Thế Giới Pháp Thuật Việt Nam - Lời Nói đầu Và Tóm Tắt Về ... - Wattpad

Tuy các xã hội và thế giới pháp thuật tại châu Âu và Mỹ được biết đến nhiều hơn cả, nhưng mong mọi người đừng quên rằng thế giới pháp thuật vốn hiện hữu trên toàn thế giới. Và rằng ba trong mười một ngôi trường pháp thuật là Koldovstoretz, Uagadou và Mahoutokoro vốn ngụ tại đất nước Nga rộng lớn, 'Dãy Núi của Mặt Trăng' tại châu Phi và đảo núi lửa Minami Iwo Jima nơi xứ sở hoa anh đào. Vì thế, nếu tại một đất nước nhỏ bé mang tên Việt Nam tại Đông Nam Á có một cộng đồng pháp thuật với văn hoá quá khác biệt với các quốc gia phương Tây thì cũng chẳng phải chuyện lạ lùng.

Việt Nam có một bối cảnh pháp thuật với một lịch sử rất riêng. Từ rất lâu trước Công Nguyên, các phù thủy ở Việt Nam xưa vẫn triển khai phép thuật bằng tay không và có một số ít hành các nghề như thầy thuốc, thầy y kiếm sống giữa cộng đồng không phép thuật. Với hệ sinh thái sinh vật phép thuật phát triển ở Lạc Việt, lĩnh vực thực vật học và độc dược phát triển không ngừng. Đồng thời vào thời Hùng Vương thứ mười tám, Chử Đồng Tử là người đã học hỏi, nghiên cứu và truyền bá ngành nghệ thuật đũa phép và các kiến thức về bùa chú từ tứ phương về Lạc Việt. Các học trò theo học ông đông đảo và dần truyền thụ các nghiên cứu của Chử Đồng Tử cho giới phù thủy khắp đất nước. Sau khi Chử Đồng Tử mất, giới phù thủy thể hiện lòng biết ơn bằng cách thêu dệt lên một truyền thuyết về ông và truyền bá cho thế giới người thường (được gọi là giới Vô Thuật từ cách gọi "vô phép thuật", sau này tùy vùng miền mà còn gọi là Phi Phép, Thường Nhãn). Và hình tượng của người thay đổi giới pháp thuật Lạc Việt được gắn liền với Tứ Bất Tử trong thần thoại và được nhớ mãi từ đó.

Khi giặc phương Bắc tràn vào nước ta, giới phù thuỷ - hiện đang sống khá hoà nhập với cộng đồng Vô Thuật nhanh chóng bị giặc từ phương Bắc tấn công và chịu sự xâm lược. Vào thời gian cộng đồng Vô Thuật bị đồng hoá, các phù thuỷ thuộc cộng đồng pháp thuật Giao Chỉ cũng được học hỏi các kiến thức mới mẻ về bùa chú, tiên tri và các lĩnh vực khác. Tuy nhiên các kiến thức cũ vẫn được bí mật lưu truyền mà không bị bọn xâm lược khám phá. Và sau ngàn năm chịu nhiều ảnh hưởng, cộng đồng pháp thuật đã dần ẩn mình hơn và bắt đầu lập nên một số luật ngầm riêng trong cộng đồng - nhưng tất nhiên vẫn giữ mình và hoà nhập với cộng đồng Vô Thuật. Sau khi đất nước được độc lập, một số phù thủy dần cởi mở hơn với giới Vô Thuật nhưng phần lớn cộng đồng vẫn đồng ý việc ẩn mình và sống trong yên bình. Sự kiện giới phù thủy lập nên Sứ Pháp Thuật tại Đại La với ông Lý Quản là người đứng đầu vào năm 973 càng khẳng định cộng đồng phù thủy đã dần có chỗ đứng riêng và cách biệt với cộng đồng Vô Thuật thời bấy giờ.

Trong thời gian từ năm 1212 đến 1225, cơ sở dạy học pháp thuật mang tên Việt Pháp Học Viện được thành lập tại vùng núi phía tây Đại Việt, thu hút các học viên khắp nơi đến học. Mặc dù Nho Giáo phát triển mạnh mẽ trong giới Vô Thuật gây ảnh hưởng đến dân trí về nhân quyền và quyền bình đẳng , nhưng tại học viện pháp thuật chuyên đào tạo cho cộng đồng phù thuỷ ít ỏi vốn đã chịu nhiều thiệt thòi trong cộng đồng Vô Thuật, những học viên được dạy cách đối xử công bằng với nhau. Bằng chứng là đội ngũ giáo viên trong trường có cả nam và nữ, các học viên thuộc hai giới tính tham gia học đều học cách công nhận nhân quyền và chống đối các điều luật cổ hủ của Nho Giáo. Không chỉ dạy học phép thuật, cơ sở này còn chú trọng học hỏi, tìm hiểu và nghiên cứu các thành tựu phép thuật từ các đồng bào thuộc các dân tộc ít người và các quốc gia lân cận như Miến Điện, Xiêm, Chiêm Thành,... rồi viết sách, giảng dạy học trò. Khi các nhà vua của Đại Việt thực hiện chính sách Nam Tiến, số lượng học viên càng tăng thêm và xây dựng cộng đồng phù thủy Đại Việt càng lớn mạnh. Từ bấy giờ đến năm 1412, cộng đồng pháp thuật Đại Việt phát triển rực rỡ.

Từ khóa » Bộ Pháp Thuật Việt Nam