THÂN THỊ BỒ ĐỀ THỌ | Phá Cửa Vô Môn
Có thể bạn quan tâm
Thân thị Bồ đề thọ, Tâm như minh cảnh đài, Thời thời cần phất thức, Vật sử nhạ trần ai. Chỉ vài câu ngắn ngủi cũng đủ để đánh giá trình độ tâm linh của hành giả. Ngày nay các Phật học viện ra đời với những bằng cấp cử nhân, tiến sĩ đáng để tự hào. Nhưng liệu những luận văn dài dằng dặc hàng trăm trang giấy có thể đảm nhiệm được vai trò của bài kệ ngày xưa? …
Kinh chép: Một ngày kia Ngũ Tổ triệu tập đồ chúng bảo mỗi người về làm một bài kệ trình cho ngài xem. Nếu ai ngộ Phật tánh sẽ được trao truyền y bát làm Tổ thứ sáu. Mọi người tự lượng sức mình, không ai làm kệ, chỉ trông chờ vào Thượng tọa Thần Tú. Ngài Thần Tú lúc ấy đang làm Giáo thọ sư bị đẩy vào thế chẳng đặng đừng buộc phải trình kệ. Nhưng ngài tự nghĩ: “Các người ấy không trình kệ là vì nể ta là Giáo thọ, thầy của bọn chúng. Ta phải làm kệ đem trình cho Hòa Thượng. Nếu không trình thì Hòa Thượng đâu biết kiến giải của ta sâu cạn thế nào? Bổn ý ta trình kệ mà cầu pháp thì tốt, còn nhắm vào ngôi Tổ thì xấu, cũng giống như người phàm mong đoạt ngôi Thánh, có khác gì đâu! Bằng chẳng trình kệ rốt cuộc thì không đắc pháp. Thiệt rất khó, rất khó!”. Cuối cùng ngài cũng làm được bài kệ nhưng không dám trình, nhân lúc nửa đêm lén viết lên trên vách, rồi trở về phòng, nằm ngồi chẳng an cho đến sáng. Kệ viết: Thân thị Bồ đề thọ, Tâm như minh cảnh đài, Thời thời cần phất thức, Vật sử nhạ trần ai. HT Thanh Từ dịch: Thân là cội Bồ đề, Tâm như đài gương sáng.. Luôn luôn phải lau chùi, Chớ để dính bụi bặm. Tổ bảo: “Ngươi làm bài kệ ấy, tỏ ra chưa thấy Bổn tánh. Ngươi mới tới thềm cửa, chưa được vào trong nhà. Cứ như chỗ thấy hiểu ấy mà tìm Vô Thượng Bồ Ðề, thì rốt cuộc không thể đạt được”. Sau đó Ngài Huệ Năng, khi ấy đang làm tạp dịch nơi nhà bếp trình bài kệ: Bồ đề bổn vô thọ Minh cảnh diệc phi đài Bổn lai vô nhất vật Hà xứ nhạ trần ai HT Thanh Từ dịch: Bồ đề vốn không cây, Gương sáng cũng chẳng đài. Xưa nay không một vật, Chỗ nào dính bụi bặm? Và Ngũ Tổ đã trao y bát cho Lục Tổ Huệ Năng. Trong kinh điển Phật giáo đây là một câu chuyện thú vị được chép lại rất chi tiết, trên đây chỉ ghi lại tóm tắt, để nắm rõ hơn mọi tình tiết cần xem ở chính kinh. Câu chuyện xoay quanh việc trình kệ để thể hiện trình độ tu học của nhà Thiền. Ngày nay chúng ta đi học đều quen với việc làm bài thi để đánh giá kết quả học tập, ai làm tốt sẽ được điểm cao và dĩ nhiên đó là người học giỏi. Từ đó ta thường nghĩ việc trình kệ ngày xưa cũng như vậy. Vì thế người ta thường giải nghĩa, phân tích hai bài kệ trên để chứng tỏ quyết định của Ngũ Tổ là đúng đắn. HT Thanh Từ giảng: “Chúng ta dốt mà đọc qua còn biết ngài chưa thấy tánh”. Điều đó không có gì sai. Tất nhiên kệ trong thiền viện và bài thi trong học đường đều phản ánh trình độ của người học nhưng không phải là tuyệt đối. Bằng cấp ngày nay có thể trao lầm cho người học dốt, sao chép luận văn, quay cóp bài vở nhưng ngôi vị Tổ không thể trao lầm người. Cho nên không hoàn toàn y cứ trên bài trình. Đó chỉ là hợp thức hóa, có cái để truyền lại đời sau. Trước đó, Tổ đã biết ngài Huệ Năng đắc pháp còn ngài Thần Tú mới chỉ đứng ngoài cửa. Ngày nay nhiều vị cũng bắt chước người xưa, cũng trao, cũng truyền nhưng vì Thầy không thực sự hiểu trò nên việc trò làm kệ thật hay nhưng sau khi được trao truyền quay trở lại phản bội Thầy Tổ diễn ra khá phổ biến. Không những trò tệ bạc mà Thầy cũng cần tự xét lại mình. Trở lại chốn Thiền môn ta thấy các vị thiền sư ngày xưa thường thử thách nhau bằng những câu vấn đáp rất đặc biệt, chỉ người trong cuộc mới có thể thấu hiểu nhau và qua đó Thầy biết rõ học trò của mình tu tới đâu, đã chứng đắc hay chưa. Chính vì lẽ ấy chúng ta không thể lạm bàn về nội dung vấn đáp của các Ngài. Là người tu học còn non nớt, chúng ta càng không đủ tư cách bàn bạc để kết luận vị này chứng quả, vị kia đắc đạo. Cho nên chuyện ngài Huệ Năng đắc pháp hãy để sang một bên, nhường cho các bậc cao minh, những kẻ tập tu chúng ta sẽ chỉ xem xét, bàn luận về trường hợp ngài Thần Tú bởi đó cũng chính là một cách nhìn lại bản thân mình. Ngoài bài kệ Vô tướng của ngài đã trích dẫn ở trên, còn có điều gì chứng tỏ ngài chưa đắc đạo? Hãy xem ngài nghĩ gì khi phải trình kệ: “Bổn ý ta trình kệ mà cầu pháp thì tốt, còn nhắm vào ngôi Tổ thì xấu, cũng giống như người phàm mong đoạt ngôi Thánh, có khác gì đâu! Bằng chẳng trình kệ rốt cuộc thì không đắc pháp. Thiệt rất khó, rất khó!”. Rõ ràng ngài rất cảnh giác, biết rằng trình để cầu pháp là tốt còn để cầu ngôi vị Tổ là xấu. Vì vậy ngài rất băn khoăn. Có thể vì sợ người khác hiểu lầm mình mong cầu ngôi vị. Có thể vì muốn tỏ ra mình trong sạch, chỉ mang mục đích cầu pháp thôi. Nhưng thực sự bản tâm ngài thế nào? Còn tham danh không? Chắc chắn còn! Về mặt ý thức biết đó là xấu nhưng cái xấu ấy tiềm ẩn trong tâm không thể chối bỏ. Nên mới sợ, mới muốn che giấu, không dám nhìn nhận sự thực. Một người thực sự không còn vướng bận danh lợi sẽ hành động một cách tự nhiên, không do dự, không ngượng ngùng, ai muốn hiểu sao cũng được, mình tự biết mình. Mọi người bình thường đều thế cả. Khi làm một điều gì tự thấy không hay đẹp sẽ luôn luôn thấp thỏm, âu lo. Một người luôn bất an trước sự đời như thế, sao có thể coi là đắc đạo? Rõ ràng ý thức, sự suy nghĩ, tri thức vừa như một hàng rào ngăn cản cái xấu, vừa là bằng chứng cho thấy tâm ta vẫn còn vấy bẩn. Nếu chỉ trông cậy vào đó sẽ có ngày phải đón nhận thảm họa. Trong điều kiện lý trí không còn phát huy tác dụng như say rượu, sắp chết, tuyệt vọng hay bị cám dỗ mạnh mẽ…, con người thật sẽ xuất đầu lộ diện. Điều đó lý giải tại sao có những người hàng ngày sống rất đạo đức, chuẩn mực lại bất ngờ phạm phải những tội ác xã hội không thể dung tha. Trung thực với chính mình, nhìn rõ vào những động lực tiềm ẩn trong nội tâm đang lăm le sai khiến mình, sẽ giúp ta hiểu rõ bản thân và tìm ra phương pháp tu tập hữu hiệu. Tu là chuyển hóa, không phải là đè nén. Ngài Thần Tú vẫn đang trong cuộc đấu tranh giữa Thiện và Ác nên rõ ràng chưa đạt đạo. Thứ nữa, chính ngài cũng không tin tưởng vào trình độ tu chứng của mình, đó không phải là thái độ của bậc thượng nhân. Chúng ta ngày nay đi thi, người nào học giỏi, sau khi làm bài xong luôn tự tin, quyết đoán biết chắc mình làm đúng sai chỗ nào. Còn những người học hành lơ mơ, phải đợi sau khi chấm xong mới biết. Ngài làm kệ xong mấy phen muốn trình, đi đến nhà trước mà trong tâm hoảng hốt, khắp thân đổ mồ hôi, trước sau trải qua bốn ngày, đến mười ba lần lui tới vẫn trình kệ không được. Phải lén viết trên tường, phó cho may rủi, lỡ mai Thầy đọc được bảo đắc đạo thì bước ra nhận, nếu không coi như uổng công bái sư tu học. Tình cảnh ấy thật thảm hại. Người đã kiến tánh tự biết mình, cầu thầy ấn chứng để chắc chắn trăm phần không sợ lầm lạc bởi Ma với Phật cũng như phiền não với Bồ đề. Chúng ta so sánh thái độ của hai vị, trong khi ngài Thần Tú tâm thần hoảng hốt, mất ăn, mất ngủ thì ngài Huệ Năng tự nhiên tự tại, chẳng hề mặc cảm vì mình không biết chữ, vì bản thân là một gã quê mùa, giữa đám đông nhờ người viết lên bài kệ, chẳng bận tâm đến chuyện mong cầu. Có điều đáng nói là tuy chưa đắc pháp song ngài Thần Tú vẫn biết tự lượng sức mình, vẫn biết băn khoăn, giữ được tâm tàm quý. Còn ngày nay chúng ta nhiều người tuy tự biết mình kém cỏi, mua bằng, mua chức nhưng chẳng chút ngượng ngùng, vẫn cứ tự nhiên, nghênh ngang như ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung. Cái tự nhiên mà thiên hạ vẫn mỉa mai “tự nhiên như ruồi”, nó chẳng phải là cái an nhiên tự tại của bậc giải thoát. Cũng từ đây sự suy nghĩ, lý trí một lần nữa chứng tỏ sự bất lực trước chân lý tối thượng. Trong đối đáp giữa các vị Thiền sư, câu hỏi không dùng để kiểm tra kiến thức, thử thách trí thông minh như trong thế học mà để trắc nghiệm tâm linh. Người nghe không có thời gian để suy nghĩ, nếu có cũng không thể dùng sự suy nghĩ tìm ra lời giải, lại càng không thể cóp nhặt đáp án trong sách vở để đưa ra câu trả lời gượng gạo. Một vị thầy không thể đưa ra câu hỏi như vậy chưa phải là Thầy thực sự. Câu trả lời của đệ tử sẽ giúp Thầy nhận ra cái vướng mắc trong tâm họ và đưa ra cách tháo gỡ. Ở đây Ngũ Tổ đã nắm quá vững trò chơi này trong tay, ngài hiểu rõ trình độ tâm linh của đồ chúng nên đưa ra một thử thách mà mọi người dù có quá nhiều thời gian vẫn không thể vượt qua để rồi cuối cùng chỉ còn lại một người duy nhất. Không phải Ngũ Tổ thừa cơ làm khó mọi người, sự thực ngài đã tạo cho họ cơ hội để nhìn nhận lại chính mình, lo tinh cần tu tập. Nó cũng giúp ngăn ngừa sự tranh giành, hạn chế sự nổi loạn của đại chúng khi Tổ vị bất ngờ được trao cho một người hoàn toàn xứng đáng nhưng trong mắt mọi người lại chỉ là một gã nhà quê, dốt nát. Mọi tình huống đã diễn ra đúng như dự đoán của Ngũ Tổ. Khi ngài Huệ Năng vừa trình kệ, mọi người vô cùng ngạc nhiên, coi Ngài như nhục thân Bồ tát, nhưng sau đó do không thể chế ngự lòng tham lam, đố kỵ, họ đã phái người ám hại Lục Tổ. Hai trạng thái mà Thượng tọa Thần Tú phải trải qua ở trên không chỉ là bài học riêng cho bản thân ngài. Tất cả những người tu đều phải trải qua, phải lâm vào những trường hợp tương tự. Thay vì để hết thời gian mải mê lý giải từng câu, từng chữ trong kinh sách, việc dành nhiều thời gian hơn cho việc quán sát nội tâm sẽ mang lại cho hành giả nhiều cơ hội thăng tiến trên đường đạo.
Share this:
- X
Related
Post navigation ← XA LÌA VỌNG TƯỞNG HỮU NGÃ, TỘI TỨC SANH →14 thoughts on “THÂN THỊ BỒ ĐỀ THỌ”
-
Gửi tâm nơi gốc cội Bồ ĐềCho lòng nhẹ nhỏm xóa u mêTấm thân thanh thản đời an lạcTây thiên cực lạc nẻo đường về.21.11.2012HOANGHAI
Reply -
Tuyệt lắm! Cảm ơn bạn đã ghé thăm và để lại những vần thơ thanh thoát.
Reply -
Anonymous writes:Mình vô tình ghé vào trang này, đọc một bài luận khá dài và 1 bài thơ của hoanghai. Tự nhiên lòng thấy xót xa cho ngài Thần Tú và cả Đức Lục tổ.Tại sao tôi nói vậy? Vì thực sự từ trước tới giờ mình nghe giảng đoạn này của rất nhiều thầy nhưng hầu như ai cũng suy luận theo lối mòn của kiến thức. Ngài Thần Tú là giáo thọ sư theo học với Ngũ Tổ đâu thể thô thiển như cách bạn phân tích như 1 phàm phu!?Để hiểu tại sao ngài không được truyền y bát không nên phân tích những nghĩ suy không bằng chứng kia mà hãy từ bài kệ của ngài.Về bài thơ mình xin góp ý, nếu bài thơ nhằm ý nói sự khao khát mà một người học đạo muốn hướng tới thì rất đáng khích lệ nhưng y cứ theo câu chữ rõ ràng chính tác giả cũng chưa định hướng đường tu, thế nào là thân, thế nào là tâm thì chắc chắn không rời khỏi "ngũ ấm suy thịnh" , nên nói cũng như chưa nói.Nên kết luận cả bài luận và bài thơ không thể đem lại lợi lạc gì cho người học Phật, bởi không đưa ra được chánh kiến để từ đó có chánh tư duy theo tinh thần giải thoát.
Reply -
Anonymous writes:Mình vô tình ghé vào trang này, đọc một bài luận khá dài và 1 bài thơ của hoanghai. Tự nhiên lòng thấy xót xa cho ngài Thần Tú và cả Đức Lục tổ.Tại sao tôi nói vậy? Vì thực sự từ trước tới giờ mình nghe giảng đoạn này của rất nhiều thầy nhưng hầu như ai cũng suy luận theo lối mòn của kiến thức. Ngài Thần Tú là giáo thọ sư theo học với Ngũ Tổ đâu thể thô thiển như cách bạn phân tích như 1 phàm phu!?Để hiểu tại sao ngài không được truyền y bát không nên phân tích những nghĩ suy không bằng chứng kia mà hãy từ bài kệ của ngài.Về bài thơ mình xin góp ý, nếu bài thơ nhằm ý nói sự khao khát mà một người học đạo muốn hướng tới thì rất đáng khích lệ nhưng y cứ theo câu chữ rõ ràng chính tác giả cũng chưa định hướng đường tu, thế nào là thân, thế nào là tâm thì chắc chắn không rời khỏi "ngũ ấm suy thịnh" , nên nói cũng như chưa nói.Nên kết luận cả bài luận và bài thơ không thể đem lại lợi lạc gì cho người học Phật, bởi không đưa ra được chánh kiến để từ đó có chánh tư duy theo tinh thần giải thoát.
Reply -
Tuy không cùng cách nhìn nhưng dù sao cũng cảm ơn bạn. Nếu không thấy chánh kiến để chánh tư duy từ người khác thì có thể tự mình tìm ra mà.
Reply -
Anonymous writes:Mình rất vui được giao lưu Phật pháp cùng bạn. Bạn hãy thử tư duy ngoài văn hoá số đông, bạn sẽ nhận ra nhiều ý nghĩa trong Phật đạo. Ví dụ như tại sao y bát lại chỉ truyền đến thời Lục Tổ rồi dừng!!? Y bát là vật hữu vi sao ngài phải xé thành 3 mảnh chôn 3 nơi khác nhau!!? Trong kinh có viết : "Không hoại hữu viChẳng trụ vô vi". Bạn sẽ hiểu tâm tình của chư Tổ.
Reply -
Mình cũng rất mừng khi được hạnh ngộ với những người quan tâm tới Phật pháp như bạn, hiện nay không nhiều. Cảm ơn sự chỉ giáo của bạn. "Trực chỉ nhân tâm" không chỉ là đường lối của các vị thiền sư nên mình nghĩ cái thấy biết bên ngoài phải làm cơ sở cho cái thấy biết bên trong, chánh kiến là cái nhìn chân thực nhất của mình về chính mình. Giao lưu cũng là cơ hội để tự thấy mình. Một lần nữa xin cảm ơn bạn đã mang cơ hội ấy đến với mọi người.
Reply -
Anonymous writes:Phàm la người học đạo, nói phàm tức chưa đạt, mà chưa đạt ắt lời nói trong vô minh. Vô minh ấy há đã là đúng, là chỗ để không thể bàn nữa ư. Sự minh triêt thì lại là sản phẩm của sự liên kết các pháp vô minh. Dẫu biết bàn ngôn xa thể, nhưng nếu ngôn không bàn liệu thể có thể lưu truyền? Chúng ta sông cách thời ngũ tổ quá xa để có thể nhìn nhận đúng đắn được. Việc chấp nhận các cách nhìn tương đối cũng là chấp nhận được, chỉ mong các đạo hữu nhận được lợi lạc và mở rộng được tầm nhìn, tiến hơn trên con đương tâm linh. Thiết nghĩ nếu chúng ta cứ chờ đợi đc trực chỉ nhân tâm mà không tự quét dọn tâm mình thì sự giác ngộ há lại có phần ư!
Reply -
Bạn nói rất đúng nhưng bạn hiểu thế nào là trực chỉ nhân tâm? Theo mình, "tự quét dọn tâm" cũng là trực chỉ nhân tâm đấy.
Reply -
Mọi bước ta đi đầy gian nanHọc hỏi siêng năng thoát cơ hànGom từng hạt gạo mong no ấmCầu mong an lạc thoát lầm than.16.6.2013HOANGHAI
Reply -
Anonymous writes:Trực chỉ nhân tâm? Nếu quét dọn tâm là chực chỉ thì nói trực chỉ chẳng qua là dùng ngôn từ hoa mỹ cho sự quét dọn ấy ư? Y như ngài Thần Tú cũng quét dọn tâm ấy, nếu lời nhận xét của ngũ tổ là thật thì hành như vậy cũng xẽ đc lợi ích lớn. Còn có thành Phật đc không thì kẻ mắt còn chưa sáng như tha nhân chẳng dám có ý kiến. An Huy!
Reply -
Bản thân việc “quét dọn tâm” đã rất quý, không phải ai cũng làm được, đâu cần một mỹ từ nào đó để làm đẹp ra. Khi bạn nói “được trực chỉ nhân tâm” mình đã đoán bạn hiểu câu này theo cách khác, nên đành mạn phép nhiều lời một chút vậy.Trước đây, có người bạn đồng tu hỏi: “…bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm…, sao không thấy tiến trình tu tập ở chỗ nào?” Mình trả lời: “Trực Chỉ Nhân Tâm đã là một tiến trình, không phải nói một câu, nhảy một bước đã có thể Minh Tâm, Kiến Tánh”. Vì mình hiểu trực chỉ… là đừng say mê tranh biện chuyện bên ngoài, cứ nhắm thẳng tâm mình mà tu mà sửa. Ví dụ như khi chúng ta cùng nhau trao đổi, nếu chỉ nhằm mục đích chứng tỏ sự tài giỏi của mình, thắng một câu thì hoan hỷ, thua một chữ cũng giận hờn, đó là lo hơn thua, chạy theo chuyện bên ngoài, mặc cho sân si sai khiến. Trái lại nghe đối phương miệt thị, tự ái nổi lên, lập tức nhận ra và tìm cách chuyển hóa đó là biết nhắm thẳng tâm mình mà sửa, cứ thế mỗi ngày sạch sẽ thêm một chút, bạn gọi là quét dọn, bạn Hoàng Hải gọi là "gom từng hạt gạo mong no ấm". Ngôn từ có khác nhưng cách hiểu và cách tu của chúng ta xét kỹ vẫn có điểm tương đồng.Nếu bạn bớt chút thì giờ đọc thêm vài bài khác trong blog này sẽ thấy với chủ đề “Bên Lề Kinh Sách” tuy bàn chuyện người nhưng chủ đích để từ đó nhìn lại chính mình. Đã là cái nhìn của vọng tâm tất nhiên hạn hẹp, bạn nhìn về ngài thần Tú một cách, mình nhìn một cách, đó là chuyện thường nhưng mình vẫn có thể học hỏi từ cách nhìn của bạn để mở rộng tầm nhìn, ứng dụng vào việc tu học của bản thân cũng tốt hơn. Còn những bài viết với chủ để “Xa Lìa Vọng Tưởng” là cách quét dọn của mình, tất nhiên cũng học từ kinh sách. Bạn nói "Việc chấp nhận các cách nhìn tương đối cũng là chấp nhận được, chỉ mong các đạo hữu nhận được lợi lạc và mở rộng được tầm nhìn, tiến hơn trên con đương tâm linh. Thiết nghĩ nếu chúng ta cứ chờ đợi đc trực chỉ nhân tâm mà không tự quét dọn tâm mình thì sự giác ngộ há lại có phần ư!". Xem ra mình đang đi trên con đường do bạn vạch ra đấy chứ.
Reply -
Anonymous writes:Tha nhân viết những lời nhận xét trên có phần nhắm vào riêng đạo hữu, có chỗ lại là nói chung cho cả chúng ta. Nếu chúng ta ko chung sao có thể đàm vậy chứ! Nghĩ tới sự đàm cần phải có tinh thần và cách nhìn khác phàm tình mới đc. Như trên đạo hữu nói về sự trao đổi, tranh luận; cùng là sự tranh luận hơn thua, tranh hơn, tranh đúng, sự ấy đúng, sai, tốt, xấu còn phải xem tâm địa người trong cuộc, cách nhìn và mục đích mới la quan trọng. Tha nhân thường nhìn người thắng là người thiệt, người thua là người đc mở rộng tri kiến. Vậy nên tha nhân cũng mạn phép nhiều lời, chỉ cầu thua làm vui, cầu thắng vì thương! Hiểu đc tâm tư tha nhân ắt là tri kỷ. An Huy!
Reply -
Đa tạ!
Reply
Leave a comment Cancel reply
| M | T | W | T | F | S | S |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 2 | 3 | 4 | |||
| 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 |
| 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 |
| 19 | 20 | 21 | 22 | 23 | 24 | 25 |
| 26 | 27 | 28 | 29 | 30 |
- ẢNH THƠ
- BÊN LỀ KINH SÁCH
- BẤT NHỊ
- MỘT PHÚT TRẦM TƯ
- PHIẾM LUẬN
- THƠ
- TRUYỆN NGẮN
- Uncategorized
- VĂN HÓA
- XA LÌA VỌNG TƯỞNG
- March 2026 (1)
- October 2025 (1)
- June 2025 (1)
- February 2025 (1)
- November 2024 (2)
- October 2024 (1)
- August 2024 (2)
- June 2024 (3)
- May 2024 (1)
- March 2024 (1)
- December 2023 (1)
- September 2023 (1)
- July 2023 (1)
- March 2023 (2)
- October 2022 (1)
- September 2022 (1)
- August 2022 (1)
- July 2022 (2)
- June 2022 (1)
- May 2022 (1)
- April 2022 (1)
- March 2022 (1)
- February 2022 (1)
- January 2022 (1)
- December 2021 (2)
- November 2021 (1)
- October 2021 (2)
- August 2021 (3)
- July 2021 (1)
- June 2021 (1)
- May 2021 (1)
- February 2021 (1)
- December 2020 (1)
- November 2020 (1)
- October 2020 (1)
- September 2020 (1)
- August 2020 (1)
- July 2020 (1)
- June 2020 (2)
- April 2020 (1)
- March 2020 (1)
- February 2020 (1)
- December 2019 (2)
- October 2019 (3)
- August 2019 (1)
- June 2019 (1)
- April 2019 (1)
- March 2019 (1)
- January 2019 (1)
- September 2018 (1)
- August 2018 (1)
- July 2018 (3)
- May 2018 (1)
- April 2018 (2)
- March 2018 (2)
- February 2018 (1)
- January 2018 (2)
- December 2017 (1)
- September 2017 (1)
- April 2017 (1)
- February 2017 (1)
- January 2017 (1)
- December 2016 (1)
- October 2016 (2)
- September 2016 (1)
- August 2016 (1)
- July 2016 (3)
- June 2016 (2)
- May 2016 (2)
- April 2016 (1)
- March 2016 (1)
- February 2016 (2)
- June 2014 (2)
- April 2014 (1)
- January 2014 (1)
- December 2013 (1)
- October 2013 (1)
- September 2013 (1)
- August 2013 (5)
- July 2013 (2)
- June 2013 (1)
- May 2013 (2)
- April 2013 (2)
- March 2013 (1)
- February 2013 (2)
- January 2013 (1)
- December 2012 (3)
- November 2012 (2)
- October 2012 (3)
- September 2012 (1)
- August 2012 (1)
- July 2012 (3)
- June 2012 (7)
- May 2012 (11)
- April 2012 (2)
- March 2012 (1)
- November 2011 (1)
- October 2011 (1)
- August 2011 (3)
- July 2011 (1)
- June 2011 (2)
- May 2011 (3)
- April 2011 (3)
- March 2011 (7)
- February 2011 (6)
- HẠNH PHÚC ĐẦU XUÂN
- LỜI TÌNH CUỐI ĐÔNG
- ĐIÊN ĐẢO THẾ TÌNH
- LỠ MỘT NHỊP ĐỜI
- LỐI VỀ
| tuongnhan on GIÓ ĐỘNG, PHƯỚN ĐỘNG HAY TÂM… | |
| Đỗ Ngọc Thành on GIÓ ĐỘNG, PHƯỚN ĐỘNG HAY TÂM… | |
| tuongnhan on GIÓ ĐỘNG, PHƯỚN ĐỘNG HAY TÂM… | |
| Hulinning2 on GIÓ ĐỘNG, PHƯỚN ĐỘNG HAY TÂM… | |
| tuongnhan on BÀN CHUYỆN CHỮ TÂM (tiếp … |
- Comment
- Reblog
- Subscribe Subscribed
-
Phá Cửa Vô Môn Sign me up - Already have a WordPress.com account? Log in now.
-
-
-
Phá Cửa Vô Môn - Subscribe Subscribed
- Sign up
- Log in
- Copy shortlink
- Report this content
- View post in Reader
- Manage subscriptions
- Collapse this bar
-
Từ khóa » Bồ đề Bổn Vô Thọ
-
Bồ đề Bổn Vô Thọ… - Thư Viện Hoa Sen
-
Bồ Đề Bổn Vô Thọ… - Hoa Vô Ưu
-
Bồ Đề Bổn Vô Thụ - Phật Giáo
-
Bồ Đề Bổn Vô Thụ
-
Về Bài Kệ Của Lục Tổ Huệ Năng - Giác Ngộ Online
-
[Vietsub] Bồ đề Bổn Vô Thụ - Từ Kiện Kỳ [ 菩提本无树 - 徐健淇]
-
Đạo Phật - 33 - LỤC TỔ HUỆ NĂNG "Bồ đề Bổn Vô Thọ, Minh...
-
TRỌN MỘT ĐỜI TÔI - Thiền Tông Việt Nam
-
[Thư Pháp] Bồ đề Bổn Vô Thọ, Minh Cảnh Diệc Phi đài
-
Về Bài Kệ Của Lục Tổ Huệ Năng - .vn
-
Bụi Trần Bám Vào đâu?! (Thiên An) - Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo
-
Thiền Sư Thần Hội Giảng Giải - Thần Hội Ngữ Lục - Giới Thiệu Sơ Lược
-
Huệ Năng – Wikipedia Tiếng Việt
-
Bài Kệ Của Cư Sĩ Huệ Năng : Chẳng Phải Phá Chấp - Kiến Tánh
-
PHẬT HỌC CHỈ NAM - Bác Sĩ Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ
-
Bổn Lai Vô Nhất Vật - Ông Năm Vấn Đáp