Thế Nào Là Một Bài Thơ Hay - Tp

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Liên hệ
TP Tìm Tìm

Trang chủ » Tài liệu khác » Mỹ học và TLVN » Thế nào là một bài thơ hay

Thế nào là một bài thơ hay

THẾ NÀO LÀ MỘT BÀI THƠ HAY? Tác giả: Mai Thanh Nguồn:http://luuhong.blogspot.com/2013/05/the-nao-la-mot-bai-tho-hay-mai-thanh.html

Nhà thơ Nguyễn Hoàng – Hội trưởng kiêm Trưởng ban quản trị trang mạng “Đến với những bài thơ hay” gửi tới tôi bài viết “Một quan niệm về một bài thơ hay” của tác giả Xuân Vũ Trần Ðình Ngọc. Bài viết ấy nêu rõ, bài thơ hay là bài thơ có lời hay, ý đẹp, truyền cảm, cùng với âm điệu, tiết tấu. Tôi chia sẻ những ý kiến của tác giả Xuân Vũ Trần …………Đình Ngọc; đồng thời, hoan nghênh Hội và Trang mạng “Đến với những bài thơ hay” đã mở cuộc trao đổi đầy ý nghĩa này! Nhân đây, tôi nêu vài ý kiến trao đổi cùng các bạn về đề tài “Thế nào là một bài thơ hay?”. 1.Hãy bắt đầu xem xét các yếu tố cấu thành một bài thơ: Với cách gọi bằng ngôn từ phổ cập, đó là nội dung và hình thức bài thơ. Với cách gọi đặc trưng thi ca, đó là ý tưởng và ngôn ngữ thi ca. Khái niệm ý tưởng có vẻ còn chung chung, nên có thể gọi đặc trưng hơn, đó là thi tứ; cũng như vậy, khái niệm ngôn ngữ thơ được chi tiết và thi ca hóa hơn, đó là thi từ-thi ngữ, là vần và điệu (còn gọi là thi vận và thi điệu). Ngoài ra, phải nói đến yếu tố cảm xúc và cảm nhận thi ca của chủ thể sáng tạo và khách thể tiếp nhận của thơ – yếu tố này không thể xếp vào hệ thống cấu thành bài thơ như đã nêu trên, nhưng rất có ý nghĩa trong khuôn khổ xem xét một bài thơ hay. Cảm xúc và cảm nhận thi ca xuất phát từ hoàn cảnh, trình độ, xu hướng và cường độ sáng tạo và cảm nhận thi ca – là nền tảng cho các yếu tố nói trên hình thành và phát triển; là điểm đứng cho người thơ khi sáng tạo và cho độc giả khi tiếp nhận bài thơ. 2.Bài thơ hay là bài thơ có các yếu tố cấu thành của bài thơ đều hay, hoặc có nhiều yếu hay trong hệ thống các yếu tố cấu thành ấy. Cụ thể là: – Về thi tứ, người xưa nói: “ Thi mạch kỵ lộ”, có nghĩa, ý thơ không lộ liễu, “không phải đọc lên là hiểu liền” mà phải ngẫm suy qua hình thức của ngôn ngữ. Ví dụ, hai câu thơ: “Anh em đồng chí chúng ta/Cùng nhau đoàn kết để mà đánh Tây” khi đọc lên hiểu liền, nhưng với hai câu khác: “Đêm đồng đội tôi đôi bàn chân sắt/Để mai ngày đạp đổ ngọn Pù – nhông, thì tuy thi tứ của hai câu gần giống nhau, nhưng hai câu sau hay hơn, bởi trước hết, là mạch thơ kín đáo; sau nữa, là do thi từ-thi ngữ góp phần. Văn chương-nghệ thuật đòi hỏi luôn mới, đồng nghĩa với sáng tạo. Sự lặp lại người đi trước là điều không thể chấp nhận, thậm chí là tai họa của văn chương nghệ thuật, bởi vậy, bài thơ hay đòi hỏi mới về tứ. Chẳng hạn, đề tài tình yêu trong thi ca quả là đề tài muôn thưở, nhưng mỗi thế hệ thi nhân, mỗi tác phẩm thi ca thể hiện luôn khác nhau. Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính đượm màu thôn quê, luyến nhớ, có phần buồn tủi, trong thơ Xuân Diệu đắm say, háo hức và vội vàng, trong thơ Xuân Quỳnh sâu đằm và dịu ngọt… Sự khác biệt ấy, khiến tác phẩm thi ca của họ đều hay trong sự khác biệt. -Về ngôn ngữ thơ, như trên đã nói , bao gồm : thi từ , nôm na là từ; thi ngữ là cụm từ hoặc câu trong thơ. Ngôn ngữ thơ theo nghĩa rộng gồm cả vần và điệu của thơ. Vần thì rõ rồi, đó là luật gieo vần đối với các thể loại thơ như lục bát, song thất lục bát, thơ khổ với dòng 5-6-7-8… chữ, v.v…  Thơ tự do không có vần, nhưng nhất thiết có điệu, hơn thế, còn có vần hạn chế. Điệu gồm âm điệu, nhạc điệu, tiết tấu – cụ thể là câu thơ được được ghép những từ có thanh bằng-thanh trắc hợp lý phù hợp với thi tứ cần diễn đạt; nhạc điệu là câu thơ có hình thức lên bổng – xuống trầm như khúc ca vậy. Nhìn chung, thơ tự do đều có vần hạn chế. Ví dụ, bài thơ “Đất nước” thuộc thể thơ tự do của nguyễn Đình Thi có những câu sau đây:Súng nổ rung trời giận dữ Người lên như nước vỡ bờ Nước Việt Nam từ máu lửa Rũ bùn đứng dậy sáng lòa

Dẫu là thơ tự do, nhưng bài thơ trên vẫn có hình thức vần nhất định.

Cũng giống như thi tứ, ngôn ngữ thơ luôn được sử dụng “đắt” kho tàng ngôn ngữ hiện có. Người thơ là người “thợ chữ”, bởi thế, họ phải là nhà “tỷ phú” về ngôn từ! Họ còn là nhà sáng tạo ngôn ngữ, là người làm giàu cho kho tàng ngôn ngữ dân tộc. Có thể kể nhiều chuyện về sáng tạo thi ca từ đông tây-kim cổ. Song, chỉ kể một chuyện xảy ra trên trang mạng Yahoo cách nay vài năm.  Nhà thơ nữ Đặng Hà My trong bài thơ “”Paris màu rượu chát” với ý tưởng táo bạo đề cao cái đẹp, trực tiếp là cái đẹp của người phụ nữ. Thủ đô Paris tráng lệ với nhiều công trình cổ kính và tượng đài danh nhân hùng vĩ…đều bị đặt dưới tầm cái đẹp. Cái váy người phụ nữ tượng trưng cho cái đẹp bay… trên tất cả. Nhà thơ đã dùng thi từ “hời hời” trong cụm từ chiếc váy “hời hời” để biều hiện tinh thần tự do, phóng khoáng của cái đẹp. Biết bao bài comment chê trách chữ “hời hời”; có người còn nói rằng, đã tra từ điển chỉ thấy “hời” là rẻ – giá hời là giá rẻ của hàng hóa, vậy cái váy rẻ tiền ở bài thơ ấy có ý nghĩa gì? Quả là những lời comment ấy không thấy được ý nghiã sáng tạo thi của Đặng Hà My. “Hời hời” trong bài thơ ấy là từ điệp với thanh huyền gợi ý nghĩa trêu trọc, có phần ngạo mạn. Những sáng tạo ngôn từ của các nhà thơ trước hết cần cho thi phẩm của họ. Rồi sau đó, có thể được đi vào kho tàng ngôn ngữ dân tộc, cũng có thể lụi tàn qua thử thách của chiều dài năm tháng. Thơ ngày càng phát triển – từ thơ có vần, đến thơ tự do , rồi nữa, thơ văn xuôi…thơ “như nói”…Không ít trường hợp, thơ không những không vần mà còn không có điệu nữa! Thơ còn được gọi là thi ca – chữ ca hàm ý là vần điệu của thể loại văn chương-nghệ thuật này; và đó chính là đặc trưng của thơ. Không thể tưởng tượng một bài thơ không vần hoặc điệu. Có người nói có lý rằng, “nếu thơ làm không vần điệu, thì làm văn xuôi cho rồi!”. Vì có đặc trưng âm thanh trầm bổng, ngắn dài, luyến láy mà âm nhạc lay động hồn người. Đó là ưu việt của nhạc. Vần và điệu trong thơ được thừa hưởng phần nào nét ưu việt đó – dại gì mà người làm thơ tự tươc bỏ nó đi? Ngoài thi tứ, thi từ-thi ngữ, vần và điệu trong thơ là các yếu tố tạo nên bài thơ hay, nếu nhà thơ nhận thức và thực hành có ý thức trong sáng tạo thi ca của mình ! (Còn nữa)

THẾ NÀO LÀ MỘT BÀI THƠ HAY (Tiếp theo và hết)

Như trên đã nói, yếu tố cảm xúc thi ca của tác giả là nền tảng cơ bản của sáng tạo thi ca. Và, với độc giả, nó là điểm đứng chung cho tác giả sáng tạo và độc giả cảm nhận bài thơ. Điều này khiến thơ trở nên như là hiện tượng bí ẩn, đến mức như là khó hiểu, nên có người buông ra nhận định về thơ một cách cũng khó hiểu nốt, ví dụ: “Thơ hay tự nó nói lên…, không cần thẩm bình(!)”, “Thơ hay vì là nó hay(!)”,… 

Ta biết rằng, xuất phát của thơ là cảm xúc để bộc lộ cảm xúc riêng của bản thân người viết, với các yếu tố cấu thành, bài thơ ra đời. Đến lượt nó, bài thơ đến với độc giả và nó trở thành điểm đứng cho sự cảm nhận của độc giả. Sự cảm nhận này vô cùng phong phú và đa dạng xuất phát từ hoàn cảnh cảm xúc, trình độ nhận thức cũng như xu hướng và mức độ… rất khác nhau.  Ví dụ, một bài thơ viết về người phụ nữ cô đơn, thường gây xúc động, và do đó, được cảm nhận là bài thơ hay đối với nhiều người phụ nữ thuộc hoàn cảnh ấy hoặc đối với ai đồng cảm với những người phụ nữ có hoàn hoàn cảnh ấy.  Một bài thơ triết luận-xã hội sẽ được những ai hiểu biết và quan tâm về các vấn phân tích-phản biện xã hội cho là hay, trong khi những người khác không quan đến những vấn đề này lại cho là bài thơ dở, đôi khi còn bị ai đó chê bai là “chính trị hóa thi ca” nếu xu hướng cảm xúc của ai đó chỉ thuộc dạng thơ trữ tình…Từ đó, dẫn đến tình hình là: Cùng một bài thơ, người này khen hay, người kia không cho là hay, thậm chí còn chê là dở! Người phê bình văn học coi đó là sự đa dạng cảm nhận thi ca. Tuy nhiên, công tác phê bình văn học vẫn phải đánh giá một tác phẩm thi ca theo chuẩn mực chung của phê bình văn học. Một tác phẩm thi ca hay, không nhất thiết những yếu tố cấu thành về ý tưởng thi ca và vè ngôn ngữ của nó đều hay. Nhiều trường hợp bài thơ hay chỉ vi ý tưởng chất phác, mộc mạc, bộc lộ cảm xúc chân thành của tác giả, chứ không cần đến ngôn ngữ thi ca thật sự chuẩn mực, ví dụ, trường hợp bài “Nhớ vợ” của Cầm Giang: . NHỚ VỢ Tôi nhớ vợ tôi lắm Xin được về hai ngày Nhà tôi ở Mường Lay Có con sông Nậm Rốm Ngày kia tôi sẽ đến Lại cầm súng được ngay Tôi càng bắn đúng Tây Vì tay có hơi vợ Cho tôi đi, đừng sợ Tôi không chết được đâu Vì vợ tôi lúc nào Cũng mong chồng mạnh khoẻ Cho tôi đi anh nhé Về ôm vợ hai đêm Vợ tôi nó sẽ khen Chồng em nên người giỏi Ngày kia tôi về tới Được đi đánh cái đồn Hay được đi chống càn Là thế nào cũng thắng Nếu có được trên tặng Cho một cái bằng khen Tôi sẽ rọc đôi liền Gửi cho vợ một nửa. Tuy nhiên, đã là thơ thì ngoài thi tứ, ngôn ngữ thơ – nói theo nghĩa rộng nhất của từ này – luôn chiếm vai trò hết sức quan trọng. Người làm thơ luôn ý thức điều đó và thực thi trên bài thơ của mình. Một bài thơ hay không nhất thiết phải thể hiện tất cả các yếu tố trong ngôn ngữ thơ đều hay, mà cũng chỉ thể hiện một vài chỗ, chứ không phải trong toàn bộ bài thơ. Một đất nước Ba Lan bạch dương đầy tuyết trắng và truyền thống nghệ thuật chỉ với vài ba câu thơ mở đầu trong bài thơ của Tố Hữu đã đủ để độc giả cảm nhận điều đó và có ấn tượng sâu sắc về những câu thơ này:Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan Đường bạch dương sương trắng nắng tràn Anh đi nghe tiếng đàn xưa vọng Một giọng thơ ngâm một giọng đàn (Tố Hữu – Em ơi…Ba Lan)

Trên thực tiễn sáng tác, mỗi người thơ có riêng cho mình năng lực thi ca để vận dụng các yếu tố cấu thành của một bài thơ theo cách của mình. Tuy nhiên, yêu cầu chung đối với mọi người làm thơ không thể thiếu, đó là có tâm hồn thi sĩ – nghĩa là biết rung động, cảm xúc trước hiện thực, ví dụ trước một phong cảnh đẹp, một con người đẹp, một nỗi đau nào đó của cuộc đời…; có vốn ngôn từ càng phong phú càng tốt; biết cung cách, cao hơn là thành thạo thể hiện một bài thơ. Đó là yêu cầu thơ bản, Tốt hơn nữa, là có kiến thức về ca nhạc, về hội họa, rộng hơn, là người thơ cần thiết sở hữu nhiều tri thức, thậm chí cả tri thức về khoa học tự nhiên (tưởng như xa vời với thơ)… để tạo cho mình một cái “phông” văn hóa dầy dặn. Tôi cho rằng, người làm thơ không nên tự giới hạn phạm vi sáng tác của mình. Số đông người làm thơ thường tập trung vào thơ tình. Điều đó đúng, bởi dạng thơ này phù hợp với thơ nhiều hơn. Tuy nhiên, cuộc sống muôn hình vạn trạng, người làm thơ cần thiết vươn tới các dạng thơ khác, như thơ triết luận-phản biện xã hội, thậm chí cả thơ vui, thơ trào phúng… Về thể loại, không chỉ thơ lục bát (một thể loại thơ tuyệt vời về nhiều mặt), mà cả các thể loại thơ khác, như thơ khổ với dòng có số chữ khác nhau, thơ tự do… Song, dẫu thế nào, cũng đừng rời xa các yếu tố cấu thành của một bài thơ…Hãy đặt thơ đứng đúng chỗ của nó!

Cảm ơn độc giả đã vào đọc và cảm nhận bài viết (đăng hai kỳ) trên đây của tôi. Mong được tiếp tục đón chào các bạn!

Chia sẻ:

  • X
  • Facebook
  • Email
  • In

Có liên quan

By thanhpuskin in Mỹ học và TLVN, Tài liệu khác on 14/10/2015. Vấn đề hình thức và nội dung, cái mới và cái đẹp [phần III] Tiêu chí của một tác phẩm ảnh nghệ thuật

Bình luận về bài viết này Hủy trả lời

Δ

TRẮC NGHIỆM

Các bài viết mới nhất

  • Danh sách các lỗi cần tránh trong giai đoạn đầu học hòa âm 4 bè SATB

    (Danh sách này không thay cho sách giáo khoa mà chỉ nhằm giúp người mới học ghi nhớ và hệ thống những nội dung nền…

  • Adagio for Strings của Samuel Barber (1910-1981)

    Hoàn cảnh ra đời của Adagio for Strings chứa đựng một nghịch lý sâu sắc, tác phẩm bi thương nhất lại được sáng tác trong…

  • Adagio in G minor

    …Sau Thế chiến thứ hai, nhà âm nhạc học người Ý Remo Giazzotto nhận được các mảnh không hoàn chỉnh (bass line và hai đoạn…

  • Tonality – nàng là ai?

    Một phòng họp cổ kính, bảng đen, đàn clavichord, sách vở rối tung. Ở giữa là một chiếc ghế trống. Tonality vừa bước vào, áo…

  • Bình luận
  • Theo dõi Đã theo dõi
    • TP
    • Theo dõi ngay
    • Đã có tài khoản WordPress.com? Đăng nhập.
    • TP
    • Theo dõi Đã theo dõi
    • Đăng ký
    • Đăng nhập
    • URL rút gọn
    • Báo cáo nội dung
    • Xem toàn bộ bài viết
    • Quản lý theo dõi
    • Ẩn menu

Từ khóa » Bài Thơ Hay Là Gì