Thơ Nguyễn Đức Mậu: Nơi Tôi ở Hoa đại Rơi Trắng đất

Vanvn- Từ nhà số 4 Lý Nam Đế: “Nơi tôi ở hoa đại rơi trắng đất/ Có ai nhìn hoa ngỡ tóc bạc trên đầu/ Cái hòm thư mới một lần sơn lại/ Bác gác cổng già năm trước giờ đâu…?”

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu. Tranh sơn dầu do nhà văn Đỗ Chu vẽ năm 1995.

HÀ NỘI CHIỀU NAY

Hà Nội chiều nay nắng vừa đủ nắng Gió cũng vừa đủ gió để rung cây Mặt hồ rộng thực hư làn khói mỏng Rượu bạn mời tôi uống cũng vừa say

Uống vừa say để mà nhìn lại Con đường quen, mái phố nhấp nhô trời Ở Hà Nội hơn mười năm rồi đó Xin một chiều thong thả của riêng tôi

Như vệt chớp rạch vào nỗi nhớ Những con đường mười năm tôi qua Lớp tuổi tính làm văn, viết báo Về phố phường thương lắm cánh rừng xa

Từ tro than thơ cháy lên ngọn lửa Gương mặt bạn bè thấp thoáng một thời qua Người ở Trường Sơn nhớ người Hà Nội Những câu thơ dăng kín dải Ngân Hà

Nơi tôi ở một số nhà quen thuộc Tóc em dài buông xoã xuống mùa thu Nhiều lúc khát khoảng trời xóm mạc Chiếc lá vàng như máu xót của vần thơ

Nơi tôi ở hoa đại rơi trắng đất Có ai nhìn hoa ngỡ tóc bạc trên đầu Cái hòm thư mới một lần sơn lại Bác gác cổng già năm trước giờ đâu…?

Nơi tôi ở vắng Thâm Tâm, Trần Đăng, Thôi Hữu, Nguyễn Thi. Lớp nhà thơ, nhà văn một thời đi kháng chiến. Trang bản thảo nằm trong ba lô, những nhân vật, câu thơ là mẫu quặng. Căn hầm thay phòng viết, ngọn đèn thắp bằng nhựa cây cháy sáng mặt trời. Những nhà thơ, nhà văn ăn khẩu phần linh trận, ngủ gối đầu rễ cây, bao gạo. Đường kháng chiến hiểm nghèo đèo dốc. Đường văn chương bạc tóc đêm dài. Cây bút và khẩu súng. Các anh quên mình đã có một thời trai.

Những trận sốt rừng, những viên đạn giặc, đã tràn vào trang viết dở dang. Nhà văn hy sinh, nhường khát vọng đời mình cho nhân vật. Máu thấm đất máu chảy vào trang viết, máu thay cho đoạn kết không lời. Nhà thơ hy sinh, như ngọn lửa cháy hết mình để tự hoá thân. Trên vuông đất mộ bia khô cằn đá sỏi, những câu chữ như hạt cây sót lại, ngôn ngữ cỏ xanh tự chắp nên vần.

Cây đại già làm một chứng nhân, ngôi nhà các anh giờ chúng tôi đến ở. Căn phòng cũ mấy lần thay ổ khoá. Lớp nhà thơ mang áo lính nhiều thêm.

Trái tim các anh, khoảng đất nào xa lắc. Trái tim đập phập phồng trên trang sách chẳng bình yên…

Mười năm, Thời gian hoá sợi dây bền Hoa nở tím, mảng tường rêu phủ mốc Ở Hà Nội mười năm tôi có được Những buồn vui dành dụm cho mình

Ơi con đường vừa xa, vừa gần Bao nhiêu người đi xe, bao nhiêu người đi bộ Một dãy phố lặng yên và ồn ã Những ngôi nhà cao thấp liền nhau

Dải sông Hồng nước xanh, nước đỏ Ngược cánh rừng, thơ tìm đến nguồn sông Xuôi đồng bằng vòng tay ôm biển mặn Cánh buồm tôi gió nắng căng phồng

Bao bè bạn, bao số nhà tôi nhớ Công việc nhiều ít gặp, vẫn thương nhau Thơ và cuộc đời mênh mang nhường ấy Tôi đam mê như vẫn thuở ban đầu

Hà Nội chiều nay mùa xuân hay mùa hạ Tôi bình tâm hay nôn nóng điều gì? Nhịp thời gian vội vàng gõ cửa Những chân trời mới lạ gọi tôi đi

Cốc rượu mười năm tôi chưa uống cạn Men cất từ trời đất cứ đầy thêm Hà Nội chiều nay, tôi và bạn Một chút men say, bấy nỗi niềm.

1984

Tranh của họa sĩ Lê Trần Thanh Thủy

RÊU VÀ CÂY

Chợt nhìn thật lâu màu rêu trên mái ngói Hỏi ngôi nhà bao tuổi Hỏi tuổi mình bao nhiêu Hỏi tuổi bạn tóc lên màu sương khói Màu rêu lặng thinh, mình uống cạn men chiều

Hỏi vòng tuổi cây đại già trước cổng Người có thương cây bão vặn cành? Từ nhựa xót, xù xì lớp vỏ Cây bất ngờ nứt tủa chổi xanh Giữa bụi bậm, xô bồ phố xá Cây vì ta lọc lại chút hương lành

Ồ màu rêu – mảng thời gian ẩm mốc Trên mái nhà hay bức tường mưa Rêu dưới bàn chân, rêu loang màu tóc Những lối mòn, tuổi tác phủ rêu chưa Thơ viết về hoa, ai viết về rêu nhỉ Hoa khoe hương, hoa nở quanh mùa Nhìn rêu phủ loang chiều phố cổ Nhớ nhung gì ngày xưa, ngày xưa…?

Rêu – gam màu dĩ vãng già nua Chợt ở trên cao khua cành gió thức Kìa vòm xanh, vòm xanh thân thuộc Cây tuổi trời mang cốt cách hiền nhân Bỏ lại mùa đông, màu rêu xám ngắt Cây cứ dâng lớp lộc mới xanh ngần.

TỪ NHÀ SANG CƠ QUAN

 

Con đường từ nhà sang cơ quan vài quán cơm bình dân, phiên chợ xép Mình thuộc cả nơi vỉa hè dễ vấp quen mái hiên trú mưa, quen giọng chim lành quen đôi mắt lạnh tanh, nụ cười thân thiện mình bạn với người hiền bạn với cây xanh

Một năm, hai năm rồi nhiều năm từ nhà sang cơ quan đi bộ chừng mươi phút sao chợt nhớ con đường ngược dốc xuyên Trường Sơn núi cao, rừng dày Có một thời trẻ trai đói cơm, sốt rét Ba lô cóc căng phồng áo lính màu cây Có một thời trẻ trai sung sức nhất Giờ bồn chồn quanh mấy bức tường vây

Mình đi qua mùa xuân lộc biếc đầy tay qua mùa đông mấy chiếc lá bàng rơi chấp chới từng mảng chiều lửa đốt Bao người về hưu, bao người đã khuất Bao đứa trẻ hôm nào thành chú rể, nàng dâu Hoa tang và hoa cưới khác gì nhau sắc màu? Mình đi qua buồn vui thường gặp Đi như là công chức đi như là nhà thơ bước thăng trầm, khôn dại trái tim mình chưa vô cảm, thờ ơ?

Từ nhà sang cơ quan chào hai cây đại già thả từng chùm hoa rơi trắng đất mình đi quẩn quanh ngày này sang ngày khác thời gian trôi qua từng đốt trăng gày Vậy mà đã cạn năm, đầy tháng mùa qua mùa, mình có được như cây?

CÂY ĐẠI TRƯỚC HIÊN NHÀ

Này, cây đại trước hiên nhà Lặng lẽ xanh và lặng lẽ hoa Có ông lão nhìn cây ướm tuổi Ai biết đời cây lặng lẽ già.

Lặng lẽ cả khi vặn trời cơn bão Cái cây vẫn đứng như là bình yên Bầy trẻ nhỏ nhặt hoa rơi quanh gốc Nhặt cả xác ve sầu ướt sũng mưa đêm.

Lặng lẽ cả khi mùa lá úa Chiếc lá rơi tiếc nuối trong chiều Cây gầy guộc khô cằn quá thể Gió run cành lạnh cóng tiếng chim kêu.

Ngôi nhà cũ thay cổng và thay mái Cây đại già vẫn đó chẳng dời đi Lặng lẽ đời cây chìm vào góc khuất Có thể nhìn cây gạn lọc được điều gì.

Nhưng nhiều lúc mình vô tâm chẳng nhớ Một đời cây làm bóng mát che người Cây lặng lẽ giữa quay cuồng phố xá Thả từng chùm hoa trắng dịu dàng rơi.

NGUYỄN ĐỨC MẬU

Xem thêm:
  • Phạm Quang Long – tiến vi quan, thoái vi văn sĩ
  • Nghệ sĩ Bắc Sơn & những ân tình quý giá để lại
  • Đại hội Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Nam Định nhiệm kỳ 2025-2030
  • Đắm tình nơi sông Ba gặp biển – Tản văn của Đào Đức Tuấn
  • Lão Khuyếch – Truyện ngắn của Nguyễn Khương Trung

Từ khóa » Thơ Của Nguyễn đức Mậu