328, Bộ luật dân sự năm 2015.
5 Khoản 2, Điều 328, Bộ luật dân sự năm 2015.
6 Điều 385, Bộ luật dân sự năm 2015.
Trang 4Số 4/2018 - Năm thứ Mười Ba
được quy định tại Luật Nhà ở năm 2014, cụ thể
như sau: “Trường hợp mua bán nhà ở giữa chủ
đầu tư dự án xây dựng nhà ở với người mua thì
thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở là kể từ thời
điểm bên mua nhận bàn giao nhà ở hoặc kể từ thời
điểm bên mua thanh tốn đủ tiền mua nhà ở cho
chủ đầu tư Đối với nhà ở thương mại mua của
doanh nghiệp kinh doanh bất động sản thì thời
điểm chuyển quyền sở hữu được thực hiện theo
quy định của pháp luật về kinh doanh bất động
sản” 7 Do vậy, khi các bên chưa nhận bàn giao nhà
hoặc/và chưa thanh tốn đủ tiền mua nhà cho chủ
đầu tư, chưa lập hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận
thì bên mua cĩ quyền chuyển nhượng lại phần vốn
đã gĩp của mình thơng qua một hợp đồng mà nhà
làm luật gọi là VBCNHĐ Chúng ta cĩ thể thấy rõ
điều này khi các bên tham gia giao kết VBCNHĐ
phải xuất trình các giấy tờ cơ bản như: (i) Về chủ
thể gồm: Chứng minh nhân dân; Sổ hộ khẩu (ii)
Về đối tượng gồm: Hợp đồng mua bán căn hộ (và
VBCNHĐ nếu nhận chuyển nhượng lại); Hĩa đơn
đã nộp tiền Sau khi cơng chứng, nộp thuế và
được chủ đầu tư xác nhận thì bên nhận chuyển
nhượng chính thức tiếp nhận quyền và nghĩa vụ
của bên chuyển nhượng Bên cạnh đĩ, khi các bên
thực hiện thủ tục chuyển nhượng thì cơ quan thuế
thường yêu cầu bên chuyển nhượng xuất trình xác
nhận của chủ đầu tư về việc đã nộp được bao
nhiêu tiền để thực hiện nộp thuế Trong khi đĩ, thủ
tục hướng dẫn khi chuyển nhượng VBCNHĐ nhà
làm luật khơng yêu cầu xác nhận số tiền đã nộp
của bên chuyển nhượng, điều này phần nào cho
thấy đối tượng của giao dịch các bên quan tâm
thực hiện là giá trị khoản tiền chứ khơng phải
chuyển giao BĐS (do khơng cần xác nhận của cơ
quan quản lý nhà, đất cĩ thẩm quyền) Mặt khác,
theo quy định tại khoản 1, Điều 2, Luật Cơng
chứng năm 2014 thì cơng chứng là việc: “ Cơng
chứng viên của một tổ chức hành nghề cơng
chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của
hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản ”
Điều luật cho thấy yếu tố “xác thực” thể hiện rõ
ràng trong hoạt động cơng chứng nhằm đảm bảo
cho hợp đồng, giao dịch an tồn về pháp lý, phịng
ngừa tranh chấp Như vậy, xét một cách tổng quan thì pháp luật cơng chứng yêu cầu chặt chẽ đối với tính “xác thực”8và tính “hợp pháp”9của văn bản cơng chứng Vì thế, VBCNHĐ là tài sản nhưng khơng phải là BĐS (do chuyển động được) nên nếu nhà làm luật quy định VBCNHĐ thuộc giao dịch về nhà ở thì chưa phù hợp nếu chúng ta đặt VBCNHĐ trong mối tương quan pháp lý với pháp luật cơng chứng
Từ những cách hiểu khác nhau và vướng mắc nêu trên trong cùng một hệ thống pháp luật dẫn đến cách áp dụng khơng giống nhau làm cho cá nhân, tổ chức thiếu tin tưởng vào TCHNCC bởi trong cùng một thời điểm, cùng một VBQPPL nhưng cách giải quyết trái ngược gây nên bức xúc đối với cá nhân, tổ chức và các bên liên quan khác
3 Kiến nghị
Trước thực tế trên, để pháp luật cơng chứng, chứng thực được hồn chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức thực hiện các quyền về tài sản, trong đĩ cĩ BĐS nên cĩ những sửa đổi,
bổ sung sau đây:
Một là, nên sửa đổi, bổ sung VBCNHĐ khơng
thuộc phạm vi giao dịch về nhà ở bởi khái niệm “bất động sản” và “hợp đồng” là hai khái niệm riêng biệt, qua đĩ quy định VBCNHĐ khơng thuộc phạm vi thẩm quyền “về” BĐS
Hai là, nên bổ sung thêm việc “đặt cọc”
khơng thuộc phạm vi địa hạt bởi đối tượng của giao dịch đặt cọc thơng thường là khoản tiền -một tài sản độc lập trong giao dịch (cũng như ủy quyền là một chế định độc lập trong dân sự) để
mở rộng thẩm quyền địa hạt nhằm thúc đẩy giao lưu dân sự, tạo mơi trường pháp lý thuận lợi hơn nữa cho sự phát triển kinh tế- xã hội
Ba là, do mặt bằng chung về trình độ,
nghiệp vụ giữa các chủ thể thực hiện, cơ quan quản lý chuyên ngành (Bộ Tư pháp; Sở Tư pháp; Hội Cơng chứng viên) cần tổ chức tập huấn cho cá nhân, tổ chức thực hiện cơng chứng, chứng thực hiểu rõ và vận dụng VBQPPL đúng với ý chí của nhà làm luật tại thời điểm ban hành để qua đĩ xác định đúng phạm vi, thẩm quyền về BĐS./
7 Khoản 3, Điều 12, Luật Nhà ở năm 2014.
8 Đối tượng của hợp đồng, giao dịch nếu là tài sản phải cĩ thực; hoặc cơng việc phải làm cĩ khả năng thực hiện được.
9 Mục đích, nội dung hợp đồng, giao dịch khơng vi phạm pháp luật, khơng trái đạo đức xã hội.
Từ khóa » Phạm Vi Công Chứng Theo địa Hạt
-
THẨM QUYỀN CÔNG CHỨNG THEO ĐỊA HẠT - Kiều Phương Land
-
Thẩm Quyền Công Chứng Theo địa Hạt - Luật Hải Nguyễn
-
Quy định Về địa Hạt Công Chứng
-
Thẩm Quyền Công Chứng Các Hợp đồng, Giao Dịch Về Bất động Sản
-
Bỏ "công Chứng Theo địa Hạt", Tạo Kẽ Hở Cho Tội Phạm?
-
Thẩm Quyền Công Chứng, Chứng Thực Việc Khai Nhận Di Sản Là Bất ...
-
Phạm Vi Công Chứng Hợp đồng đặt Cọc - Luật Hoàng Phi
-
Phạm Vi Công Chứng
-
Những Vấn đề Lý Luận Và Thực Tiễn Trong Việc Xác định Phạm Vi, Nội ...
-
Công Chứng Hợp đồng Thế Chấp Tài Sản.
-
Thẩm Quyền Công Chứng Hợp đồng Thế Chấp Bất động Sản
-
Thẩm Quyền Công Chứng Di Chúc, Tặng Cho Bất động Sản
-
Công Chứng Văn Bản Thỏa Thuận Phân Chia Di Sản Là Bất động Sản ở ...
-
Cần đẩy Mạnh ứng Dụng Công Nghệ Thông Tin Trong Hoạt động Công ...