Thánh Nhân Xuất Theo Sấm Trạng Trình | HẠ LONG VĂN ĐÀN

Trích từ Việt Sử Siêu Linh ( 1999) một số câu ám chỉ Thánh Nhân xuất :

Thủy trung tàng bảo cái

hứa cập thánh nhân hương

mộc hạ châm châm khẩu

danh thế xuất nan lường

Giữa có nước tàng lọng quí, mới tới được quê hương thánh nhân.Tên thánh nhân “ mộc hạ châm châm khẩu “ là lối triết tự của cổ nhân, chữ châm gồm chữ kim và chữ thập . Kim chỉ phương Tây ( Ðoài phương phúc địa giáng linh …), thập chỉ danh “ có thầy Nhân Thập đi về “ . Nhân Thập là thánh Tản, năm chữ nhânmột chữ thập thành chữ Tản. Ba chữ mộc, hạ, khẩu, không chiết tự được vào nghĩa nào, cụ Ba La chỉ cho biết tên nhưng không giải thích thêm .  Chữ khẩu và chữ thập có thể thành chữ điền trong câu “ phá điền thiên tử giáng trần “.

Bảo cái là lọng quí tức núi Tản hình cái lọng (Tản Viên ), thủy trung có thể là núi Tản bên bờ sông Ðà giang, hoặc đỉnh non Tản có ao nước ( nay chỉ còn ao nhỏ róc rách nước từ vách núi chẩy xuống ). Nghĩa sau hợp lý hơn. Thánh nhân xuất thật khó lường ( nan lường ). Có bản chép về đoạn này như sau :

Dục thức thánh nhân hương

quá kiều cư Bắc phương

dục thức thánh nhân danh

mộc hạ châm châm khẩu

cũng không khác nhau về ý nghĩa.

Bảo giang Thiên tử xuất

bất chiến tự nhiên thành

phân phân tùng bách khởi

nhiễu nhiễu xuất Ðông chinh

Thiên tử xuất ở sông quí, không cần chiến chinh cũng thành công, bậc quân tử khởi nghiệp ( tùng bách cây cao bóng cả chỉ bậc thánh nhân quân tử ) xuất phát về hướng Ðông mà chinh phục lòng người. Bảo giang tức sông Ðà, Sơn Tây, từ Tây sang Ðông là hướng quần tiên khởi nghĩa chẳng phân hại người.

Trạng Trình là bậc Trạng Nguyên, không mơ hồ Ðông Tây Nam Bắc, cụ ngồi ở Bạch Vân Am ( Hải Dương, Hải Phòng bây giờ ) nhìn về Tây là núi Tản, hoặc lấy cứ điểm là kinh thành Thăng Long để định hướng cũng vậy. Không thể nói phương Tây là miền Tây  Nam Phần Việt Nam được.

Có bản chép : phân phân tòng bắc khởi không hợp nghĩa. Hai câu đầu người Việt Nam không mấy ai không thuộc lòng , sấm Trạng Trình có thể gọi là cuốn Sách Ước của dân tộc, ăn sâu vào tàng thức mọi người.

 Bảo sơn thiên tử xuất

bất chiến tự nhiên thành

lê dân đào bão noãn

tứ hải lạc âu ca

Thiên tử xuất từ núi quí, không dùng binh vẫn đạt thành, dân đen đều vui mừng no ấm ( bão bộ thực mới có nghĩa no ấm, bộ thủ nghĩa là ôm ấp, không thích hợp ) , bốn biển an lạc thanh bình.

Bảo sơn, Bảo giang là đất kết phát bậc thánh nhân. Núi Tản làm cái án che độc khí phương Bắc cho thành Ðại La ( Thăng Long sau này ), là đầu rồng long mạnh tụ hội, đột ngột nổi cao 1300 mét trên đồng bằng. Sông Ðà là tay hổ hùng mạnh đổ từ vùng Vân Nam xuống cùng đại thế Hy Mã Tây Tạng truyền về nước Việt. Cụ Ba La cho rằng bậc thánh nhân này có thể thống lĩnh cả Trung Hoa, ít nhất là phần đất cổ xưa của Bách Việt. Như thế mới hết nghĩa của chữ tứ hải.

Xét theo đại thế phong thủy, Trung Hoa có núi cao sông dài hơn nước Việt nhỏ bé, nên Trung Hoa ở thế đại cường thiên hạ. Tuy vậy long mạch Dương Tử Giang đang bị cắt phá vì công trình xây cất đập nước, con rồng lớn Trung Hoa trong thiên kỷ tới có thể vì thế yếu đi, sẽ bị đại địa kết phát Bảo sơn Bảo giang khuynh loát. Lịch sử theo luật tiến hóa thăng trầm, không nước nào mạnh mãi, không nước nào yếu mãi. Long mạch cũng theo định luật đó, thời kết phát, thời suy vong.

Mại dữ lê viên dưỡng

Khởi nguyệt bộ đại giang

hoặc kiều tam lộng ngạn

hoặc ngụ kim lăng cương

Xét đại ý thánh nhân khi chưa xuất hiện, sinh sống nơi vườn tược ( lê viên dưỡng ), lúc vui với trăng nước bên sông , lúc hóng mát bên cầu, bờ đê, lúc trú ngụ ở Kim lăng cương… Kim cương chỉ vùng núi phương Tây.

Câu này được nhắc lại trong phần chữ nôm : Vua còn cuốc nguyệt cầy mây…

Nhân nghĩa thùy vi địch

đạo đức thục dữ đương

tộ truyền nhị thập ngũ

vận khải ngũ diên trường

 

Nhân nghĩa đạo đức của thánh nhân không ai có thể đương đầu chống lại, ngài ở ngôi thiên tử hai mươi lăm năm, để lại đại hồng vận cho dân tộc năm trăm năm.

Hai triều đại vương đạo lâu dài nhất trong sử Việt là Lý và Trần cũng chỉ trên dưới 200 năm. Thánh nhân khai sáng nghiệp 500 năm phải được long mạch trường thế tương đương với họ Hồng Bàng. Thánh Tản là con rể vua Hùng và đã làm vua một thời gian ngắn trước khi họ Hùng chuyển sang họ Thục. Thánh nhân là hóa thân của thánh Tản, lấy đức mà trị dân, đưa dân tộc trở lại vinh quang thịnh trị của thời Hùng vương lập quốc.

Thiên dữ thần thực thụy

thụy trình ngũ sắc quang

kim kê khai lựu diệp

hoàng cái xuất quí phương

Trời đất thánh thần cùng báo điềm lành, mây ngũ sắc hiển hiện, gà vàng mở lá lựu, lọng vua xuất hiện phương quí.

Ca dao có câu :        Nhất cao là núi Tản viên

                                    Núi thắt cổ bồng

                                    mà lại có thánh sinh

Câu sấm này lại nhắc tới lọng vua ( hoàng cái ) tức Tản viên, ở quí phương tức phương vàng ( kim ) là phương Tây. Trong chữ lựu   có chữ điền, khai lựu diệp cũng có nghĩa như phá điền thiên tử giáng trần, cổ nhân muốn gợi ý thánh Tản xuất. Phá chữ điền   lộ ra chữ thập   , là thấy danh “ nhân thập “ trong câu “ có thầy nhân thập đi về, tả phù hữu trì, cây cỏ làm binh “.

Quần gian đạo danh tự

bách tính khổ tai ương

ma vương sát đại quỷ

hoàng thiên tru ma vương

Bọn gian tà ăn trộm chữ nghĩa làm trăm họ khổ sở, ma vương giết đại quỷ, nhưng trời cao sẽ tiêu diệt ma vương.

Câu đầu dường như ám chỉ bọn gian tà giả nhân giả nghĩa, bầy đặt ý thức hệ , diễn trò điên đảo tưởng, miệng nói bình đẳng bác ái, lòng lại tham tàn độc ác. Hai câu cuối rất phổ biến, nhiều người thuộc lòng. Tuy vậy lời sấm ứng vào giai đoạn lịch sử nào thì không được rõ, vì từ sau đời Trạng Trình, suốt 400 năm nhiễu nhương biến loạn lầm than, lịch sử quay cuồng đủ mọi phường ma quỷ bá đạo, trăm họ chỉ còn biết nhìn Trời cao mà cầu khẩn. Có người cho rằng đại quỷ là Tây thực dân, ma vương là Cộng sản, nay tổ Nga Cộng đã bị tru diệt là ứng với lời sấm.

Ðây là một trong những đoạn sấm hay và có giá trị văn chương, chỉ tiếc rằng không có liên hệ với câu khác để định thời điểm. Mới đọc có cảm tưởng như một nhà nho nào đặt ra vào thời hiện đại, khoảng 1945-50, nhưng lời sấm này đã có chép trong bản 1930 của Sở Cuồng ( Nam Ký thư xã -Hà Nội ) và bản Ðại La ( 1948 ), vả lại hai câu cuối truyền khẩu trong dân chúng từ nhiều thế hệ.

Bắc hữu kim thành tráng

Nam tạc ngọc bích thành

hỏa thôn đa khuyển phệ

mục dã dục nhân canh

Bắc có thành vàng tráng lệ, Nam tạc thành ngọc xanh, xóm lửa vang chó sủa, mong người canh tác cánh đồng quê.

Ðoạn này lại nhắc tới kim thành ( kim là phương Tây ) và hỏa thôn là thôn làng thánh nhân ( thiên sinh thiên tử ư hỏa thôn ) .

Hai câu : Bắc có kim thành, Nam tạc thành ngọc bích, không rõ nghĩa. Có người gượng đoán là Nam, Bắc Việt đều có đất quí, thiết tưởng là chủ quan thời đất nước chia hai.

Nam Việt hữu Ngưu tinh

quá thất thân thủy sinh

địa giới SỈ vị BẠCH

Thủy trầm nhĩ bất kinh

Nam Việt có sao Ngưu, quá thất thân mới sinh , địa giới răng chưa trắng, nước chìm tai chẳng kinh.

Lại nhắc tới sao Ngưu chủ tinh của thánh nhân,  quá thất thân : có thể ám chỉ thời xuất thánh như câu “ lục thất nguyệt gian “ trong đoạn sấm khác, hoặc nếu chữ thất là bảy thì tạm hiểu là ngoài bảy mươi tuổi, hoặc là một cách tính độ sao Ngưu xuất lộ vào vận thất khai ( ? ).

Hai câu sau là câu đối : Ðịa giới đối với thủy trầm, xỉ đối với nhĩ, vị bạch đối vói bất kinh. Ở đây đưa ra một tên khác của thánh Tản là Bạch Sỉ, trong chữ Sỉ     ( răng ) có 4 chữ nhân, ám chỉ Nhân Thập  tức thánh Tản, chữ Bạch ( trắng ) là ẩn ngữ chỉ danh. Trong bài thơ tiên tri của chúa Liễu giáng cũng có câu : non xanh mà mọc trắng răng cũng kỳ, đều hàm chứa tên thánh nhân. Cụ Ba La cho biết tên nhưng không nói rõ cách chiết tự hoặc ghép chữ, chưa thấy ai tìm ra cách  cắt hoặc ghép đúng .

Phú quí hồng trần mộng

bần cùng bạch phát sinh

anh hùng vương kiếm kích

manh cổ đổ thái bình

My beautiful picture

                                                          Khu di tích Trạng Trình-Vĩnh Bảo

Công danh phú quí như giấc mộng hồng trần, lúc bần cùng mới bạch phát sinh ra, bậc quân vương anh hùng lập chiến công dựng nghiệp lớn, kẻ mù lòa lại được thấy thái bình âu ca !

Bạch phát sinh là ba chữ chìa khóa trong đoạn này, chữ bạch nhắc tới Bạch Xỉ, bạch phát hàm ý bạch ốc phát công danh. Bần cùng : chú ý chữ cùng  có bộ huyệt.

Ðoạn này dùng ẩn ngữ với tứ thơ cao siêu, vừa nói lên thân thế thánh nhân từ bạch ốc phát sinh, coi phú quí như giấc mộng, vừa dùng ảnh tượng người mù thấy cảnh thanh bình, lại thêm vài nét chữ gợi danh tính thiên tử. Quả là tuyệt bút !

Cập nhật 10-2013- Cụ BA LA có nói tên Thánh Nhân- liên quan tới họ LÝ- nhưng dặn không nên tiết lộ vì ” thời này tiểu nhân còn nhiều ” chúng tôi xin giữ lời hứa với Cụ.

Rate this:

Share this:

  • X
  • Email
  • Print
  • Facebook
  • More
  • Tumblr
  • LinkedIn
Like Loading...

Related

Từ khóa » Phá điền Thiên Tử Xuất Bất Chiến Tự Nhiên Thành