Thất Ngôn Tứ Tuyệt – Wikipedia Tiếng Việt

Bước tới nội dung

Nội dung

chuyển sang thanh bên ẩn
  • Đầu
  • 1 Luật thơ
  • 2 Tham khảo
  • Bài viết
  • Thảo luận
Tiếng Việt
  • Đọc
  • Sửa đổi
  • Sửa mã nguồn
  • Xem lịch sử
Công cụ Công cụ chuyển sang thanh bên ẩn Tác vụ
  • Đọc
  • Sửa đổi
  • Sửa mã nguồn
  • Xem lịch sử
Chung
  • Các liên kết đến đây
  • Thay đổi liên quan
  • Thông tin trang
  • Trích dẫn trang này
  • Tạo URL rút gọn
  • Tải mã QR
In và xuất
  • Tạo một quyển sách
  • Tải dưới dạng PDF
  • Bản để in ra
Tại dự án khác
  • Khoản mục Wikidata
Giao diện chuyển sang thanh bên ẩn Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bài này không có nguồn tham khảo nào. Mời bạn giúp cải thiện bài bằng cách bổ sung các nguồn tham khảo đáng tin cậy. Các nội dung không nguồn có thể bị nghi ngờ và xóa bỏ. Nếu bài được dịch từ Wikipedia ngôn ngữ khác thì bạn có thể chép nguồn tham khảo bên đó sang đây. (tháng 11/2021) (Tìm hiểu cách thức và thời điểm xóa thông báo này)
Bài viết hoặc đoạn này cần người am hiểu về chủ đề này trợ giúp biên tập mở rộng hoặc cải thiện. Bạn có thể giúp cải thiện trang này nếu có thể. Xem trang thảo luận để biết thêm chi tiết. (tháng 11/2021)

Thất ngôn tứ tuyệt (七言四絶) là thể thơ mỗi bài có 4 câu và mỗi câu 7 chữ, trong đó các câu 1, 2, 4 hoặc chỉ các câu 2, 4 hiệp vần với nhau ở chữ cuối. Thể thơ này ra đời vào thế kỉ XII vào Nhà Đường, ở Trung Quốc.

Luật thơ

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Thất ngôn tứ tuyệt theo Đường luật: Có quy luật vô cùng nghiêm khắc về luật, niêm và vần, nhịp, đối (theo bằng trắc) và có bố cục rõ ràng.
  • Thất ngôn tứ tuyệt theo Cổ phong: Không theo quy luật rõ ràng, có thể dùng một vần (độc vận) hay nhiều vần (liên vận) nhưng vần vẫn phải thích ứng với quy luật âm thanh, có nhịp bằng trắc xen nhau cho dễ đọc.
  • Quy định tính theo hàng ngang. Tiếng thứ hai của câu thứ nhất là tiếng quan trọng,nó quy định luật cho toàn bài. Nếu tiếng thứ 2 mang thanh B thì luật của toàn bài là luật B.
  • Niêm: Được tính theo hàng dọc,các câu phải niêm với nhau (giống nhau): Câu 1 niêm với câu 4, câu 2 niêm với câu 3. Cụ thể: Nếu tiếng thứ 2 của câu 1 có thanh B thì câu 4 tại tiếng thứ hai cũng có thanh B (tương tự với câu 2 niêm với câu 3).
  • Vần: các câu 1, 2, 4 hoặc chỉ các câu 2, 4 hiệp vần với nhau ở chữ cuối
  • Bốn câu trong bài theo thứ tự là các câu: khai, thừa, chuyển, hợp. Phần khai ( khởi ) có chức năng mở bài , gợi mở ý thơ . Phần thừa nối tiếp phần khởi để làm trọn vẹn ý thơ . Phần chuyển có nhiệm vụ chuyển ý thơ từ việc phản ánh các sự vật , hiện tượng ở hai câu đầu sang phần gợi mở về bản chất , nguyên nhân của sự vật , hiện tượng được phản ánh . Phần hợp kết hợp kết hợp với câu chuyển làm cô đúc ý thơ , thể hiện nỗi niềm của tác giả.
  • Nhịp: Thường là 4/3
  • Đối: Không bắt buộc phải đối

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]

Bài viết này vẫn còn sơ khai. Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn.

  • x
  • t
  • s
Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Thất_ngôn_tứ_tuyệt&oldid=72225631” Thể loại ẩn:
  • Hoàn toàn không có nguồn tham khảo
  • Trang cần được biên tập lại
  • Tất cả bài viết sơ khai
  • Sơ khai
Tìm kiếm Tìm kiếm Đóng mở mục lục Thất ngôn tứ tuyệt 2 ngôn ngữ Thêm đề tài

Từ khóa » Khái Niệm Hiệp Vần