Thân Thương Ngọn Núi Quê Nhà (Nguyễn Chí Diễn)
Có thể bạn quan tâm
Núi sau chùa làng chỉ thấp như một ngọn đồi nhưng dân quê quen gọi là núi, đất tơi xốp, có thể trồng sắn và bạch đàn. Xưa dân làng vẫn trồng nhiều sắn để lấy cái ăn và bán. Khi thu hoạch sắn về, buổi tối bố mẹ tôi thường tách củ sắn ra, cắt đầu đuôi, lọc lấy những củ ngon, dậy sớm từ 1-2 giờ đêm để luộc rồi 4-5 giờ sáng chở đi chợ bán. Có khi tách vỏ rồi bào củ sắn ra thành nhiều sợi nhỏ, hoặc thái lát, sau đó phơi khô để bảo quản, đến mùa giáp hạt thì đem những sợi sắn trắng tinh trộn với cơm để ăn. Những ruộng sắn trên núi đã giúp gia đình tôi và dân làng vượt qua những tháng ngày gian khó mà tôi không thể nào quên.
Xa hơn núi Con Hùm là núi Can Vang, nơi đó có trường học cấp 2 của xã, nơi gắn bó với chúng tôi nhiều kỉ niệm thần tiên của tuổi học trò. Sau giờ học chúng tôi thường rủ nhau lên núi chơi. Lưng chừng núi có nghĩa trang ghi danh những liệt sĩ của cả xã đã hi sinh vì nền độc lập, tự do của dân tộc. Trong số đó có bác tôi, ngôi mộ chỉ ghi tên chứ đại gia đình tôi chưa tìm được hài cốt của bác để mang về quê hương. Mỗi lần đi qua đó tôi lại có một cảm xúc rưng rưng khó tả, tôi liên tưởng tới những nghĩa trang lớn ở Trường Sơn với hàng ngàn ngôi mộ có tên và chưa biết tên, như nhắc nhở tôi phải biết trân trọng những giây phút quý giá của hòa bình và biết ơn các liệt sĩ đã ngã xuống để bảo vệ tổ quốc.
Trên đỉnh núi Can Vang vẫn còn sót lại những di tích của thời chiến tranh do quân Pháp xây dựng kiên cố bằng xi-măng, vẫn còn những đường hào, đường hầm, một phần bị cát và nước mưa bồi lấp, có cả đoạn đường hầm dẫn từ đỉnh núi xuống sông Cầu, nghe nói là để đưa nước từ dưới sông lên. Chúng tôi đã tò mò định đi hết đường hầm này, nhưng hóa ra đường hầm đã bị lấp, chỉ còn là hầm cụt.
Ngọn núi nổi tiếng nhất ở vùng Tiên Sơn chính là núi Bổ Đà, nơi có ngôi chùa cùng tên, gắn liền với sự tích về ông tiều phu bổ củi. Chùa Bổ Đà, còn có tên là chùa Tam Giáo, đã được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt với những giá trị to lớn về lịch sử và kiến trúc nghệ thuật. Chùa được xây dựng vào thời nhà Lý (thế kỷ XI), được trùng tu và mở mang thêm phần lớn vào thời Lê trung hưng và nhà Nguyễn. Chùa là quần thể kiến trúc gồm chùa Quán Âm, chùa Tứ Ân, am Tam Đức, vườn tháp, ao Miếu. Chuyện xưa kể lại rằng có một ông tiều phu nghèo, hai vợ chồng đã có tuổi mà mãi chưa có con. Một hôm ông lên núi đốn củi, mỗi nhát bổ vào gốc thông ông lại niệm “Quán Thế Âm Phật” và thật kì lạ, mỗi lần lại ra một đồng tiền vàng, tổng có 32 đồng tiền tương ứng với 32 điều ứng nghiệm. Ông chỉ cầu có được một người con và sau đó đã sinh được một người con trai. Biết ơn Quán Thế Âm, ông đã xây dựng chùa thờ nơi gốc thông cũ. Chùa được xây trên vùng đất sơn thủy hữu tình, luôn có tiếng chim ca hòa cùng tiếng thông reo.
Nhà văn Nguyên Hồng đã từng đến đây và chép những vần thơ để lại vào mùa đông năm Canh Tuất (1970):
Thơ vịnh chùa Bổ-đà
Bổ-đà cảnh đẹp biết bao nhiêu! Phượng múa vâm1 quỳ nguyệt đức triều. Tiếng kệ tuyên dương nền đạo pháp Câu kinh diễn giảng lý cao siêu. Chuông kình vọng tiếng vang ngày tháng Mõ ngạc du dương điểm sớm chiều. Xuân cả bốn mùa sen nở ngát Xây nền Cực-lạc gấm hoa thêu.
Vãn cảnh Bổ-đà
Non xanh hỏi có nhớ chăng a! Khách lại lên thăm cảnh Bổ-đà. Trên đỉnh tôn nghiêm nơi Phật ngự Nhà trai tịch mịch chốn Tăng già. Hàng thông đứng thẳng chào du-sĩ Núi phượng vươn mình đón lão – gia. Sơn thủy dường như trìu mến khách Về càng lưu ý Đạt-ma-ra.
Từ trên đỉnh núi Bổ Đà có thể nhìn thấy toàn cảnh của xã Tiên Sơn và nhiều vùng của huyện Việt Yên. Dưới chân núi là làng mạc xen kẽ giữa những cánh đồng, xa xa là dòng sông Cầu uốn lượn như một dải lụa thắt ngang lưng làng quan họ. Có lần ông tôi chỉ tay về phía các làng ven sông và nói đó là những làng thờ Đức thánh Tam Giang – vị thần gắn liền với bài thơ Nam quốc sơn hà, được coi là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc. Các làng ven sông vẫn còn những di tích lịch sử gắn liền với phòng tuyến sông Như Nguyệt của Lý Thường Kiệt chống lại quân Tống năm xưa. Từ trên đỉnh núi, tôi còn trông thấy những cánh chim, cánh cò bay về từ đàng xa vào những buổi xế chiều, đội hình của chúng xếp hàng ngay ngắn thành một chữ V. Ông tôi bảo, chữ V đó là viết tắt của chữ Việt. Ai đi xa quê cũng nhớ về huyện Việt Yên mình, ai đi xa đất nước cũng nhớ về một Việt Nam thân thương.
Bây giờ hai chị em tôi đã lớn, tất bật với công việc mưu sinh, không còn vui đùa bên những hòn sỏi trên núi sau chùa nữa, bố mẹ tôi cũng trồng bớt sắn đi nhiều vì cuộc sống đã khá giả hơn. Tôi cũng không còn được ông bà kể cho những chuyện ngày xưa nữa bởi ông bà đã đi xa. Nhưng vẫn còn mãi với thời gian tên của những ngọn núi Tiên Sơn cùng với những tên làng, tên sông như nhắc nhở tôi phải biết yêu quê hương bản quán, phải biết lan truyền tình yêu đó đến thế hệ mai sau như ông bà đã truyền cho tôi thuở trước.
Tiên Sơn ơi! Yêu sao những ngọn núi quê nhà. Chú thích:
1. Vâm là tên gọi con voi theo ngôn ngữ cổ ở địa phương.
Từ khóa » Ngọn Núi Trong Bài Thơ Quê Mẹ
-
Ngọn Núi Nào được Nhắc Tới Trong Bài Thơ “Quê Mẹ” Của Tố Hữu?
-
Bài Thơ: Quê Mẹ (Tố Hữu - Nguyễn Kim Thành) - Thi Viện
-
Bài Thơ "Quê Mẹ" Của Tố Hữu Nhắc đến Sông Hương Và Núi Nào ?
-
Ngọn Núi Nào được Nhắc Tới Trong Bài Thơ "Quê Mẹ" Của Tố Hữu?
-
Quê Mẹ – Tố Hữu - Tao đàn
-
Nhà Thơ Tố Hữu & Quê Mẹ - Báo Thừa Thiên Huế Online
-
Tìm Bài Thơ "quê Mẹ" (kiếm được 200 Bài)
-
Tiết 1, Bài 1: Đọc Hiểu Văn Bản Tôi đi Học (Thanh Tịnh)
-
Top 27 Bài Thơ Hay Về Quê Mẹ
-
Bài Soạn Văn đầy đủ Và Chi Tiết Nhất
-
Núi Bài Thơ - Ngọn Núi Của Thi Ca Và Những điều Bí ẩn Tuyệt Diệu
-
Soạn Bài Tôi Đi Học Nhanh Nhất - Kiến Guru
-
Hành Trình Quê Mẹ (thơ) - Mặc Giang
-
I.Đọc Hiểu Mẹ Là Biển Cả Thênh Thang Cha Là Ngọn Núi Cao Sang Giữa ...