Thread: Tội ác CS Việt Nam: Thuyền Nhân - Ý Dân - Tôn Trọng Sự Thật
Có thể bạn quan tâm
- Help
- Remember Me?
- Advanced Search

- Forum
- Chủ Đề Chính
- Ngược Dòng Lịch Sử
- Tội ác CS Việt nam: Thuyền nhân
Last
- Jump to page:
-
Thread Tools
- Show Printable Version
-
Search Thread
- Advanced Search
-
Rate This Thread
- Current Rating
- Excellent
- Good
- Average
- Bad
- Terrible
- 05-02-2012, 11:03 PM #1 alamit
- View Profile
- View Forum Posts
Member Join Date 20-04-2011 Posts 5,771 Tội ác CS Việt nam: Thuyền nhân
Tội ác CS Việt nam: Thuyền nhân Thuyền nhân, dịch từ chữ boat people trong tiếng Anh, là thuật ngữ thường chỉ những người nhập cư bất hợp pháp hoặc người tị nạn xuất cư bằng thuyền trong nhóm nhiều người. Thuyền thường cũ và được đóng sơ sài, không dùng thích hợp để đi biển và không an toàn. Thuật ngữ này ra đời từ cuối thập niên 1970 khi một số lượng lớn người rời khỏi đất nước vì nhiều lí do sau khi miền Nam Việt Nam sụp đổ vào cuối tháng 4 năm 1975 và Việt Nam trở thành một quốc gia theo chế độ Xã hội chủ nghĩa.[1] Ngày nay, thuật ngữ này dùng để chỉ chung những người vượt biên trái phép bằng đường biển từ các nước nghèo sang các nước giàu.
Sau 30 tháng 4 năm 1975 Di tản tháng 4 năm 1975 được hiểu là hành động rời khỏi Việt Nam theo cách chính thống và có tổ chức. Khi ấy, nhiều đợt rời khỏi Việt Nam của các nhân viên, gia đình các đại sứ quán và công ty nước ngoài được các cơ quan Hoa Kỳ và các nước đồng minh tổ chức. Bắt đầu từ ngày 29 tháng 4 năm 1975, Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford đã chính thức ra lệnh khởi động chương trình "Frequent Wind" để di tản quân nhân, nhân viên dân sự Hoa Kỳ và một số người Việt đã từng cộng tác hay có liên hệ với chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa để rời khỏi Việt Nam. Cùng thời điểm này, rất nhiều người Việt ở miền Nam cũng đã quyết định di tản theo chương trình trên nhưng có thể bằng phương tiện riêng. Chương trình di tản "Frequent Wind" trên nguyên tắc chỉ kéo dài từ 3 giờ 30 chiều ngày 29 tháng 4 đến đúng 21 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975 - khi người lính Mỹ cuối cùng được trực thăng bốc khỏi Sài Gòn và trụ sở của Sở Tùy viên Quốc phòng (Defence Attachés Offfice, DAO) của Hoa Kỳ bị Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ cho phá nổ. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 có rất nhiều người từ Campuchia, Lào nhưng đông nhất là từ Việt Nam cũng đã tìm cách vượt biên bằng thuyền sang các nước khác. Tại Campuchia, chế độ diệt chủng Khmer Đỏ đã giết hàng triệu người khiến nhiều người tìm cách chạy khỏi đất nước. Tại Việt Nam, cuộc cải tạo công thương nghiệp, chính sách hợp tác hóa nông nghiệp, thực hiện đổi tiền, việc đưa hàng trăm ngàn nhân viên chế độ cũ đi "học tập cải tạo" dài hạn, sự phân biệt đối xử đối với những người này cùng thân nhân họ, cộng với những khó khăn về kinh tế của xã hội đã làm cho rất nhiều người vượt biên bằng thuyền.[cần dẫn nguồn] Dựa trên kinh nghiệm cá nhân, dữ liệu thu thập được từ các cuộc phỏng vấn thuyền nhân và các nguồn khác, tác giả Nguyễn Văn Canh cho rằng một số nguyên nhân sau đây có thể là động lực khiến chính quyền Việt Nam chấp nhận tình trạng vượt biên ồ ạt, bao gồm:[2] Khó khăn kinh tế trong khi nhà nước cần ngoại tệ; người ra đi chính thức và bán chính thức phải bỏ tiền và vàng ra để mua chỗ Chiếm đoạt tài sản hầu triệt hạ tầng lớp tư sản và tiểu tư sản. Loại bỏ thành phần xã hội chống đối hoặc không tin cậy được như trường hợp Hoa kiều chiếm gần 10% [cần dẫn nguồn] thành phần vượt biên. Gây áp lực chính trị với khối ASEAN. Chấp nhận một việc đã rồi vì không thể kiểm soát được hết 1.200 km duyên hải Gây áp lực với Hoa Kỳ để buộc Hoa Kỳ thực thi lời hứa viện trợ tái thiết thời hậu chiến như ghi trong Điều 21 của Hiệp định Paris 1973. Gia tăng lượng hàng hóa và hiện kim số người Việt ở hải ngoại gửi về cho thân nhân trong nước. Theo số liệu của Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn, trong khoảng thời gian 1975-1995 đã có 849.228 người vượt biên bằng đường biển và đường bộ.[3] Theo số liệu của Indonesia, trong khoảng thời gian 1975-1996 đã có 250.000 người Việt Nam và Campuchia tá túc trên đảo Galang. Một số thuyền nhân được các tàu khác (trong số đó có Hải quân Mỹ) cứu vớt; một số khác đến được các đảo trong biển Đông xung quanh Việt Nam; một số bị thiệt mạng trên biển, rất nhiều người bị hải tặc cướp bóc trước khi được cứu. Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc đã thiết lập một số trại tị nạn ở những nước lân cận và đã nhận được giải Nobel Hòa bình năm 1981, một phần là vì những hoạt động này. Hiện nay chưa có một con số thống kê chính thức về số thuyền nhân bị chết trên biển. Đã có những tượng đài được dựng lên để tưởng nhớ đến những thuyền nhân bị thiệt mạng trong các cuộc vượt biên, như ở Pulau Bidong (Malaysia), Pulau Galang (Indonesia).[4] Hoa kiều tại Việt Nam năm 1979 Trước năm 1975, ở miền Nam, Hoa kiều kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc 3 lĩnh vực quan trọng: sản xuất, phân phối và tín dụng. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện... và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ và 90% xuất nhập khẩu. Hoa kiều ở miền Nam gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường.[5] Sau khi Việt Nam thống nhất vào năm 1975, vấn đề về người Hoa càng thêm phần trầm trọng khi họ treo quốc kỳ Trung Quốc và ảnh Mao Trạch Đông trong khu Chợ Lớn, làm chính phủ Việt Nam nghi ngờ lòng trung thành của họ. Tháng 1 năm 1976, chính phủ ra lệnh cho người Hoa ở miền Nam đăng ký quốc tịch. Đa số đăng ký là quốc tịch Trung Quốc mặc dù họ đã chuyển sang quốc tịch Việt Nam từ những năm 1956-1957. Tháng 2 năm đó, người Hoa được lệnh đăng kí lại theo quốc tịch đã nhận thời Việt Nam Cộng hòa. Những người vẫn tiếp tục đăng kí là quốc tịch Trung Quốc sau đó bị mất việc và giảm tiêu chuẩn lương thực. Cuối năm đó, tất cả các tờ báo tiếng Trung bị đóng cửa, tiếp theo là các trường học của người Hoa. Với những hành động này, chính phủ Việt Nam đã lờ đi thỏa thuận rằng sau khi thống nhất sẽ tham khảo ý kiến của Trung Quốc về vấn đề người Hoa ở Việt Nam. Chính sách của Việt Nam năm 1976 đã bị ảnh hưởng bởi thay đổi nhanh chóng của mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, với nỗi e ngại rằng Trung Quốc có thể sử dụng Hoa kiều để ép Việt Nam theo các chính sách của mình. Vấn đề Hoa kiều được chính phủ Việt Nam xem là một thử thách đối với chủ quyền quốc gia hơn là một vấn đề nội bộ đơn giản.[6] Năm 1977, Hoa kiều vẫn tiếp tục kiểm soát nền kinh tế miền Nam, lạm phát 80% cùng với vấn đề tiếp diễn của sự thiếu thốn và nạn đầu cơ lương thực, Chính phủ Việt Nam sợ rằng Hoa kiều có thể bị lôi kéo theo các mục tiêu của Trung Quốc. Kèm theo đó là sự ngừng trệ nghiêm trọng của các vùng kinh tế phía Tây Nam do các xung đột tại biên giới với Campuchia. Người Hoa ở Chợ Lớn tổ chức biểu tình đòi giữ quốc tịch Trung Quốc. Những điều này làm cho chính phủ Việt Nam lo sợ về nguy cơ đất nước bị rối loạn cả từ bên trong lẫn từ bên ngoài bởi các nguyên nhân xuất phát từ Trung Quốc. Trong các tháng 3, 4 năm 1978, khoảng 30.000 doanh nghiệp lớn của Hoa kiều bị quốc hữu hóa. Vị thế kinh tế của các thương gia giàu có bị hủy bỏ, nhà nước thắt chặt kiểm soát nền kinh tế. Quan hệ ngày càng xấu đi giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng làm tăng thêm số người Hoa rời Việt Nam. Kết quả là số người di tản từ Việt Nam tăng gấp đôi trong 6 tháng đầu năm 1979, trong những người di tản trong những năm 1978-1979, Hoa kiều chiếm số lượng rất lớn. Cộng thêm vào đó là khoảng 250.000 Hoa kiều sang Trung Quốc qua biên giới phía Bắc từ tháng 4 năm 1978 đến mùa hè năm 1979.[7] Trung Quốc đã gọi đây là vấn đề "nạn kiều". Tổ chức vượt biên Người vượt biên có bốn cách ra đi:[8] Đi chui, tức là tự kiếm cách ra đi bằng cách giả dạng dân chài ra khơi lúc ban mai rồi chạy thẳng ra hải phận quốc tế. Mua bãi, tức là hối lộ nhà chức trách địa phương quản lý vùng sông biển để họ làm ngơ mà có nơi tập hợp trước khi ra khơi, giá khoảng 6 lạng vàng. Đi bán chính thức, tức mua chuộc giới chức cấp tỉnh. Người tổ chức thu tiền rồi đứng ra mua tàu, xăng dầu, v.v. với giá khoảng 12 lạng vàng mỗi đầu người. Ngoài ra, người vượt biên phải nộp văn tự nhà cửa cho Ủy ban địa phương. Đi đăng ký chính thức, tức ghi danh với chức trách trung ương. Cách này dành riêng cho Hoa kiều, có văn phòng đăng ký ở Sài Gòn. Người xuất cảnh phải nộp sổ gia đình ở và 12 lạng vàng. Phương tiện chuyên chở cho hạng này là tàu lớn, chứa trên ngàn người, rời bến Bạch Đằng ở Sài Gòn và được tàu hải quân hộ tống ra đến hải phận quốc tế. Người Việt đi ngả này phải mua lại giấy tờ tùy thân của người Hoa và học một ít tiếng Hán để lọt vòng kiểm tra. Dù có cách ra đi "chính thức" trên tàu lớn tương đối an toàn, thuyền nhân vượt biên vẫn gặp nhiều rủi ro. Con tàu Hải Hồng chở 2.500 người là một thí dụ. Tàu này rời Việt Nam vào Tháng Mười Một năm 1978 đến được Mã Lai Á nhưng không được cập bến nên trôi dạt 45 ngày trên biển.[9] Nói chung những người tìm cách vượt biên thường là những người chậm chân hoặc không thể đi trong giai đoạn "di tản" năm 1975. Một số người có tàu đánh cá hoặc có thể tổ chức cướp được tàu, ghe đã tổ chức móc nối nhiều người vượt biên ở quanh vùng và cả ở thành phố. Họ thường phải chuẩn bị thực phẩm, thuốc men và nhất là nước uống một cách kín đáo để đem lên tàu lúc thuận tiện. Khi đón người lên tàu tại "bãi" họ rời bến, nếu họ "mua" được nhân viên canh phòng thì việc tập kết tại bãi và rời bến được an toàn hơn. Chi phí ra đi tuỳ theo địa phương, phương tiện vượt biên - phương tiện càng lớn được cho càng an toàn thì chi phí càng cao - và người tổ chức đã có uy tín đã từng thành công thì giá càng cao thường từ 2 cây vàng cho tới cả 10 cây vàng một người lớn. Người ta ưu tiên cho tài công, người có hải bàn, bác sĩ và người biết tiếng nước ngoài đi cùng cũng có khi ưu tiên cho con em cán bộ giữ bến bãi đi cùng. Hiểm nguy Những thuyền nhân Việt Nam được cứu và phát nước uống Số liệu thuyền nhân đến Thái lan bị hải tặc tấn công[10] Năm Tỷ lệ 1981 77% 1982 65% 1983 56% Người tổ chức vượt biên và người vượt biên thường gặp nhiều rủi ro: Bị lừa: do việc tổ chức vượt biên bị cấm, bị xem là phản quốc ... nên mọi người chỉ dám bàn bạc lén lút và khi bị lừa cũng không dám lộ chuyện bị lừa vì sợ ở tù, vì vậy một số người đã tổ chức lừa đảo lấy tiền, vàng. Họ thường không đón khách đã hẹn và đã lấy tiền, họ mật báo hoặc phối hợp với công an đến bắt người vượt biên tại bãi.[cần dẫn nguồn] Bị lộ: việc rủ người có tiền đi theo dễ làm lộ chuyện, cũng như khâu chuẩn bị nhiên liệu, thực phẩm, máy nổ dự phòng, thuê tài công hoặc bị lộ vì tuần phòng hoặc khi ra cửa biển. Bị bão, bị chết máy, bị đi lạc, bị hải tặc Thái Lan giết, cướp, hãm hiếp, quăng xuống biển, chết đói, chết khát. Thậm chí, trong một số trường hợp có người buộc phải ăn thịt người chết để sống. Khó chính xác có bao nhiêu người đã bỏ mình trên biển. Có ước đoán cho rằng từ 500.000-600.000 người chết ngoài biển.[11][12] Năm 1981 hội Chữ thập đỏ quốc tế ước đoán phân nửa số người vượt biển chết dưới tay hải tặc.[cần dẫn nguồn] Nỗ lực cứu trợ thuyền nhân Việt Nam Vì chuyến vượt biển đầy gian nguy làm xúc động lương tâm của nhiều người trên thế giới, một số tổ chức thiện nguyện đã ra tay phát động phong trào cứu trợ thuyền nhân. Từ cuối thập niên 1970 ở Pháp đã xuất hiện Un bateau pour le Vietnam ("Ủy ban một con tàu cho Việt Nam")[13][14] vận động việc cứu giúp. Hội Y sĩ không biên giới dưới sự lãnh đạo của bác sĩ Bernard Kouchner cho con tàu Île de Lumière đi vớt người lâm nạn. Con tàu này sau đó dùng làm tàu bệnh viện và nơi chữa trị cho 40.000 người Việt tỵ nạn bị giam ở đảo Pulau Bidong, Malaysia.[15] Cũng hưởng ứng lời kêu gọi đó, năm 1979 ở Đức có Ein Schiff für Vietnam quyên góp để rồi cùng phối hợp với Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc, lần lượt cho ra khơi trên Biển Đông ba con tàu mang tên "Cap Anamur". Sự việc đó cũng dẫn đến việc hình thành tổ chức Cap Anamur, một đoàn thể thiện nguyện thường trực.[16][17] Ở Bỉ thì có "Ủy ban Quốc tế Cứu trợ người Việt Tị nạn" được sử ủng hộ của hoàng gia Bỉ[18] trong khi đó ở Hoa Kỳ thì chính cộng đồng người Việt tỵ nạn cũng đứng ra thành lập "Ủy ban Báo nguy giúp Người vượt biển" năm 1980 do tiến sĩ Nguyễn Hữu Xương làm chủ tịch để hợp tác với các tổ chức quốc tế khác. Kết quả là con tàu Jean Charcot được điều hành đi vớt thuyền nhân.[19] Hội Y sĩ Thế giới (Medicins du Monde) thì điều động con tàu Akuna II[20] ra khơi với nhiệm vụ cứu trợ.[21][22] Trại tị nạn đón thuyền nhân Đông Dương Trại Whitehead ở Hương Cảng Một số vùng có đông người vượt biên đã được Liên Hiệp Quốc hoặc nước sở tại lập trại tị nạn để cho người tị nạn tạm trú trong thời gian chờ ra đi đến nước thứ ba. Hồng Kông: tất cả trại đóng cửa năm 2000[23], Achau, Argyle Street, Chimawan, Green Island, Heilingchau , High Island , Shek Kong, Whitehead, Tuen Mun (trại mở), Pillar Point (trại mở). Indonesia: Galang, Kuku. Malaysia: Bidong (Pulau Bidong),[24] Sungei Besi. Philippines: Bataan, Palawan. Thái Lan: Banthad, Leam Sing, Phanat Nikhom,[25] Sikiw, Site 1, Site 2, Songkhla.[26] Thuyền nhân từ các quốc gia khác Người Haiti vượt biển bằng thuyền Sự có mặt của người Trung Quốc ở nhiều nước trên thế giới không nằm ngoài một lẽ họ di cư đến đó phần lớn nhờ vượt biển. Cũng vì lẽ đó, khi qua Việt Nam họ được người địa phương hiểu và gọi là người đến bằng tàu bè, hay gọi tắt là "người tàu". Lâu dần danh từ này được chuyên biệt hóa nên trong tiếng Việt hiện nay có từ "Tàu" hay "người Tàu", là do nguyên nhân trên. Tuy vậy có thể có một số người Trung Quốc biết tiếng Việt sẽ cảm thấy bị xúc phạm khi họ nghe thấy người Việt gọi họ là người Tàu.[cần dẫn nguồn] Ngày nay, hiện tượng vượt biển trái phép để tìm kiếm cuộc sống tốt hơn cũng đang diễn ra phổ biến ở Bắc Phi (điểm đến là các nước châu Âu vùng Địa Trung Hải) và các quốc gia vùng Caribe (điểm đến là Mỹ). Tưởng niệm Bia Thuyền nhân Vào năm 2005, ba mươi năm sau khi cuộc Chiến tranh Việt Nam kết thúc và đợt sóng người Việt tị nạn đầu tiên bỏ nước ra đi bằng thuyền, một số người trong cộng đồng người Việt hải ngoại tổ chức dựng bia tưởng niệm thuyền nhân tại hai địa điểm quan trọng trên chặng hành trình của nhiều thuyền nhân. Tại Pulau Bidong (tháng 3 năm 2005) thuộc Malaysia và Galang trên đảo Batam, thuộc Indonesia, hai nơi tạm trú của người tị nạn trong khi chờ đợi giấy phép tái định cư tại một nước thứ ba họ cho dựng hai tấm bia với dòng chữ song ngữ Việt-Anh: Tưởng niệm hàng trăm ngàn người Việt đã bỏ mình trên con đường đi tìm Tự do (1975-1996). Dù họ chết vì đói khát, vì bị hãm hiếp, vì kiệt sức hay vì bất cứ lý do nào khác, chúng ta thảy đều cầu nguyện để họ được yên nghỉ dài lâu. Sự hy sinh của họ sẽ không bao giờ bị lãng quên. In commemoration of the hundreds of thousands of Vietnamese people who perished on the way to freedom (1975-1996). Though they died of hunger or thirst, of being raped, of exhaustion or of any other cause, we pray that they may now enjoy lasting peace. Their sacrifices will not be forgotten.[27]. Tuy nhiên đến tháng 5 năm 2005 thì bia ở Galang bị phá. Vào tháng 11 thì bia ở Bidong cũng bị dỡ đi. Hai hành động này của chính quyền Malaysia và Indonesia là do áp lực ngoại giao của chính phủ Việt Nam vì bất bình với câu văn trên bia.[28][29] Một chiếc thuyền vượt biển của thuyền nhân, được Cap Anamur cứu vớt tháng 4 năm 1984, được đem về đặt tại Troisdorf, để kỷ niệm Bia bằng đồng tri ân nước định cư và kỷ niệm thuyền nhân, dựng ở Hamburg năm 2009 Vì những nguy hiểm và không ít người thiệt mạng trên hành trình thoát khỏi Việt Nam, một phong trào nổi lên tại hoải ngoại dựng bia tưởng niệm thuyền nhân diễn ra số địa điểm khác. Trong số đó có Thị xã Grand-Saconnex, Thụy Sĩ (tháng 2, 2006)[30] Thành phố Santa Ana, California, Hoa Kỳ (tháng 2, 2006)[31] Liège, Bỉ (tháng 7, 2006)[32] Hamburg (tháng 10 2006)[33] Troisdorf, Đức (tháng 5, 2007)[34][35] Maribyrnong (Melbourne), Úc (tháng 6, 2008)[36] Bagneux, Pháp (tháng 11, 2008) [37][38] Westminster, CA (tháng 4, 2009)[39][40][41] Cảng Landungsbruecken (Hamburg), Đức (tháng 9, 2009).[42] [43] Ngày 12 tháng 9 năm 2010 thêm một tượng đài kỷ niệm thuyền nhân Việt Nam với tên Niềm mơ ước của Mẹ (tiếng Pháp: Le Rêve de la Mère) được dựng ở bùng binh "Rond point Saigon", ngã tư thông lộ André Malraux và đại lộ des Genêts thuộc xã Bussy-Saint-Georges, thị trấn Marne-la-Vallée.[44] Tượng đài này có bốn mục đích: 1) Tưởng niệm người tỵ nạn thuyền nhân Việt Nam 2) Tri ân nước Pháp 3) Ghi ơn bậc phụ huynh 4) Vinh danh đóng góp của người Pháp gốc Việt. Đây là bức tượng bằng đồng do điêu khắc gia Vũ Đình Lâm thực hiện.[45] Saigon Place, Bankstown, NSW, Úc (tháng 11, 2011).[46] Đây là bức tượng bằng đồngnặng hơn ba tấn do điêu khắc gia Terrence Plowright thực hiện. Năm 2011 chính quyền địa phương Tarempa thuộc quần đảo Anambas, Indonesia đã khởi công trên đảo Kuku xây tượng đài tưởng niệm thuyền nhân Việt Nam với dòng chữ “In Memory of the Refugees Who Died in Anambas, Indonesia, 1979-1986.” Dự án sẽ khánh thành năm 2012.[47] "Ngày Thuyền nhân" ở Mỹ Ngày 12 tháng 8 năm 2009 Hội đồng thành phố Westminster, CA, thông qua nghị quyết 4257 công nhận ngày thứ bảy cuối cùng mỗi tháng 4 sẽ là "Ngày Thuyền nhân Việt Nam".[48] Con thuyền Tự do ở Úc Ở Sydney, Úc, tại Viện Bảo tàng Hàng hải Quốc gia Úc (Australian National Maritime Museum) hiện lưu trữ một số hiện vật của con thuyền Tự do do một gia đình thuyền nhân Việt Nam đi chuyến hải hành vượt biên hơn 6.000 km từ Việt Nam để cập bến ở Darwin (Úc) năm 1977. Con thuyền này được chính phủ Úc mua lại năm 1990 đem trùng tu và trưng bày ở bảo tàng viện.[49] [sửa] Viện bảo tàng ở Pháp Thành phố Rennes, vùng Bretagne ở Pháp vào Tháng Tư năm 2010 đã mở cuộc triển lãm một số di vật và hình ảnh thu thập được về hành trình vượt biên của thuyền nhân Việt Nam trong đó có một con thuyền chở 86 người lâm nạn trên biển.[50]
Những thuyền nhân Việt Nam được cứu và phát nước uống
Reply With Quote - 07-02-2012, 02:23 AM #2 alamit
- View Profile
- View Forum Posts
Member Join Date 20-04-2011 Posts 5,771 Tội ác CS Việt nam: Thuyền nhân
Tội ác CS Việt nam: Thuyền nhân NHỮNG CHUYỆN HẢI HÙNG CỦA THUYỀN NHÂN Khi quân đội Hoa Kỳ thất trận tháo lui, không còn ai muốn ỏ lại Việt Nam nữa. Những người thuộc giới cha chú đã được các bạn Mỹ chở đi trước, sót lại những kẽ bất hạnh thì chỉ còn bám víu vào những con thuyền mong manh hướng vịnh Thái Lan. Trên những chuyến vượt biên này họ đã xuất kỳ bất ý viết lại những mẩu chuyện có thật về hải tặc thuộc thế kỷ 20. Hoàn cảnh vào thời đó rất thuận lợi cho bọn cướp của giết người trên biển cả, còn hơn những chuyện hải tặc trong lịch sử thế giới. Dân chài xứ Thái rất nghèo túng, luôn luôn tìm cơ may kiếm thêm chút tiền còm. Trong khi chính quyền cộng sản Việt Nam làm ngơ trước cơ sự, thì chính phủ Thái lại không muốn đón nhận những đợt tàu chở thuyền nhân ngày càng đông thêm. Không mấy ai quan tâm đến những lời tường thuật về vụ hải tặc. Chỉ đến khi những vụ cướp bóc giết người quá tàn nhẩn dã man xảy ra, và lại còn phải chịu áp lực quốc tế và Hải quân Hoa Kỳ thì chính phủ Thái mới cho mở vài vụ điều tra. Đến lúc đó thì hàng ngàn thuyền nhân đã bị cướp, hảm hiếp, giết chết trên biển cả. Sau đây là một vài vụ cướp bể đã được điều tra: Vào đầu thập niên Tám mươi, ông Ted Schweitzer là người Mỹ đầu tiên đã cập bến vào một đảo sào huyệt hải tặc và mục kích chuyện 238 thuyền nhân Việt Nam bị đắm ghe, dạt vào đấy. Có 80 người bị giết, tất cả các phụ nữ đều bị hảm hiếp và buộc khiêu vũ khỏa thân cho chúng xem. Ông Schweitzer can thiệp yêu cầu họ chấm dứt tấn tuồng vô nhân đạo này thì bị bọn cướp xúm lại đánh đập đến như gần chết. Thật may mắn mà ông còn sống sót để thuật lại. Khi lai tỉnh, ông thấy trước mắt những cánh tay, đùi chân còn rải rác đây đó. Đấy, bằng chứng có vụ ăn thịt người. Cô Nguyễn Phan Thúy cùng với mẹ, dì và người em gái đã bỏ tiền ra mua chổ trên tàu để vượt trốn. Sau mười ngày lênh đênh trên biển cả, tàu bị mắt cạn, hết nước, hết cái ăn. Hải tặc đến bắn chết người dì. Một ông già có răng vàng bị chúng lấy kìm vặn khỏi miệng. Một người đàn bà đang có bầu bị chúng ném xuống biển. Các người sống sót bị chúng lột hết quần áo, xua cả lên bờ, và tầu bị nhận chìm. Chúng bắt các phụ nữ xếp hàng. Cô Thúy cùng một cô gái khác tên Liên bị chúng lựa ra rồi đưa sang chiếc thuyền đánh cá của chúng. Suốt ba tuần lễ sau đó, hai cô liên tiếp bị hảm hiếp. Cô Liên chịu không nổi, bị chúng chán rồi vứt cô xuống biển; còn cô Thúy thì chúng đem bán cho một động mải dâm trong làng mang tên là "Phòng đấm bóp nơi thiên đường". Ở đây cô mang thai và vị người ta lấy một que tre trục bào thai ra. Cuối cùng cô thoát được và được cơ quan Cứu Trợ Liên Hiệp Quốc tiếp nhận. Năm 1989, một chiếc ghe chở 84 thuyền nhân bị hải tặc đến cướp. Tất cả đàn bà và trẻ con bị chuyển qua thuyền hải tặc và từ đó không còn nghe một tin gì về số phận họ nữa. Những người đàn ông thì bị nhốt dưới khoang tầu rồi, từng người một, chúng lôi lên đập cho đến chết. Sau cùng, những người còn lại liều mình sấn vào bọn cướp thì tầu hải tặc nhào đến đâm vào tầu thuyền nhân cho chìm đi. Một số người cố thoát liền bị chúng dùng cây sào nhận chìm xuống nước. Còn lại 13 người thoát chết nhờ bơi ra xa và được bóng đêm che phủ. Vào tháng 4 năm 1989, có bảy tên hải tặc trang bị súng ống, đao búa đến tấn công một chiếc tầu nhỏ chở 129 thuyền nhân. Tất cả đàn bà đều bị hảm hiếp, đàn ông bị sát hại, trừ một thiếu niên tên là Phạm ngọc Nam Hung (hình chụp ảnh đang nhận diện các tên hải tặc). Anh này sống sót nhờ bám được vào một chiếc bè kết thành bởi ba xác chết. Cuối cùng chính phủ Thái bị Cơ quan Cứu Trợ Quốc Tế cưởng bách tìm biện pháp đối phó. Các tầu đánh cá phải đăng ký và số đăng ký phải ghi rõ bằng chữ lớn ngay mủi tầu. Các tầu đều phải được chụp hình lúc ra khơi và lúc về cảng. Biện pháp này đã khiến nhiều hải tặc ngã lòng, lo sợ, nhưng những bọn còn lại bèn trở nên tàn nhẫn, hung dữ hơn trước! Chúng thủ tiêu hết mọi nhân chứng để không còn một ai nhận diện được chúng nữa. Vào cuối thập niên tám mươi thì các vụ hải tặc dần dần chấm dứt do con số người tỵ nạn giảm đi. Ngày nay, nhiều sử gia cho rằng sự tàn bạo của những vụ hải tặc đã được thổi phồng lên và các hải tặc vốn đã là phạm nhân chuyên nghiệp. Những câu chuyện được kể lại gần đây chắc chắn không phải chuyện được thêu dệt quá đáng, và như thế các vụ hải tặc trước kia chắc phải đúng như vậy. Biệt Hải chuyển ngữ từ bài: The suffering of the Vietnamese Boat people
thiếu niên tên là Phạm ngọc Nam Hung (hình chụp ảnh đang nhận diện các tên hải tặc)
Reply With Quote - 07-02-2012, 05:07 AM #3 alamit
- View Profile
- View Forum Posts
Member Join Date 20-04-2011 Posts 5,771 Tội ác CS Việt nam: Thuyền nhân
Tội ác CS Việt nam: Thuyền nhân Câu chuyện thuyền nhân Việt Nam - Cập bến từ địa ngục Katja Iken Hồ Gươm chuyển ngữ Tạp chí Tấm Gương (Der Spiegel) Cướp biển, bão tố, cái nóng đổ lửa: hàng ngàn thuyền nhân Việt Nam đã bỏ mạng ở biển Đông trên hành trình chạy trốn trước những người CS. Quàn Huệ Phương đã sống sót và là một trong những người Việt tị nạn đầu tiên đến nước Đức sau 45 ngày ác mộng. Không một ai, ngay cả người bạn đời cũng vậy, có thể thuyết phục được Quàn Huệ Phương vứt bỏ đi tấm chăn dạ màu nâu. Hàng chữ "DRK" (Hội chữ thập đỏ Đức- ND) in to nổi bật trên nền chăn đã hơi bị sờn. Nhân viên cấp cứu đã khoác tấm chăn này lên vai cô gái Việt Nam đang run rẩy vì lạnh, sau khi cô bước chân xuống sân bay Hanover-Langenhagen vào một buổi sáng chủ nhật ảm đạm ngày 03/12/1978. Quàn Huệ Phương thuộc 163 người Việt Nam tị nạn đầu tiên, cách đây 30 năm được tị nạn ở CHLB Đức. Làn sóng đỏ đã xua đuổi họ phải chạy trốn ra biển cả. Sau nhiều năm chiến tranh tàn khốc, ngày 30/04/1975 xe tăng quân đội Bắc Việt đã lăn bánh ở thủ đô Sài gòn của Nam Việt. Với sự chiến thắng của Cộng sản, cuộc săn lùng những đối tượng được coi là kẻ thù tiềm tàng đã được khởi động, đặc biệt là đối với người Việt gốc Hoa, nhân viên chính quyền Sài Gòn cũ, những người phục vụ trong quân đội và những người được gọi là giới tư sản. Chỉ cần ai có dấu hiệu khả nghi là những người cầm quyền mới sẽ tống họ lập tức vào trong các trại cải tạo. Không điều gì có thể tồi tệ hơn được nữa. Để thoát khỏi cuộc truy lùng của Cộng Sản, khoảng 1,5 triệu người đã quyết định trốn chạy. Họ leo lên những chiếc thuyền đánh cá nhỏ bé, những chiếc ghe mục ruỗng và rời bỏ mảnh đất của họ với một mục tiêu vô định. Họ lại xuất hiện trở lại trong những chương trình phát thanh - truyền hình của thế giới Phương Tây với tên gọi "Thuyền Nhân"- là những người mà số phận không biết sẽ đi về đâu. 12 cây vàng cho mỗi đầu người Quàn Huệ Phương đã được chứng kiến khi người ta áp giải người anh rể đi, "những người bộ đội họ đến vào ban đêm và bắt mọi người mang đi", cô gái Miền nam Việt Nam hiện đang sống tại thành phố Göttingen vẫn đang bị ám ảnh mạnh mẽ về những việc xảy ra trong quá khứ kể. Mặc dầu cô muốn kể lại câu chuyện của mình vì không muốn số phận của những người thuyền nhân bị rơi vào trong quên lãng nhưng cô cũng không muốn xuất hiện để trở nên nổi tiếng và có khi còn có cả một tấm ảnh chụp kèm theo. Cha mẹ gốc người Hoa của cô năm xưa có một tiệm cắt tóc tại Sài Gòn và đạt được một cuộc sống hạnh phúc đơn sơ, và như vậy cũng đủ để rơi vào vòng ngắm của những người Cộng Sản. Cô gái 18 tuổi Quàn Huệ Phương lúc đó đã đi đến một quyết định, vào một buổi chiều nắng ấm tháng 10 năm 1978, cô đã cùng với 4 anh chị em bước lên một chiếc ghe xộc xệch với một ít bánh mì, 100 đô la và một vài cặp nhẫn vàng ở trong túi. Bố mẹ của cô phải ở lại Sài gòn và họ phải mua tự do cho con cái mình với một cái giá cắt cổ - quan chức tham nhũng của một thể chế thù ghét bọn tư bản đòi 12 cây vàng cho mỗi đầu người, lúc đó họ cũng không biết rằng liệu họ còn có thể được ôm trở lại những đứa con của mình trong vòng tay hay không. - "Nỗi kinh hoàng trước những người cộng sản còn lớn hơn cả nỗi sợ bị chết ở ngoài biển cả" Quàn Huệ Phương kể. Một định mệnh mà hàng ngàn người VN đã nhanh chóng gặp phải: Rất nhiều người đã chết đuối vì tàu của họ bị lật chìm trong bão tố, những người khác thì chết khát hoặc trở thành nạn nhân khi bị rơi vào tay hải tặc trong vịnh Thái Lan, chúng cướp những đồ đạc ít ỏi của họ rồi rốt cuộc ném họ xuống biển. Địa ngục trên con tàu Hồng Hải Những ai vượt biển thành công và cập bến ở Hồng Công, Thái Lan, Singapore, Mã Lai sẽ phải nhìn thấy một hiện thực cay đắng mới hiện ra trước mắt: Thuyền nhân không được chào đón ở bất cứ nơi nào. Cư dân của những đất nước đang gặp nạn nhân mãn tống giam những vị khách không mời vào những trại tị nạn được rào bằng những hàng rào dây kẽm gai, ném đá xua đuổi những kẻ mới cập bến hoặc đẩy tàu của họ trở ra biển ngay lập tức. Có bao nhiêu thuyền nhân Việt Nam bị chết trên đường vượt biển ở biển Đông? điều đó không được rõ, những chuyên viên ước chừng một con số lên tới nửa triệu người. Chỉ là một sự tình cờ hoàn toàn ngẫu nhiên, Quàn Huệ Phương và các anh chị em của cô được sống sót. sau vài ngày lênh đênh trên biển, chiếc thuyền bé nhỏ của họ đã gặp được một chiếc tàu mà sau này đã trở nên nổi tiếng: Tàu Hồng Hải. - "Chúng tôi nhìn thấy chiếc tàu và chúng tôi cứ thế trèo lên", cô gái Việt Nam kể, bất cứ chiếc thuyền tị nạn nào, đang hướng về phương Tây với cái nhìn buồn thảm tuyệt vọng, rốt cuộc cũng sẽ phải hành động như vậy. Ở một khía cạnh nào đó, ở đây họ được an toàn hơn trước bão tố và hải tặc, và bởi vậy một địa ngục mới lại mở ra: một con tàu cũ nát và bị quá tải tới mức tuyệt vọng với 2504 hành khách. Đói, khát, bệnh tháo chảy và chật chội đã đẩy những người tị nạn tới bến bờ của sự rồ dại. - "Điều tệ hại nhất lại là sự tẻ nhạt" Quàn Huệ Phương kể, dù cô đưa mắt nhìn đi đâu cũng thấy biển bao la vây quanh, sự chờ đợi trở nên đông cứng lại, thậm chí ngày sinh nhật lần thứ 19 của cô gái trẻ cũng bị quên lãng vì bị mất cảm giác về thời gian trên suốt hành trình trốn chạy. Những ngày đầy đau khổ tuyệt vọng cứ nối tiếp nhau không ngừng, cứ vậy kéo dài cho tới tận ngày 09 tháng 11. Cơn ác mộng trôi qua. Cuộc hành trình vô định kéo dài hàng tuần lễ và con tàu Hồng Hải đã tới được bờ biển Port Kelang của Mã Lai, nhưng chính phủ Mã Lai không cho phép họ rời con tàu mà kéo họ trở ra ngoài biển. - "tàu chiến của họ quần thảo quanh tàu của chúng tôi liên tục ngày cũng như đêm để không một ai trong chúng tôi có thể trốn vào đất liền", Quàn Huệ Phương kể, người ta thậm chí còn không cung cấp nước uống, thực phẩm, thuốc chữa bệnh cho những người tị nạn đang tránh ánh nắng mặt trời nóng như đổ lửa dưới những tấm bạt rách nát. Hình ảnh của con tàu vô tổ quốc bềnh bồng trên bờ biển Mã Lai được truyền tải vào tận phòng khách của người dân các nước công nghiệp phương Tây trong thời điểm ngay trước lễ giáng sinh năm 1978. Dư luận thế giới rúng động, và sự trợ giúp cũng đã sẵn sàng ngay sau đó. Bằng sự tiên phong can đảm, ông Ernst Albrecht (CDU- đảng dân chủ thiên chúa giáo), thủ tướng tiểu bang Niedersachsen, CHLB Đức khi đó, đã mở đầu bằng việc đón nhận 1000 thuyền nhân trong đó có 644 thuyền nhân thuộc tàu Hải Hồng, sau đó các quốc gia khác nối tiếp tấm gương đó. Cơn ác mộng trên biển đối với Quàn Huệ Phương và những thuyền nhân khác trên con tàu Hải Hồng đã thực sự đi tới hồi kết. Ai và sẽ định cư ở quốc gia nào được quyết định bằng hình thức bốc thăm. - "Nước Đức? chúng tôi không biết gì về quốc gia đó ngoài việc biết Hitler đã từng ở đấy" Quàn Huệ Phương kể và cười. Đi định cư ở đâu đối với cô không quan trọng, quan trọng là được rời bỏ cái nhà tù nổi mà 45 ngày đêm cô đã bị nhồi nhét ở trong đó. Cô và những người đã được lựa chọn khác chỉ được phép ở trên đất Mã Lai có vài giờ đồng hồ, sau đó chiếc Boing 707 của không lực Đức cất cánh và bay một đoạn đường xa 12.000 km để đưa họ tới quê hương mới. Vào lúc 7 giờ sáng, 163 thuyền nhân trong đó có 72 trẻ em đã hạ cánh ở sân bay Langenhagen. "Chúng tôi biết rằng, các bạn đã phải vượt qua những đau khổ và khó nhọc như thế nào và chúng tôi có thể bù đắp cho các bạn, như bây giờ các bạn có thể cảm nhận thấy, hiện nay các bạn đã đến một đất nước mà các bạn có thể sống một cuộc sống tự do mà sẽ không bị bất kỳ một ai áp bức". Ông Albrecht, thủ tướng tiểu bang Niedersachsen đã chào đón những người tin nạn đầy mệt mỏi với những nụ cười tươi tắn trước những ống kính bằng những lời như vậy tại sân bay. - "Tôi không hiểu lấy một từ" Quàn Huệ Phương kể, lúc đó cô rất mệt mỏi nhưng phấn chấn và đầy lòng biết ơn. Tôi đã trở thành người Đức Bắt đầu từ đây, mọi chuyện đều chuyển biến rất nhanh: từ trại tiếp nhận ở thành phố Friedland người ta đưa cô gái trẻ đến ngôi làng nhỏ Bahlburg thuộc tiểu bang Niedersachsen, ở đó cô sống với những anh chị em của mình trong một ký túc xá dành cho thanh niên. Những thành phố tiếp theo mà cô dọn đến ở là Celle, Hamburg và rốt cuộc là thành phố Göttingen, nơi mà cô vẫn sống ở đó cho tới ngày hôm nay. Giống như nhiều người khác trong tổng số khoảng 38.000 thuyền nhân Việt Nam chạy tị nạn và được đón nhận ở nước CHLB Đức kể từ sau năm 1975, Quàn Huệ Phương đã tìm thấy ở đây một quê hương mới. - "Tôi đã trở thành người Đức" cô gái, đã học ngành tin học và quản trị xí nghiệp và hiện đang làm việc trong trường đại học tổng hợp Göttingen, nói. Cách đây bốn năm cô đã trở về thăm lại thành phố Sài Gòn, quê hương cũ. Cô thật sự bị sốc vì bầu không khí ô nhiễm nặng nề, vì những tiếng ồn và những cảnh tượng của rất nhiều người tàn tật, nạn nhân của chất độc màu da cam, chất độc mà nước Mỹ đã sử dụng để làm rụng lá cây trong rừng trong cuộc chiến tranh Việt Nam năm xưa. Giờ đây, cô gái Việt Nam đã quen ngay cả với cái giá lạnh mùa đông ở nước Đức, khi nhiệt độ xuống tới độ âm, cô chui mình vào trong chiếc chăn chiên màu nâu của hội Chữ Thập Đỏ Đức, tấm chăn mà người ta đã khoác lên vai cô ở sân bay gần thành phố Hanover năm xưa. Katja Iken
Ảnh 1: Cuộc trốn chạy đến Mã Lai: Một người tị nạn Việt Nam với bé trai và một chút của cải cuối cùng trên tay đang chờ được phép vào đất Mã Lai từ một con tàu chật cứng người vào tháng 5 năm 1979. Không phải tất cả các con tàu vượt biên được phép cập bến ở đây, phần lớn các con tàu trong số họ lại bị chính quyền Mã Lai đẩy trở ra biển.
Ảnh 2: Trên con tàu Hồng Hải: Với những chiếc ghe, thuyền cũ nát như con tàu vận tải Hải Hồng này, những thuyền nhân đã tìm cách vượt thoát khỏi quê hương miền Nam VN của họ sau khi quân đội miền Bắc tiến quân vào hồi năm 1975. Sau một tuần lênh đênh vô định trên biển, vào tháng 11 năm 1978 chính quyền Mã Lai vẫn không cho phép 2500 người tị nạn trên tàu Hồng Hải được bước lên bờ.
Ảnh 3: Trên boong một con tàu tị nạn: tình trạng kinh hoàng trên những con tàu tị nạn, vô số người Việt đã tìm cách trốn chạy sự khủng bố ở quê hương của họ trên những con tàu như thế này. Họ trốn tránh ánh mặt trời như thiêu đốt chỉ bằng những tấm bạt bằng nhựa như trên con tàu Tùng An hồi tháng 12 năm 1978. Con tàu với khoảng 2300 thuyền nhân đã cập bến Manila nhưng chính quyền Philippinen từ chối không tiếp nhận những thuyền nhân đã kiệt sức.
Ảnh 4: Niềm hy vọng cuối cùng: Những thuyền nhân đang tự cứu lấy nhau từ một con tàu đang chìm trước bờ biển Mã Lai hồi tháng 12 năm 1978. Đến giữa năm 1979, Mã Lai đã đón nhận thuyền nhân Việt Nam nhiều tới mức chính quyền Mã Lai quyết định từ chối không tiếp tục cho cập bến nếu các nước khác không nhận những người Việt Nam đến định cư
Thuyền nhân trên tàu Hồng Hải: Mùa thu năm 1978, tình cảnh khủng khiếp trên tàu, hơn 2500 người tị nạn Việt Nam sống chen chúc nhau trên tàu Hồng Hải và hy vọng rằng, cuối cùng rồi sẽ được bước lên mảnh đất xa lạ.
Reply With Quote - 21-02-2012, 10:51 PM #4 alamit
- View Profile
- View Forum Posts
Member Join Date 20-04-2011 Posts 5,771 Tội ác CS Việt nam: Thuyền nhân
Tội ác CS Việt nam: Thuyền nhân Thuyền Nhân: Ấn Tích Lịch Sử Tác giả: Dương Thành Lợi 1. Du Trình Lịch Sử Thăng Trầm và Hy Vọng của Người Việt Hải Ngoại Tác phẩm này khắc ghi hoài ý tưởng niệm hàng vạn thuyền nhân đã mất mạng trên biển Ðông và trân trọng tri ân những cá nhân dám đối chọi với tử thần để ra đi tìm tự do và tiếp tục tranh đấu cho lý tưởng tự do cũng như tất cả các mạnh thường quân, tổ chức, quốc gia đã, đang và sẽ tiếp tục cứu trợ dân tị nạn. +++ Nguyện vọng của một khối người - đặc biệt là một khối người đã trải qua nhiều thăng trầm như cộng đồng Việt Nam hải ngoại - được thể hiện qua du trình lịch sử và thực trạng của khối người đó. Tài liệu Thuyền N hân : Ấn Tích Lịch Sử là một cố gắng nhỏ gần hai thập niên chủ ý tìm hiểu nguyện vọng của người Việt tị nạn qua nỗ lực thâu trữ phân tích các dữ kiện và chính sách quốc tế liên quan đến du trình lịch sử của thuyền nhân Việt Nam cũng như nghiên cứu sinh hoạt cộng đồng hải ngoại, thử thách khó khăn và sự thành công khả kính của khối người tị nạn, đặc biệt là thế hệ trẻ, suốt một phần tư thế kỷ vừa qua. Thuyền N hân : Ấn Tích Lịch Sử phản ảnh tâm nguyện khảo cứu toàn diện dấu vết lịch sử và các thử thách hiện tại của đồng bào tị nạn cũng như giải quyết mối lo âu của người viết là hải trình kinh hoàng của người Việt tự do có thể bị khối dữ kiện khổng lồ của tân thế kỷ dìm chết vào ký ức cá nhân. 5000 năm lịch sử Việt Nam chưa từng chứng kiến thảm cảnh chính quyền xua đuổi nhân dân ra khỏi biên thùy quốc gia cho đến khi chủ nghĩa cộng sản khống chế hoàn toàn đất nước. Tổ tiên khai thiên lập quốc có lẽ không tưởng tượng nổi là dân tộc Việt Nam phải đương đầu với một cơ chế bất nhân như nhà nước Mác-xít nhẫn tâm tống xuất công dân ra khỏi đất nước chỉ vì nhu cầu phục vụ một chính thuyết ngoại lai. Du trình tị nạn của ng ười Việt hải ngoại là: (I) một thảm trạng đến từ sự phản kháng chính sách đàn áp ý thức hệ và chủ trương tống xuất buôn lậu lương dân của nhà nước cộng sản, một chủ trương chưa bao giờ xảy ra suốt chiều dài lịch sử Việt Nam; (II) một hải trình kinh hoàng khiến nhiều chính quyền và quan sát viên quốc tế phải sử dụng danh từ hỏa lò sát nhân Châu Á (Asian holocaust) để mô tả tương tự kinh nghiệm hãi hùng của dân tộc Do Thái vào thời Ðệ Nhị Thế Chiến; (III) một chặng đường vượt biển khủng khiếp bắt buộc cả hai thế giới cộng sản và tự do phải nhóm họp để cùng giải quyết cơn khủng hoảng nhân đạo này tại hai hội nghị tị nạn vĩ đại nhất nhì lịch sử nhân loại; (IV) một hậu quả bất khả lường đến từ sách lược sai lầm lớn nhất của đảng Cộng Sản Việt Nam từ ngày khai sinh đảng vì đã lưu đày một lực lượng người Việt tự do đáng kể* ra hải ngoại để sau đó họ hồi phục và đối kháng hữu hiệu với các kế hoạch áp bức của chế độ Hà Nội; và (V) một bước ngoặc lịch sử của dân tộc Việt Nam qua sự hình thành cộng đồng tị nạn hải ngoại với một lực lượng nhân tố trên 2 triệu người linh mẫn được trang bị nhiều khả năng chuyên môn quý báu cùng một tiềm năng thu nhập không dưới 30 tỷ Mỹ kim hàng năm đang phát triển ảnh hưởng toàn thế giới và trợ lực cho trào lưu dân chủ hoá đất nước. Ðức Khổng Tử giảng huấn là nếu thành phần lãnh đạo quốc gia có tà ý, ban hành chính sách hà khắc, không biết thương dân thì đất nước tất loạn. Dân chúng sẽ xa lìa quốc gia nếu điều kiện cho phép để chạy trốn sách lược quốc trị hà khắc. Sách Lễ Ký ở phiên Ðàn Cung Hạ ll có ghi là khi thầy trò Khổng Tử đi ngang qua núi Thái Sơn thì gặp một phụ nữ đang khóc lóc thảm thiết bên mộ con. Họ đến hỏi lý do tại sao bà ta khóc thì được cho biết là bà khóc cho con, chồng và nhạc phụ đã bị cọp núi Thái Sơn bắt ăn thịt. Khổng Tử bèn hỏi tại sao gia đình không dọn đi nơi khác thì được bà thố lộ là gia đình của bà phải trốn về nơi rừng thiêng nước độc để mưu sinh bởi vì: 'Ở đây không có hà chính' (hà chính: sách lược quốc trị hà khắc). Khổng Tử bèn quay sang học trò và dạy: 'Hà chính mãnh ư hổ giã' (sách lược quốc trị hà khắc còn ghê gớm hơn cọp). Minh ý xa xưa của Khổng Tử có lẽ không quá sai với thực trạng của dân tộc Việt Nam hơn hai ngàn năm sau. Cuộc vạn hải lý tầm tự do đầy những tấn bi kịch thê thảm cũng như nhiều thành tựu vinh quang của thuyền nhân đã trở thành huyền thoại lịch sử. Ðịnh giá tự do mà khối người Việt tị nạn tại hải ngoại phải trả trong một phần tư thế kỷ vừa qua quá đắt đỏ. Người viết hy vọng là qua tài liệu nghiên cứu Thuyền N hân : Ấn Tích Lịch Sử, người Việt tị nạn tại hải ngoại có thể nhận diện quá khứ lịch sử của chính bản thân hay thân nhân trong gia đình cũng như ôn lại một chặng đường lịch sử gian nan đáng ghi nhớ song song có thể truyền đạt lại cho thế hệ con cháu các kinh nghiệm quý báu. Trước đây một số sách báo đã được viết về thuyền nhân nhưng thường nhập khối tị nạn Việt Nam với các biệt điểm đặc thù vào khối tị nạn Ðông Dương bao gồm cả người Lào và Cam Bốt cho nên không thể phân tích một cách chi tiết về hải trình đầy gian truân thảm khốc cũng như các thành công hiển vinh của thuyền nhân Việt Nam; song song, các tài liệu này thường chỉ chú trọng vào giai đoạn 1978-81 hoặc chỉ bàn về một khía cạnh mang tính cách nhất thời như chính sách trại cấm, chương trình cưỡng bách hồi hương cho nên không thể đưa ra một tầm nhìn bao quát về du trình lịch sử của thuyền nhân Việt Nam. Thuyền Nhân: Ấn Tích Lịch Sử thu thập văn kiện, thẩm định và phân tích toàn diện trường niên thăng trầm nhưng đầy hy vọng của người Việt tị nạn. Tuy tài liệu Thuyền Nhân: Ấn Tích Lịch Sử cố gắng trình bày tất cả dữ kiện liên quan đến du trình thuyền nhân, nhưng tập hồ sơ nghiên cứu này không phải và không thể là một bộ sử hoàn bị bởi vì cuốn sách nhỏ này khó có thể trình bày một cách chi tiết kho tàng sử liệu khổng lồ về thuyền nhân trải dài toàn cầu và tình hình hiện tại không cho phép một học giả cẩn trọng có thể tự do thâu thập dữ kiện tại quốc nội cũng như phỏng vấn các nạn nhân vượt biên thất bại bị kẹt lại ở Việt Nam, và nếu thiếu lời khai của những nhân chứng sống này thì bộ sử liệu khó có thể bạch hóa nỗi trầm luân của họ cũng như khổ cảnh của những đồng bào bị Hà Nội xử tử hay đàn áp vì ý định vượt biên tầm tự do mà không qua mạng lưới buôn lậu lương dân của đảng Cộng Sản Việt Nam. Nguyên bản của tài liệu nghiên cứu này được phóng tác bằng Anh ngữ dựa trên các văn kiện do người viết thâu trữ hơn một thập niên vừa qua từ khi đọc bài '50 Vietnamese boat people killed by pirates, UN aide says' trên báo Boston Globe vào ngày 26-12-1985 trong thời gian nghỉ Tết với thân phụ ở Boston, Hoa Kỳ. Tuy vậy, tác trương Việt ngữ không phải là bản dịch rập khuôn của tài liệu Anh ngữ bởi vì được người viết cân nhắc thêm vào nhiều dữ kiện thực tế khác mà chỉ người Việt với kinh nghiệm đặc thù có thể thấu hiểu mặc dầu cơ quan truyền thông quốc tế không hề đề cập hay bàn luận đến. Thuyền Nhân: Ấn Tích Lịch Sử không thể hoàn tất kịp thời hạn nếu không có sự giúp đỡ quý báu của nhiều bằng hữu trên toàn thế giới. Người viết xin trân trọng tri ân Ký giả Bern McDougall ở Úc Ðại Lợi, anh Nguyễn Ngọc Liêm của Hội Thanh Niên Việt Nam Tị Nạn ở Ba Lê, bà Anne Frank - giám đốc Văn Khố Ðông Nam Á (Southeast Asian Archives) của University of California at Irvine, nhân viên Liên Hiệp Quốc ở Thụy Sĩ, đặc biệt là cô Anneliese Hollmann, cô Anne Kellner và Ertan Corlulu, cô Hồ H. Thanh Nguyên ở Ottawa, cô Nicole Nga Nguyễn - cựu chủ tịch Project Ngọc, và các bạn cũ - đặc biệt là các bằng hữu từng sinh hoạt trong phong trào thanh niên sinh viên ở Bắc Mỹ và Âu Châu vốn đã chia xẻ nhiều gánh nặng cũng như kinh nghiệm quý báu với người viết. Hàng cuối của đoạn này xin được dùng để sơ tạc sự đóng góp khả ái của Lý Ngọc Liễu Anh, người bạn song hành đã trợ giúp tư ý phê bình khách quan, sáng kiến đặc sắc cũng như những nụ cười thông cảm khi người viết dành quá nhiều thời giờ khan hiếm của gia đình cho tài liệu nghiên cứu này bởi vì mỗi trang sách đòi hỏi ít nhất từ ba đến năm tiếng đồng hồ đầu tư vào việc thu thập văn kiện, tham khảo, đối chiếu, thẩm định và thực hiện. Người Việt tị nạn không có ý định làm lịch sử nhưng du trình kinh hoàng, khác vọng tự do không mòn mỏi, nỗ lực phấn đấu vượt qua vô vàn thử thách khó khăn và sự thành công hiển vinh của khối đồng bào hải ngoại đã ghi khắc nhiều ấn tích sâu đậm trên lịch sử nhân loại. Trong tương lai, cộng đồng người Việt hải ngoại có lẽ vẫn phải tiếp tục phấn đấu để theo kịp sự tiến triển của xã hội và hoàn thành sứ mệnh trợ lực dân tộc vốn đang gặp nguy cơ bị lịch sử bỏ rơi vì đã đi ngược lại với trào lưu phát triển của nhân loại trong vòng một phần tư thế kỷ vừa qua. 'Có lẽ trời muốn trao cho gánh nặng, bắt trải qua bách chiết thiên ma, cho nên ta cố gắng gan bền, chấp hết cả nhất sinh thập tử.' (Nguyễn Trãi, Bình Ngô Ðại Cáo.) Trong tân thiên niên, lịch sử chắc chắn sẽ tiếp tục ghi khắc thêm nhiều ấn tích tuyệt mỹ của khối người tị nạn Việt Nam tại hải ngoại - những người đã dám bất kể cái chết để ra đi trốn thoát sự đàn áp của cộng sản nhằm tìm kiếm tự do dân chủ. Nhiều nạn nhân bất hạnh đã bị cướp của, cưỡng hiếp, bắt cóc, giết chóc và chết mất xác trên biển Ðông; những người khác may mắn hơn đến được bến bờ tự do để xây dựng tương lai thịnh vượng trong xã hội tự do bình đẳng do công lý quản thống. Thảm kịch tị nạn Việt Nam chỉ có thể chấm dứt nơi đâu tự do dân chủ minh trị.
Last edited by alamit; 21-02-2012 at 11:13 PM.
Reply With Quote - 21-02-2012, 10:54 PM #5 alamit
- View Profile
- View Forum Posts
Member Join Date 20-04-2011 Posts 5,771 Tội ác CS Việt nam: Thuyền nhân
Tội ác CS Việt nam: Thuyền nhân Thuyền Nhân: Ấn Tích Lịch Sử Tác giả: Dương Thành Lợi 2. Nguyên Nhân Ly Hương 'Thà chết ngoài biển còn hơn sống với cộng sản.' Câu nói mà nhiều đồng bào ở Việt Nam thường thì thầm với nhau sau năm 1975. Huyền thoại lịch sử minh định dân tộc Việt Nam là con cháu của Hùng Hiền Vương Lạc Long Quân và Hoàng Hậu Âu Cơ vốn thai sinh được 100 vương tử. 'Sau khi chia 15 bộ cho 15 con trai đầu lòng để giữ quyền trị dân ở các trọng trấn, vua Hùng Hiền Vương một hôm nói với Âu Cơ rằng: Ta vốn là con cháu thủy thần, nàng thuộc nòi tiên, nước lửa khắc nhau không thể kết hợp lâu dài được. Vậy xin chia tay để giữ lấy dòng giống. Nàng nên đem 50 con lên núi, ta đem con xuống bể.' [1] Quốc Mẫu Âu Cơ theo ý ngài và hướng dẫn 50 hoàng tử lên khai khẩn vùng rừng núi nước Việt. Hùng Hiền Vương đưa 50 hoàng tử còn lại di chuyển về hướng biển Ðông để dựng vương nghiệp Văn Lang nhằm 'giữ lấy dòng giống;' và nền tảng lịch sử thượng cổ của Việt Nam thay đổi hoàn toàn từ ân điển khai tạo đó. Năm ngàn năm sau, để tránh cơn hồng nạn ý thức hệ ngoại lai, gần một triệu người Việt vượt biển Ðông thành công và sau đó định cư khắp nơi trên thế giới; nền tảng lịch sử hiện đại của Việt Nam chuyển hóa hoàn toàn từ minh điểm khai phóng đó. Thuyền nhân [2] là người Việt tị nạn (I) trốn chạy sự đàn áp và chính sách tiêu diệt lối sống cũng như tư tưởng phi-cộng-sản của chính quyền Hà Nội, và (II) bất kể cái chết đã dùng thuyền, bè, ghe, tàu, xuồng, phao, v.v., để vượt biên sau ngày 30-4-1975. Từ khi chính quyền cộng sản Hà Nội áp đặt guồng máy kiểm soát trên toàn miền Nam, trong khoảng 2 triệu người Việt cố gắng vượt thoát khỏi gộng kềm công an trị, gần 800.000 thuyền nhân đến được bến bờ tự do. Trong thành phần thất bại có một số người 'đi chui' đã bị lừa và cuối cùng bị giam cầm, xử phạt, v.v., một số khác bị công an khu vực hay biên phòng bắn chết trong lúc cố gắng trốn bố ráp, và rất nhiều người bị hải tặc cướp của, hãm hiếp, giết hại, hoặc bị gió to sóng lớn của biển Ðông Hải hay vịnh Thái Lan chôn vùi dưới lòng bể. Vấn đề tị nạn không phải là một vấn đề mới mẻ đối với dân tộc Việt Nam, một dân tộc đối đầu triền miên với sự tàn nhẫn của chiến tranh - đặc biệt là chiến tranh ý thức hệ. Trước khi chính quyền Sài Gòn đầu hàng vào tháng 4-1975 trong sự bàng hoàng của nhiều người, Việt Nam có khoảng 10 triệu nạn nhân chiến tranh nhưng không ai 'vượt biên' hay trốn chạy khỏi nước. Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống quy hương cho nên không ưa thích thảm cảnh xa xứ với bất cứ lý do nào. 'Con người có Tổ, có Tông, Cái cây có cội, con sông có nguồn.' 'Nhà quê có họ, có hàng Có làng, có xóm, nhỡ nhàng có nhau.' Quê cha xứ tổ là biểu tượng cội nguồn của gia tộc, là nơi mà mồ mả cha ông an định và cần được chăm sóc thường xuyên. Những người phải xa nhà vì nghề nghiệp hay các lý do khác là kẻ bất hạnh và kém may mắn; vì thế cho nên việc ly hương là việc chẳng đặng đừng mà không ai mong muốn. Ngay trong giai đoạn thuộc Pháp, việc đi phu vào Nam hay sang Nam Vang để kiếm sống bị đánh giá như một đại nạn trong đời; và nhiều sách báo cũng như ca dao từng than thở về nỗi khổ cực xa nhà này. 'Nam Vang lên dễ khó về; Trai theo bạn biển, gái về tào kê.' Làn sóng tị nạn Việt Nam trước năm 1975 chỉ xoay quanh trong biên thùy quốc gia bởi vì người dân lúc đó còn có một khoảng trời tự do trong vòng đai bảo vệ của chính quyền Sài Gòn để tạm cư chờ ngày trở về nguyên quán sau khi quân đội cộng sản rút lui hoặc bị đánh bật khỏi vùng chiếm đóng. Sự sụp đổ bất ngờ của chính thể miền Nam vào tháng 4-1975 dẫn đến các thay đổi cơ bản trong xã hội kể cả hướng đi của làn sóng tị nạn Việt Nam. Bán đảo Ðông Dương không còn vùng đất tự do nào cho những người tị nạn cộng sản; và vì vậy cho nên họ không có sự lựa chọn nào ngoài định hướng vượt biên. Sau khi khống chế toàn miền Nam, guồng máy công an trị của Hà Nội thẳng tay tiêu diệt mọi vết tích và mầm móng tự do. Tất cả các thành phần phi cộng sản bị nghi kỵ và đối xử như kẻ thù; hàng triệu người từ thành phần trí thức, thương nhân, dân tộc thiểu số, quân nhân cán chính Việt Nam Cộng Hòa và gia đình của họ, v.v., trở thành tù nhân triền kiếp của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Hàng trăm ngàn người bị khép vào 'thành phần phản động' và bị giam cầm trong các trại tù khổng lồ được mệnh danh là trại cải tạo. Nền kinh tế thị trường của miền Nam bị xáo trộn, giới hạn rồi tiêu hủy bởi những vụ đánh tư sản, các trạm công an truy xét cấm giao dịch và một số chiến dịch đổi tiền, v.v., nhằm hợp pháp hóa vai trò của đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) trong âm mưu cưỡng chiếm tài sản nhân dân. Chủ trương đảng trị của Hà Nội dựa trên lý lịch ba đời hệ thống hóa sự kỳ thị của chính quyền đối với nhân dân, đặc biệt là gia đình 'ngụy quân, ngụy quyền,' 'tư sản mại bản,' 'tư sản dân tộc,' hay 'trí thức tiểu tư sản;' song song, tất cả những ai không dính dáng hay liên hệ đến vòng đai đảng quyền đều bị xem là thành phần không đáng tin cậy và bị kỳ thị trực tiếp hay gián tiếp. Ðối với những ai không còn chịu đựng nổi sự đàn áp của guồng máy công an trị để phải đi đến sự chọn lựa giữa đời sống nô lệ ý thức hệ và nỗ lực tìm tự do trong cái chết, họ quyết định vượt biên hay ly hương để trốn khỏi 'thiên đường cộng sản' mặc dầu phải đánh đổi cả mạng sống. Bị bắt buộc xa quê nhà là niềm bất hạnh, nhưng bị đàn áp xua đuổi ra khỏi quốc gia là một thảm trạng khó có thể tưởng tượng nổi. Có nhiều động lực phức tạp liên quan đến các lãnh vực quốc trị từ kinh tế, chính trị đến xã hội, tôn giáo đã đóng góp vào quyết định vượt biên, nhưng nguyên nhân chính đưa đến cuộc ly hương khổng lồ của người Việt trong một phần tư cuối của thế kỷ 20 là sự đàn áp và chính sách tiêu diệt sự tự do, lối sống cũng như tư tưởng phi-cộng-sản của chính quyền Hà Nội. Sự nhất quyết ra đi của thuyền nhân bất chấp cái chết chứng minh tinh thần phản kháng không chỉ chính sách chủ nghĩa xã hội mà còn luôn cả sự dã man của guồng máy bạo lực mà Hà Nội xử dụng để kềm chế nhân dân Việt Nam. Chính sách trục xuất nhân dân ra khỏi quốc gia của Hà Nội Sau ngày 30-4-1975, khi đối diện các kết quả thê thảm do chính sách ý thức hệ của Hà Nội đem đến, một vài nhân vật ngoại quốc thiên tả lý luận hời hợt rằng mặc dầu không có tự do nhưng người Việt được vui sống hòa bình trong một quốc gia thống nhất sau năm 1975. Sự thật hoàn toàn trái ngược với lập luận phiến diện đó bởi vì Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là một nhà tù khủng khiếp - nơi mà thành tựu duy nhất của Hà Nội là sự tàn phá tài nguyên quốc gia và di sản tác hại của chủ trương tiêu diệt tự do, tư tưởng cũng như lối sống phi-cộng-sản. Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hoàn toàn không có cảnh 'vui sống hòa bình' bởi vì người dân luôn luôn sợ hải quá khứ, lo âu cho tương lai và nghi kỵ mọi người chung quanh. Nhân dân Việt Nam thực sự là nạn nhân của chế độ cộng sản vốn không cho họ hưởng bất cứ quyền tự do gì ngoại trừ quyền quy phục và hy sinh cho các cuộc viễn chinh ý thức hệ. Tất cả các quyền tự do khác như tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do hội họp bất bạo động, v.v., đều bị Hà Nội tước đoạt. Những ý tưởng chính trị phi-cộng-sản bị cấm đoán, và bất cứ ai lên tiếng kêu gọi tự do dân chủ hóa guồng máy quốc trị sẽ bị tống giam trong các nhà tù cải tạo khổng lồ. Nhà ngoại giao Úc Bruce Grant và một nhóm ký giả đã kết luận sau khi nghiên cứu về du trình lịch sử của thuyền nhân vào cuối năm 1979: [3] 'Trong nhóm người Việt Nam, nguyên nhân ly hương vì duyên cớ chính trị rất rõ ràng .. Tuổi của người tị nạn từ miền Nam .. đa số dưới 35. Có rất nhiều phụ nữ và trẻ em. Một số thanh niên bảo rằng họ ly hương để tránh khỏi bị bắt đi bộ đội. Một số người bảo rằng họ là nạn nhân của sự đàn áp và áp bức chính trị; những người khác bảo rằng họ sợ sự ngược đãi tương tự. Sự sợ hãi những gì có thể xảy ra là một động lực mạnh đôi khi dẫn đến một vài hoàn cảnh quái dị.. Cảm giác xa cách với tân chính quyền cộng sản và cảm giác liên hệ gần gũi với chính quyền cũ xảy ra rất thường, và nhiều lần bị lẫn lộn với động lực kinh tế: niềm tin là đời sống của họ và con cháu rất ảm đạm. Sự sợ hãi phải 'đi cải tạo' hay phải 'đi kinh tế mới' cũng rất minh bạch.' [4] Trong một bản tường trình vào tháng 3-1979, văn phòng Phối Trí Viên Tác Vụ Tị Nạn Hoa Kỳ xác định rằng [5] 'đại đa số (thuyền nhân) đến bây giờ ra đi không phải do liên hệ trực tiếp với Hoa Kỳ, nhưng bởi vì họ muốn trốn chạy khỏi sự tàn phá của chiến tranh triền miên cũng như sự đàn áp và ngược đãi đến từ nỗ lực thay đổi xã hội..' của tân chính quyền cộng sản. [6] Dĩ nhiên là để bào chữa cho chính sách áp chế ý thức hệ tàn nhẫn, Hà Nội phải miệt thị thuyền nhân là những kẻ phản động không chịu đựng nổi các khó khăn kinh tế. Thay vì chấp nhận trách nhiệm bảo vệ và phát triển sự phúc lợi và công quyền của nhân dân, chính quyền cộng sản lại chọn lựa phương pháp phỉ báng thuyền nhân để ngụy biện cho guồng máy công an trị. Vào năm 1979 trong lúc trào lưu vượt biên lên cao nhất, bản tin Anh ngữ Vietnam Courier của Hà Nội trình làng một bài viết có đoạn hạ nhục khối người Việt tị nạn hải ngoại như sau: [7] 'Ðại đa số rời Việt Nam vì lý do kinh tế, không thể chịu đựng sự thiếu thốn và thất bại trong việc tìm kiếm một nghề nghiệp thích hợp.. Một số là cựu tội phạm chiến tranh, hay là thành viên của hệ thống phản cách mạng cảm thấy sắp bị phát hiện. Về trường hợp của thành phần trí thức, một vài nguyên nhân tồn tại hỗn hợp tùy mức độ. (Nhưng) Tất cả đều phải đối đầu với sự giảm sút tiêu chuẩn đời sống đáng kể.. Sự khó khăn (mà họ) cảm nhận để thích hợp với các giới hạn của một xã hội cách mạng.' [8] Hà Nội còn vu khống là một số đồng bào ra đi vì sự khuyến khích của 'các động lực đế quốc và phản cách mạng' ở Bắc Kinh và Hoa Thịnh Ðốn. [9] Một thời Hà Nội từng tố cáo là Bắc Kinh đem bỏ 100.000 công dân Trung Hoa trong hải phận Việt Nam để họ giả làm người tị nạn. Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch quả quyết rằng: 'Nhiều thuyền nhân tại các nước thuộc ASEAN sự thật đến từ Ðại Lục. Khoảng hơn 100.000. Họ (Bắc Kinh) rất khôn ngoan. Chúng tôi đã chận bắt một số tàu từ Ðại Lục di chuyển về hướng Ðông Nam Á.. nhiều người không nhận ra được việc này bởi vì người Hoa từ Ðại Lục giống như (những người Hoa) từ Việt Nam.' [10]Trong một lá thư gởi cho 'bằng hữu Tây phương,' giới trí thức của Hà Nội đã phỉ báng các thuyền nhân trốn khỏi chế độ xã hội chủ nghĩa; lá thư đó vô ý làm lộ ra sự thật là 'sự lạm quyền, lỗi lầm, vụng về thỉnh thoảng' xảy ra nhưng ngụy biện là các tệ nạn như vậy là 'những thay đổi cần thiết.' Mặc dầu bề ngoài thì chính quyền CHXHCNVN cố gắng núp sau các lý luận mang ác ý phỉ báng kể trên nhưng trong những cuộc họp mặt riêng với các phái đoàn quốc tế, quan chức Hà Nội hé lộ một chính sách thực tế hoàn toàn có tính cách chiến lược để đối đầu với nhân dân miền Nam: chính sách tống xuất khoảng hai đến ba triệu dân ra khỏi biên thùy quốc gia để đảng Cộng Sản có thể dễ dàng thực hiện các chương trình ý thức hệ nhằm Mát-xít hóa toàn quốc. Vào tháng 12-1978, một nhà ngoại giao của Hà Nội thố lộ là đồng bào miền Nam đã quen thuộc với đời sống tự do chính trị và kinh tế; và sau năm 1975, chính quyền cộng sản không thể thay đổi đường lối suy tư của họ và vì vậy cho nên mong là họ bỏ nước ra đi để tân chính phủ có thể bình định tình hình chính trị tại miền Nam. [11] Vào tháng 6-1979, Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch phát biểu là đa số dân tị nạn 'vốn người ở miền Nam, đặc biệt ra đi từ thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn). Vào năm 1975, chúng tôi (đảng Cộng Sản Việt Nam) ngăn cấm không cho họ ra đi. Chúng tôi bị phương Tây chỉ trích. Chúng tôi đã nghĩ lại. Chúng tôi quyết định cho họ quyền tự do ra đi. Bây giờ (phương Tây) lại nói là chúng tôi xuất cảng dân tị nạn...' [12] Trong hội nghị quốc tế về tị nạn Ðông Dương vào tháng 7-1979, Thứ Trưởng Ngoại Giao Phan Hiền đã cho phái đoàn Thụy Ðiển biết dự đoán của Hà Nội là khoảng 3 triệu người có thể phải rời khỏi guồng máy xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vào tháng 8-1979, trong cuộc phỏng vấn với ký giả của United Press International, Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch phỏng định số người phải ra đi 'tùy theo tình hình chính trị' tương tự như lượng định của Phan Hiền. [13] Cũng vào tháng đó trong buổi nói chuyện với Daniel K. Akaka, một thành viên thuộc phái đoàn Hạ Viện Hoa Kỳ do Dân Biểu Benjamin Rosenthal dẫn đầu viếng thăm Hà Nội 2 ngày, Nguyễn Cơ Thạch cho biết là khoảng 2 triệu người Việt có thể phải gia nhập làn sóng vượt biên. Trước thực trạng là khoảng 1.6 đến 2 triệu người đã cố gắng vượt thoát sự đàn áp của cộng sản, khoảng 800.000 thuyền nhân đến được bến bờ tự do, từ 80.000 đến 200.000 nạn nhân mất mạng trên đường vượt biên, và hơn 1 triệu thân nhân được khối người tị nạn hải ngoại bảo lãnh cùng số đồng bào ra đi theo diện ODP, chính sách trục xuất khoảng 2 đến 3 triệu người Việt bao gồm nhiều thành phần ra khỏi nước của Hà Nội hình như đã đạt được. [14] Bộ Trưởng Ngoại Giao Phi Luật Tân là Carlos Romulo đã so sánh chính sách trục xuất nhân dân của đảng Cộng Sản Việt Nam tương tự như chính sách cô lập hóa và hoả thiêu dân Do Thái của Ðức Quốc Xã. [15] Bộ Trưởng Ngoại Giao Tân Gia Ba Sinnathamby Rajaratnam phát biểu rằng kế hoạch buôn người bất nhân của Hà Nội là 'phương pháp của một thằng nghèo sử dụng biển cả thay vì tù ga (để giết người).' [16]Nếu sự ra đi của thuyền nhân chỉ vì 'lý do kinh tế' như Hà Nội miệt thị, bất cứ ai cũng có thể kết luận một cách an toàn là những người tị nạn sau khi định cư sẽ chỉ chú trọng đến vấn đề sinh kế và nhanh chóng quên đi tình hình chính trị tại Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế hoàn toàn trái ngược với lối suy đoán dựa theo lập luận của Hà Nội bởi vì thuyền nhân (i) tiếp tục trình bày với cộng đồng thế giới nỗi ưu tư của họ đối với tệ nạn vi phạm nhân quyền ở Việt Nam, và (ii) trung thành bảo vệ cũng như thường xuyên minh dương lá cờ vàng trong các cuộc hội họp như một biểu tượng cho khát vọng tự do của họ. [17] Bên ngoài vòng đai kiểm soát của chính quyền cộng sản Việt Nam không có một nơi nào là đất lành cho các phái đoàn của Hà Nội hoạt động. Cộng đồng thuyền nhân tích cực tổ chức nhiều cuộc biểu tình triền miên để lên án chính sách áp chế của đảng CSVN. Ðiển hình là khi 65 quốc gia nhóm họp tại Geneva vào ngày 20-7-1979 để tìm một giải pháp cho đại nạn thuyền nhân, cộng đồng tị nạn Việt Nam đã tạo được một tiếng vang trong cuộc biểu dương chính nghĩa quốc gia khiến phái đoàn Hà Nội do Thứ Trưởng Ngoại Giao Phan Hiền dẫn đầu trở nên lúng túng. Một biểu ngữ do hai thanh niên Việt Nam dương cao bằng tiếng Pháp xác định 'TOUT LE PEUPLE VIETNAMIEN CONTRE LA CLIQUE DE HANOI' (Toàn thể nhân dân Việt Nam chống lại bè lũ Hà Nội). Phái đoàn cộng sản tức tối phải yêu cầu cảnh sát địa phương năn nỉ những người tị nạn đang biểu tình đừng trưng biểu ngữ đó lên và đe dọa là sẽ không tham dự hội nghị quốc tế nếu phải đi vào hội trường khi tấm biểu ngữ này được dương cao trước hàng trăm ống kính quốc tế. Mười bảy năm sau, một vụ phản đối tương tự cũng đã xảy ra ở Gia Nã Ðại khi cộng đồng tị nạn Việt Nam dựng tượng 'Bà mẹ và đứa con tị nạn' tại thủ đô Ottawa vào ngày 22-8-1996 để 'tưởng niệm những đồng bào đã mất mạng trên đường đi tìm tự do.' Sứ quán Hà Nội yêu cầu chính quyền bản xứ ra lệnh cấm cản việc dựng tượng và đe dọa là nó sẽ tạo ra ảnh hưởng xấu cho quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia, nhưng Ottawa từ chối bởi vì là Gia Nã Ðại là một đất nước dân chủ cho nên quyền tự do ngôn luận của công dân phải được bảo vệ tuyệt đối. Trên toàn thế giới, bất cứ nơi nào lá cờ vàng tự do hiện hữu, [18] tất cả các hoạt động thiên Hà Nội đều bị giới hạn hay phản đối. Một trường hợp điển hình liên quan đến sự thành công của cộng đồng tị nạn Việt Nam trong nỗ lực kêu gọi sự quan tâm của thế giới đối với âm mưu của Hà Nộ dự định hành quyết hai vị lãnh tụ Phật giáo quan trọng là Thượng Tọa Tuệ Sĩ và Thượng Tọa Trí Siêu bởi vì quan điểm phi Mác-xít của họ. Chính quyền cộng sản Việt Nam phải chịu thua sự phản đối đồng loạt của cộng đồng quốc tế và giảm bản án của hai thầy từ tử hình xuống tù chung thân để rồi cuối cùng phóng thích hai thầy vào năm 1998. Trong một trường hợp cụ thể khác, vào giữa tháng 1-1999, một tiểu thương gia tên Trần Văn Trường treo cờ cộng sản và hình Hồ Chí Minh trong tiệm thuê phim Hitek của hắn tại khu Little Saigon ở Quận Cam, California. Theo tài liệu do một cộng sự viên của Trường - ông Hoàng Ngọc Sơn - cung cấp, ông chủ Hitek được lãnh sự quán của Hà Nội ở San Franscio hứa cho nửa triệu Mỹ kim để làm việc này. [19] Khi cộng đồng Việt Nam yêu cầu hắn tháo gỡ các biểu tượng phỉ bán chính nghĩa quốc gia, Trần Văn Trường vốn từng tự xưng là thượng đế không những từ chối mà còn thách thức phản ứng của cộng đồng. Chủ trương khiêu khích thiên Hà Nội của Trường dẫn đến các cuộc biểu tình hàng ngày trong khu vực tiệm thuê phim của hắn. Chiến dịch xuống đường chống Trần Văn Trường treo cờ cộng sản và hình Hồ đôi khi thu hút sự hưởng ứng của vài chục ngàn đồng bào tị nạn với một đặc điểm là thành phần thanh niên chiếm tỷ lệ rất cao trong đoàn người biểu tình. Bất cứ ai quan sát phản ứng của cộng đồng tị nạn Việt Nam đối với hiện tượng Trần Văn Trường thiên Hà Nội đều phải ngạc nhiên khi thấy cứ 4 đồng bào tại khu Little Saigon thì có một người đã xin nghỉ làm hay gác việc nhà để trực tiếp tham dự cuộc biểu tình, và những người không thể tham dự hay ở xa đã gọi vào các đài truyền thông Việt ngữ để bày tỏ quan điểm quốc gia cũng như phản đối hành động thân cộng của chủ tiệm HiTek. [20] Vào ngày 26-1-1999, Bộ Ngoại Giao Hà Nội đã chỉ trích nỗ lực dập tắt hiện tượng Trần Văn Trường thiên cộng sản của cộng đồng người Việt hải ngoại. Hà Nội tự dưng lại quan tâm đến vấn đề nhân quyền khi lên án hành động của cộng đồng tị nạn Việt Nam như 'một sự vi phạm nhân quyền thô bạo': [21] 'Phản ứng hung bạo của những kẻ cực đoan đối với Trần Văn Trường là một sự vi phạm nhân quyền thô bạo.. Các phản ứng vi phạm nhân quyền của người Việt hải ngoại tuyệt đối không mang lại lợi ích gì cho tiến trình phát triển quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Hành vi này cần phải được tố cáo và bác bỏ bởi hai nước và cộng đồng thế giới.' Hai ngày trước đó, sứ quán Hà Nội tại Hoa Thịnh Ðốn ra thông cáo 'quan tâm sâu sắc và cực lực phản đối những hành động bạo lực chống lại ông Trần Văn Trường và đòi rằng, quyền bày tỏ lòng tin cũng như cuộc sống của ông Trần Văn Trường phải được bảo vệ' [22] bởi luật pháp Hoa Kỳ. Bản thông báo đó cố ý tránh đề cập đến một sự thật khó chối bỏ: chính quyền cộng sản Việt Nam là một trong những chính thể vi phạm nhân quyền hàng đầu trên thế giới, và Hà Nội thẳng tay đàn áp bất cứ ai dám dương cao ngọn cờ vàng tự do để sử dụng quyền tự do ngôn luận tại Việt Nam. Vào năm 1992, một thanh niên tên Phạm Văn Quang đã hiên ngang trưng lá cờ vàng tại Sài Gòn trước nhiều ống kính quốc tế để kêu gọi thế giới lưu tâm đến chính sách áp chế của Hà Nội; anh đã bị công an bắt tại chỗ, đánh đập tàn nhẫn và sau đó bị kết án 15 năm tù bởi vì anh dám xử dụng quyền tự do ngôn luận trong một guồng máy chính trị không tôn trọng nhân quyền. Song song với các cuộc biểu tình triền miên, cộng đồng thuyền nhân cũng rất tích cực trong nỗ lực chuyển về Việt Nam tin tức chính xác về sự sụp đổ của các chế độ Mát-xít Ðông Âu. Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã và đang đầu tư vào sự ngu dốt cũng như lý tưởng huyền hoặc nhằm có thể tiếp tục nắm giữ vai trò độc quyền chính trị, nhưng sự hiểu biết cũng như ý thức thực tiễn sẽ khai phóng dân tộc và đem lại những thay đổi căn bản cho quốc gia. Dựa trên quan niệm chiến lược này, cộng đồng tị nạn hải ngoại đã tiến hành chiến dịch chuyển tin về Việt Nam qua hệ thống bưu chính cũng như điện thư; hàng chục ngàn mẫu tin về cao trào tự do dân chủ trên toàn thế giới đã được gởi đến các địa chỉ cá nhân cũng như công sở của chính quyền Hà Nội nhằm công khai hóa nhiều sự thật vốn bị chế độ bưng bít vì nhu cầu độc tồn.Hệ thống mạng lưới điện toán hoàn vũ Internet cũng được cộng đồng thuyền nhân khai thác triệt để nhằm minh danh nguyên nhân ly hương của khối người tị nạn Việt Nam cũng như tích cực tranh đấu cho nhân quyền của đồng bào tại quê hương. Nỗ lực tích cực của thuyền nhân nhằm lên án các vi phạm nhân quyền của Hà Nội và sự thành công rực rỡ của họ tại các quốc gia dân chủ sau này phản ảnh khát vọng tự do của họ vốn là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc vạn hải lý tầm tự do vĩ đại của người Việt trong phần tư cuối của thế kỷ 20. Thuyền nhân (I) tiếp tục trình bày với cộng đồng thế giới nỗi ưu tư của họ đối với tệ nạn vi phạm nhân quyền ở Việt Nam, và (II) trung thành bảo vệ cũng như thường xuyên minh dương lá cờ vàng trong các cuộc hội họp như một biểu tượng cho khát vọng tự do của họ. Nguyên Nhân Ly Hương của Thuyền Nhân Việt Nam Thuyền nhân âm thầm lên ghe ra khơi trong đêm tối mịt mù như tương lai của họ để trốn khỏi vòng đai kiểm soát ý thức hệ tàn bạo đến từ chính sách đàn áp xã hội, kinh tế và chính trị của đảng Cộng Sản Việt Nam. Nguyên nhân chính đưa đến cuộc Vạn Hải Lý Tầm Tự Do [23]mang tầm vóc lịch sử của nhân dân Việt Nam là chính sách công an trị của Hà Nội dã man tiêu diệt sự tự do cũng như tất cả các phương tiện sinh kế và lý tưởng phi cộng sản. [24] Trào lưu vượt biên hàng loạt toàn quốc vì bị đàn áp hay lo sợ bất an [25] phản ảnh ý muốn phủ nhận không chỉ chính sách đàn áp ý thức hệ của Hà Nội mà còn luôn cả phương pháp cực đoan tàn nhẫn do đảng CSVN sử dụng để đối phó nhân dân Việt Nam. Ðịnh nghĩa 'người tị nạn' được xác định qua hai văn kiện Công Ước liên quan đến Tư Cách Tị Nạn năm 1951 (1951 UN Convention relating to the Status of Refugees) và Hiệp Ðịnh Thư liên quan đến Tư Cách Tị Nạn năm 1967 (1967 UN Protocol relating to the Status of Refugees) như sau: Người tị nạn '.. mang mối lo sợ có căn cứ là sẽ bị đàn áp vì lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, tư cách thành viên trong một tổ chức xã hội cá biệt hay vì tư ý chính trị, đang ở ngoài quốc gia nguyên quán và không thể hoặc, vì mối lo sợ kể trên, không muốn chấp nhận sự bảo vệ của quốc gia đó, hay là một người, không có quốc tịch và đang ở ngoài đất nước định cư lúc trước, không thể hoặc, vì mối lo sợ kể trên, không muốn trở về đó..' [26] Ðịnh nghĩa này đưa ra bốn yếu tố cần phải thẩm định về tư cách tị nạn của người thỉnh cầu sự bảo vệ của cộng đồng quốc tế: (1) người thỉnh cầu phải ở ngoài biên thùy quốc gia nguyên quán, và (2) không thể hoặc không muốn trở về cũng như không thể hoặc không chấp nhận sự bảo vệ của chính quyền nguyên quán (3) bởi vì mối lo sợ bị đàn áp có căn cứ, và (4) sự đàn áp đó dựa trên 'lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, tư cách thành viên trong một tổ chức xã hội cá biệt hay vì tư ý chính trị.' Vì vậy nguyên nhân ly hương tầm an có thể vì 'lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, tư cách thành viên trong một tổ chức xã hội cá biệt hay vì tư ý chính trị' cho nên không phải thuyền nhân vượt biên nào cũng phải là dân tị nạn chính trị như nhiều quan sát viên hiểu lầm. Ðồng bào trốn thoát khỏi chế độ công an trị có thể là vì sách lược ý thức hệ hay chính trị của Hà Nội đàn áp dã man các sinh hoạt tôn giáo hay lý tưởng phi cộng sản của họ, ngược đãi họ vì chủ trương kỳ thị lý lịch quá khứ hay chủng tộc, v.v. [27]
Last edited by alamit; 21-02-2012 at 11:14 PM.
Reply With Quote - 21-02-2012, 11:01 PM #6 alamit
- View Profile
- View Forum Posts
Member Join Date 20-04-2011 Posts 5,771 Tội ác CS Việt nam: Thuyền nhân
Tội ác CS Việt nam: Thuyền nhân Thuyền Nhân: Ấn Tích Lịch Sử Tác giả: Dương Thành Lợi 2. Nguyên Nhân Ly Hương Một số thuyền nhân thường trả lời rằng 'Ðời sống khổ quá' khi được người ngoại quốc hỏi về lý do rời khỏi CHXHCNVN. Người đặt câu hỏi có thể hiểu lầm rằng câu trả lời chỉ chứa đựng yếu tố kinh tế nhưng thực chất là bao gồm nhiều khía cạnh rất phức tạp đến từ hậu quả tác hại của chính sách đàn áp tôn giáo, chèn ép và quấy nhiễu kinh tế, khống chế ý thức hệ, cô lập hóa và ngược đãi nạn nhân thiên tự do, v.v., của chế độ độc tài chuyên chế Hà Nội. 'Ðời sống khổ quá' bởi vì đảng Cộng Sản Việt Nam tích cực kỳ thị và tìm đủ mọi cách để tiêu diệt các thành phần xã hội có tư tưởng và đường lối sinh hoạt tự do phi Mác-xít dựa trên căn bản 'tôn giáo (Phật tử, Giáo dân, v.v.), chủng tộc (Hoa kiều, dân thiểu số, v.v.), quốc tịch, tư cách thành viên trong một tổ chức xã hội cá biệt (trí thức, thương nhân, v.v.) hay tư ý chính trị (gia đình ngụy quân và ngụy quyền, thành phần tranh đấu cho tự do dân chủ, v.v.).' [28] Chính Bộ Trưởng Ngoại Giao của Hà Nội là Nguyễn Cơ Thạch còn phải xác nhận bản chất chính trị của cuộc Vạn Hải Lý Tầm Tự Do của thuyền nhân trong buổi nói chuyện với ký giả thuộc tổ chức United Press International vào tháng 8-1989; Nguyễn Cơ Thạch tiết lộ là, theo dự đoán của Hà Nội, khoảng 3 triệu người Việt Nam có thể trốn chạy khỏi CHXHCNVN 'tùy theo tình hình chính trị' ('depending on the political situation.') [29] Một trong các lãnh vực minh định nguyên nhân ly hương của thuyền nhân rõ ràng nhất là lãnh vực văn hóa của cộng đồng người Việt hải ngoại. Trước khi cuộc Vạn Hải Lý Tầm Tự Do vĩ đại xảy ra, văn chương hải ngoại có xu hướng xoay quanh các chủ đề hoài hương và mặc cảm tủi hổ trong tự do. Quá khứ trở nên quan trọng, và đời sống tị nạn bị đồng hóa với chuỗi ngày lưu đày tràn đầy niềm hối hận và lo lắng cho thân nhân còn bị kẹt lại sau bức tường sắt cộng sản. Sự hiện diện của thuyền nhân tại đệ tam quốc gia thay đổi hoàn toàn nền tảng văn chương hải ngoại. Thực tại và tương lai bắt đầu trở thành định hướng sáng tác cho nhiều tác giả. Hậu quả di hại của chính sách cộng sản hóa tàn nhẫn tại Việt Nam được trình bày với các kinh nghiệm thực tế sống động. Văn chương hải ngoại chuyển hướng để đưa ra viễn ảnh lạc quan về tương lai thịnh vượng trong một xã hội tự do bình đẳng do công lý minh trị song song với niềm cảm kích sâu xa đối với lòng nhân đạo của nhân dân đệ tam quốc gia. Văn chương phản kháng chịu ảnh hưởng của thuyền nhân được bảo bọc bởi viễn ảnh lạc quan về tương lai đã thay thế văn chương tủi hận của quá khứ để hoàn thành trọng trách minh bạch hóa thực trạng thảm khốc tại CHXHCNVN cũng như cảm tạ xã hội mới đã cung cấp cho người Việt tị nạn nơi nương thân an toàn và tự do. Chính nỗ lực quyết tâm vạch trần chánh sách đàn áp ý thức hệ cộng sản của cộng đồng tị nạn Việt Nam hải ngoại đã giúp thay đổi quan điểm của nhiều thành phần phản chiến trước đây. Ðiển hình là vào tháng 5-1979, Joan Baez và 83 bằng hữu đã cho phổ biến 'Open letter to the Socialist Republic of Vietnam' (Minh thư cho Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam) để lên án chủ trương tiêu diệt quyền làm người của chính quyền Hà Nội: 'Hàng ngàn người Việt Nam trong đó có nhiều người chỉ vì phổ biến tiếng nói lương tâm, đã bị bắt, giam cầm và tra tấn trong tù cũng như các trại cải tạo.. Chính quyền của các ông tạo ra một ác mộng đau khổ che lấp sự phát triển đã đạt được trong nhiều lãnh vực của xã hội Việt Nam.' [30] Lịch sử nhân loại chắc chắn sẽ tiếp tục ghi nhận thêm nhiều ấn tích tuyệt mỹ của thuyền nhân Việt Nam - những người đã dám bất kể cái chết để ra đi trốn chạy sự đàn áp của cộng sản nhằm tìm kiếm tự do dân chủ. Nhiều nạn nhân bất hạnh đã bị cướp của, cưỡng hiếp, bắt cóc, giết chóc và chết mất xác trên biển Ðông; những người khác may mắn hơn đến được bến bờ tự do của đệ tam quốc gia. Thảm kịch tị nạn Việt Nam chỉ có thể chấm dứt nơi đâu tự do và dân chủ minh trị. ------------------------------------ Chú Thích 1. Phạm Văn Sơn, Việt-Sử Tân Biên: Thượng cổ và Trung cổ, Quyển 1, Saigon 1954, t.85-88. 2. Danh từ 'thuyền nhân' được dịch từ danh từ Anh ngữ 'the boat people' vốn xuất hiện tiên trên tờ báo New York Times bởi ngòi bút của ký giả Henry Kammtrong các bài tường thuật về người Việt Nam tị nạn cộng sản sau năm 1975. Mặc dầu thế giới cũng có nhiều thành phần tị nạn dùng ghe, thuyền, v.v., để vượt biển tìm tự do và họ cũng từng được gọi là 'the boat people,' nhưng dần dần danh từ 'the boat people' trở thành đặc ngữ dành riêng cho dân Việt Nam tị nạn cộng sản trong một phần tư cuối thế kỷ 20 bởi vì du trình đầy thử thách của họ đã ghi khắc lại nhiều ấn tích vĩ đại đầy màu sắc huyền thoại trong lịch sử nhân loại. 3. Bruce Grant, The Boat People: An Age Investigation, Penguin Books, Middlesex, England 1979, at p.99. 4.Among the Vietnamese, a strong political motivation to leave their homeland was often clear..Age of the boat refugees from the south ranged widely, but most were under thirty-five. There were many women and children. Some young men said they left to avoid conscription. Some people said they were victims of politically inspired harassment and persecution; others said they feared such treatment. Fear of what might happen was a potent factor, sometimes taking grotesque forms.. A feeling of alienation from the new communist administration and identity with the old regime was common, often mixed with an economic motivation: a conviction that their livelihood was bleak for themselves and for their children. Fear of ‘re-education’ or of being sent to a ‘new economic zone’ were also pervasive.’ 5. World Refugee Assessment 1979,’ Office of the U.S. Coordinator for Refugee Affairs, 14 March 1979. 6. (The) ‘overwhelming majority (of the boat people) arriving now are leaving not because of past direct ties with the United States, but because they wish to escape the ravages of continuing armed conflict as well as persecution and maltreatment stemming from the general restructuring of society..’ (imposed by the new communist regime). 7. Cũng chính khối người Việt tị nạn bị đàn áp và phỉ bán này đã thành công vượt bực tại hải ngoại cho nên sau đó chính quyền Hà Nội lại ve vảng kêu gọi họ trở về giúp đảng tái xây dựng đất nước. 8. The great majority have left Vietnam for economic reasons, unable to bear the privations and having failed to find occupations to their liking.. Some are former war criminals, or are members of counter-revolutionary networks who feel they are about to be discovered. In the case of the intellectuals, there are various factors which combine in varying degrees. All having experienced a serious drop in their standard of living.. The difficulty (they) feel to adapt (themselves) to the constraints of a revolutionary society.’ 9. Liên Sô đã nhanh chóng xướng họa với Hà Nội trong nổ lực bôi bẩn nguyên nhân ly hương của thuyền nhân Việt Nam. Ðài Moscow từng mô tả thuyền nhân như 'thành phần phản động suy bại và tội đồ' ('subversive degenerates and criminals'). 10. Many of the boat people in ASEAN countries were actually from China. More than 100,000. They (Beijing) are very clever. We have arrested some of ships from China going to Southeast Asia.. many people do not realize this because the Chinese from China are the same as from Vietnam.’ 11. Document No. 2-22 entitled ‘Vietnam’s Refugee Machine,’ Department of State, Washington, D.C. (July 20, 1979). Chính sách bình định tình hình chính trị của đảng CSVN còn bao gồm kế hoạch thuyên chuyển 10 triệu nhân dân miền Bắc vào Nam nhằm phân tán tư tưởng thiên tự do của 25 triệu đồng bào từng sống trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Song song, Hà Nội còn đuổi 1.4 triệu dân miền Nam về quê hay đi kinh tế mới trong năm 1976; 700.000 dân cựu thủ đô miền Nam, trong đó có rất nhiều gia đình 'ngụy quân, ngụy quyền,' đã phải từ giã Sài Gòn để ra đi. 12. Most refugees ‘are from the south, from Ho Chi Minh City in particular. In 1975, we forbade them to go out. We were criticized by the west. We thought it over. We decided to give them the freedom to go. Now (the west) say we are exporting refugees. So now we say that they must ask to go. And we will allow them to go (under the ODP).’ Asiaweek, 15June1979. 13. UPI report. Quoted in Barry Wain’s ‘The Refused: The Agony of the Indochina Refugees,’ Simon and Schuster, New York, 1981, at p.231. 14. Ðảng Cộng Sản Cuba nhanh chóng cóp nhặt và áp dụng chính sách tống xuất lương dân ra khỏi quốc gia của Hà Nội. Vào tháng 5-1980, Castro mở hải cảng Mariel để tống xuất 'thành phần phản động' ra khỏi nước; trong vòng 72 giờ, 125.000 người vội vã từ bỏ thiên đàn cộng sản. Ðảng Cộng Sản Cuba đã không quên cho 25.000 tội nhân hình sự trà trộn vào số người này với hy vọng chúng có thể gây thêm tội ác trên đất Mỹ nhằm phá nát cộng đồng tị nạn ở Miami, Florida. 15. ‘Another form of inhumanity, equal in scope and similarly heinous’ to the holocaust.' 16. ‘A poor man’s alternative to the gas chambers is the open sea.’ 17. Một cuộc thăm dò dư luận của cơ quan Institute for Asian Studies vào năm 1988 về những động cơ khiến dân tị nạn Việt Nam phải rời bỏ quê hương ('Motives for Migration from Homeland') cho thấy 55% đồng bào ra đi vì hoàn cảnh chính trị ('Political situation'), 2% vì sợ bị giết hại ('Afraid of being killed'), 6% vì nạn đói ('Famine'), 20% vì muốn định cư ở phương Tây ('Resettlement in West'), và 17% vì các lý do khác. Cited in Jeremy Hein, From Vietnam, Laos, and Cambodia: A Refugee Experience in the United States, Twayne Publishers, New York 1995, at p.37. 18. Vào tháng 11-1998, 23 năm sau khi Sài Gòn bị quân chính quy Hà Nội chiếm, cộng đồng người Việt hải ngoại đã tổ chức nhiều cuộc diễn hành lớn khắp nơi trên thế giởi để kỷ niệm 50 năm ngày khai sinh lá quốc kỳ Việt Nam tự do. 19. Ông Hoàng Ngọc Sơn vốn là một cộng sự viên của Trần Trường đã tiết lộ bí mật này trong tài liệu dài 22 trang được công bố với báo giới trong đó có tờ Los Angeles Times và sở cảnh sát thành phố Westminter. 20. Người viết có mặt tại hiện trường trong những ngày cao điểm để tham gia chiến dịch 'Hạ cờ địch, Dựng cờ quốc gia.' Sự quyết tâm của tất cả đồng bào trong nỗ lực dập tắt hiện tượng thiên Hà Nội cũng như sự đoàn kết hợp nhất của hai tổ chức người Việt tại Nam California đã góp phần rất lớn trong việc vinh danh chính nghĩa quốc gia của cộng đồng tị nạn Việt Nam. 21. Báo Nhân Dân, 27-1-1999. 22. Báo Nhân Dân, 25-1-1999. 23. Vượt hàng ngàn cây số đường biển đi tìm tự do. 24. Chính sách của Hà Nội cũng đã đưa đến tình trạng ly hương của dân tộc Lào và Cam Bốt. 25. Nhân dân Việt Nam luôn luôn cảm thấy bất an và lo sợ đủ điều trong xã hội công an trị của Hà Nội. Chính đảng Cộng Sản cũng nhận thức được sự kiện này cho nên đang cố gắng tạo cảm giác an toàn cho Việt kiều để thu hút họ trở về viếng thăm gia đình nhằm giúp cho Hà Nội thâu thêm ngoại tệ; khi nào không khí an toàn cá nhân này bị suy sút thì số lượng người 'thăm quê hương' cũng giảm đi. Tình trạng phản ứng hỗ tương này giúp minh xác lý do ra đi của thuyền nhân Việt Nam: đa số ly hương do bị Hà Nội trực tiếp hay gián tiếp đàn áp bằng thể xác hay tinh thần đến mức không thể tồn tại trong niềm lo sợ bất an triền miên. Vì nỗi niềm nhớ nhà và nhu cầu trợ giúp thân nhân, một thiểu số chấp nhận viếng thăm quê hương tạm thời với điều kiện là chính quyền phải bảo đảm sẽ không đàn áp họ như đã làm trong quá khứ, nhưng họ không bao giờ tính chuyện hồi hương vĩnh viễn. Và đa số đồng bào hải ngoại chỉ chịu trở về sinh sống tại Việt Nam trong điều kiện duy nhất là sự an ninh và tự do của họ cũng như gia đình không bị chính quyền xâm phạm, tức là Việt Nam phải được tự do và dân chủ hóa. 26. A refugee is anyone who ‘.. owing to a well-founded fear of being persecuted for reasons of race, religion, nationality, membership of a particular social group or political opinion, is outside the country of his nationality and is unable or, owing to such fear, is unwilling to avail himself to the protection of that country, or who, not having a nationality and being outside the country of his former habitual residence is unable or, owing to such fear, is unwilling to return to it..’ Collection of International Instruments Concerning Refugees (1979), p.10 & p.40, Article 1A(2) of the 1951 UN Convention relating to the Status of Refugees, as amended by Article 1(2) of the 1967 UN Protocol relating to the Status of Refugees. 27. Do đó cộng đồng người Việt hải ngoại bao gồm không những thành phần tị nạn chính trị mà còn cả dân tị nạn vì lý do tôn giáo, vì lý do chủng tộc, vì lý do thuộc thành phần mà đảng CSVN chủ trương tiêu diệt như giáo dân, phật tử, thương gia hay trí thức. Ðiển hình là tại miền Bắc trước năm 1975, đảng CSVN triệt để đàn áp bất cứ gia đình nào có thân nhân vượt tuyến vào Nam (tương tự như chính sách đối với gia đình 'ngụy quân, ngụy quyền' miền Nam được thực hiện sau năm 1975); trừ một vài trường hợp bị lợi dụng cho mục đích tuyên truyền, con cháu của các gia đình này không bao giờ được phép vào đại học hay gia nhập đảng cũng như đừng bao giờ mong được thăng tiến trong công sở. Dựa vào công pháp quốc tế, các đồng bào này chắc chắn phải được hưởng quy chế tị nạn mặc dầu họ không phải là thành phần hoạt động chính trị. (Người viết đã biện minh thành công cho nhiều trường hợp tương tự liên quan đến lãnh tụ tôn giáo, thành phần bị kỳ thị lý lịch [con ngụy quân] hay bọn 'phản cách mạng' [cán bộ đào tẩu], v.v., trước Hội Ðồng Thẩm Xét Tị Nạn Gia Nã Ðại). 28. 'Người tị nạn' là người '.. mang mối lo sợ có căn cứ là sẽ bị đàn áp vì lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, tư cách thành viên trong một tổ chức xã hội cá biệt hay tư ý chính trị..' (1951 UN Convention relating to the Status of Refugees, 1967 UN Protocol relating to the Status of Refugees). 29. UPI report, Supra. 30. ‘Thousands of innocent Vietnamese, many whose only crimes are those of conscience, are being arrested, detained and tortured in prisons and re-education camps.. Your government has created a painful nightmare that overshadows significant progress achieved in many areas of Vietnam society.’
Last edited by alamit; 21-02-2012 at 11:15 PM.
Reply With Quote - 21-02-2012, 11:04 PM #7 alamit
- View Profile
- View Forum Posts
Member Join Date 20-04-2011 Posts 5,771 Tội ác CS Việt nam: Thuyền nhân
Tội ác CS Việt nam: Thuyền nhân Thuyền Nhân: Ấn Tích Lịch Sử Tác giả: Dương Thành Lợi 3. Hải Trình Thảm Khốc 'Có lẽ trời muốn trao cho gánh nặng, Bắt trải qua bách-chiết thiên-ma.' Nguyễn Trãi (1418) Hình ảnh một chiếc thuyền nhỏ chở đầy người tị nạn bất kể cái chết ra đi tìm tự do đang lênh đênh trên mặt biển mêng mông vô tận tạo ra nhiều ấn tượng khó diễn tả từ can đảm phi thường đến lãng mạn huyền ảo. Cuộc hải trình của thuyền nhân Việt Nam thực sự là một cuộc phiêu lưu mạo hiểm đậm mầu sắc siêu tưởng và đầy thiên tai kinh hãi cũng như thảm trạng nhân tạo. Mặc dầu không biết tương lai mịt mù sẽ đưa họ về đâu, thuyền nhân nhất quyết vượt khỏi vòng đai kiểm soát của chính quyền cộng sản Hà Nội bất kể các thử thách tàn khốc của biển cả. Phải chọn lựa giữa tự do và nô lệ ý thức hệ, thuyền nhân chỉ còn một cách để từ bỏ thiên đường cộng sản: vượt biên ra đi tìm tự do bất kể các hiểm nguy mất mạng. Quyền tự do đi lại của nhân dân Việt Nam bị luật di trú và hình sự của Hà Nội thủ tiêu cho nên họ phải bí mật tổ chức 'đi chui' tìm tự do bất kể các hiểm họa trên cạn cũng như ngoài bể cả. Khi chính quyền Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ vào ngày 30-4-1975, khoảng 130.000 người Việt may mắn thoát đi trước khi quân đội Bắc Việt tiến chiếm Sài Gòn. Trong số đó, ngoại trừ 25.000 người được trực tiếp đưa thẳng đến các các khu tạm trú của Hoa Kỳ và một số quốc gia tự do, đa số được di tản đến các tàu đang chờ đợi đón tiếp tị nạn Việt Nam trước ngày 1-5-1975; một dữ kiện đáng ghi nhận là hơn 30.000 đồng bào đã dùng ghe, thuyền, bè và ngay cả tàu Hải Quân để ra đi. (1) Trong những ngày sau đó, khoảng 3.000 người đã đến Tân Gia Ba bằng thuyền, 700 người đến Pusan trên hai chiếc tàu Nam Hàn, và 3.743 đồng bào khác được tàu Clara Maersk của Ðan Mạch cứu và đưa đến Hồng Kông. Trong khi một nhóm tị nạn bằng ghe khác gồm 823 người được hai tàu Ðài Loan vớt, khoảng 30.000 người Việt đã đến vịnh Subic của Phi Luật Tân trên 26 chiến hạm Hải Quân miền Nam. (2) Sự ra đi của người Việt tị nạn tiếp tục trong nhiều năm sau đó khi đảng Cộng Sản Việt Nam sử dụng bạo lực để trả thù và Mát-xít hóa miền Nam. Tài liệu của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (CUTNLHQ) cho biết khoảng 378 người đã đến được bến bờ tự do từ tháng 5 đến tháng 12-1975; và số lượng đó tăng lên đến 5.569 người vào năm 1976 và 17.126 người vào năm 1977. Số thuyền nhân ra đi tiếp tục gia tăng đến 87.164 người vào năm 1978 và đạt cao điểm 201.189 người vào năm 1979. Giai đoạn 12 tháng từ giữa năm 1978 đến tháng 7-1979 cũng là thời điểm của chiến dịch buôn lậu lương dân của Hà Nội. Khi bị cả thế giới cực lực lên án, Hà Nội đình chỉ chiến dịch vượt biên 'bán chính thức' này vào tháng 7-1979 - một vài ngày trước hội nghị quốc tế về Tị Nạn Ðông Dương I. Sau mốc thời gian đó, nỗ lực vượt thoát của thuyền nhân vẫn không chấm dứt bất kể hiểm họa mất mạng vì dông tố hay hải tặc. Ðến cuối thế kỷ 20, khoảng 1.6 đến 2 triệu đồng bào đã cố gắng trốn khỏi CHXHCN Việt Nam, (3) và trên ba phần tư triệu người hay 1% dân số Việt Nam vượt biên thành công và được tái định cư tại nhiều quốc gia khắp năm châu. (4) Chúng ta cũng đừng bao giờ quên là ít nhất 10% đến 20% tổng số người ra đi hay khoảng 80.000 đến 200.000 nạn nhân đã bỏ mình tại biển Ðông trên đường tìm tự do. (5) Khó Khăn Sơ KhởI Trước khi đặt chân lên ghe, thuyền nhân phải bí mật liên lạc với nhau để sắp xếp cuộc vượt biên. Người có trách nhiệm tổ chức chuyến đi phải bí mật tậu cũng như tân trang ghe, mua máy mới, giấy tờ giả để che mắt công an, và các dụng cụ đi biển như hải bàn, bản đồ, v.v. Ai ở Sài Gòn vào cuối thập niên 1970 đều biết hải bàn cũng như giấy tờ lậu là các món đồ chợ đen đắt giá lúc đó. Song song, việc tìm kiếm thuyền trưởng cho các ghe vượt biên cũng không phải dễ bởi vì đa số sĩ quan hải quân của miền Nam còn nằm trong trại cải tạo; một số nào đó trốn tránh cải tạo thì cũng không dám công khai lộ diện để người ngoài nhận biết, và một số ít ra tù cải tạo lại được thương gia Tàu Chợ Lớn mua chuộc vào mạng lưới buôn lậu lương dân của Hà Nội (xin xem Chương III). (6) Ngay cả khi vấn đề nhân sự cũng như trang bị tiếp liệu cho chuyến đi được giải quyết thỏa đáng, thuyền nhân còn phải kiếm bãi biển an toàn để đưa người xuống ghe; thuyền nhân càng sống xa cửa biển bao nhiêu, vấn đề này càng khó khăn bấy nhiêu. Nhiều vụ vượt biên 'bể' khi bãi bị lộ, và người ra đi phải bỏ tất cả để chạy trốn sự lùng bắt của công an. Trong trường hợp của ông Nguyễn Tấn Chung hiện đang ở Toronto, ông phải nhảy rào và vượt qua bãi xương rồng bằng chân không khi cuộc vượt biên của nhóm ông bị lộ; sau này ông Chung phải dùng dao nhỏ để cắt da lấy hàng trăm mũi gai xương rồng ra khỏi lòng hai bàn chân. Trong một trường hợp khác, anh Nguyễn Ðịnh Lâm đã bị công an bắn chết tại Bến Tre vào ngày 4-4-1979 vì 'vượt biên trái phép.' Ðể bảo đảm sự an toàn của người xuống ghe, ban tổ chức thường mua bãi (hối lộ công an địa phương) hay sắp xếp để đưa người ra đi theo từng nhóm nhỏ. Khi tổ chức cuộc vượt biên trên ghe số 27 đến trại Songkhla vào ngày 12-2-1980, ông Nguyễn Tấn Phúc nguyên là lính người nhái đã cho người xuống bốn ghe nhỏ tại làng Phong Mỹ, Cao Lãnh vào ngày 25-1-1980. Sau đó bốn chiếc ghe di chuyển nhiều ngày trên các con kênh lớn để đến cửa biển Rạch Sõi; tại đây ông dùng giấy tờ giả dân đi lấy cũi để qua khỏi trạm kiểm soát của công an biên phòng và đưa ghe ra biển. Sau nhiều lần bị cướp Thái Lan bóc lột và hành hạ dã man, 27 người trên ghe của ông Phúc đã được Tàu Akuna (7) của một tổ chức gọi là Food For The Hungry International cứu vớt trước khi bị sóng biển dìm chết. Vấn đề tổ chức vượt biên không phải dễ cho nên ít ai ngạc nhiên khi thấy nhiều người đã bị bắt giam. Nhiều người khác bị mất cả gia tài vì bị lừa bởi các tổ chức vượt biên giả cũng như công an vốn thường nhận tiền hối lộ nhưng dễ phản phúc đối với dân vượt biên để trấn lột thêm vàng. Vào tháng 5-1987, Tàu Cap Anamur với sự tài trợ của tổ chức Komitee Cap Anamur và hội Y Sĩ Thế Giới cũng như cộng đồng Việt Nam hải ngoại đã kịp thời cứu vớt một ghe vượt biên đang bị tàu công an biên phòng rượt bắt. Một thuyền nhân bị công an bắn chết và 170 người may mắn còn lại đã được đưa vào trại tị nạn Palawan ở Phi Luật Tân. Trong trường hợp của ông Phan Văn Thiệu, ghe của ông rời Cà Mau trong đêm 17-1-1979 đã bị công an bắn ba lần nhưng may mắn không ai bị trúng đạn. Sau khi bị hải tặc Thái Lan cướp vài lần, ghe của ông Thiệu cuối cùng đến được Kora Bahru, Mã Lai, vào ngày 22-4-1979. Trong vụ khác xảy ra vào ngày 7-5-1983, một ghe rời khỏi cầu chữ Y an toàn sau khi đón người dưới sự che chở của công an phường 13, quận 5. Nhưng khi vào khúc sông thuộc phường 14, nhóm công an địa phương không được chia tiền hối lộ đã xả đạn bắn vào ghe bất kể tiếng kêu la thảm thiết của nạn nhân. Trên 100 người trong đó có rất nhiều trẻ em và phụ nữ mất mạng; và vài ngày sau đó bọn công an còn bắt gia đình nạn nhân phải đóng tiền phí tổn mới được nhận tử thi về chôn cất. Vụ giết người tập thể tại cầu chữ Y này không phải vụ duy nhất, nhiều ghe khác rời Cát Lái, Cà Mau, Cần Thơ, Bà Rịa, Bến Tre, Long Xuyên, v.v., đã bị công an bắn giết khi chúng không nhận được đủ phần hối lộ hay có lệnh phải cấm đoán người tị nạn ra đi, đặc biệt là sau khi Hà Nội cam kết với cộng đồng quốc tế là sẽ ngăn chận cơn sóng vượt biên vào tháng 7-1979 tại Geneva. Chỉ riêng tại Cát Lái, gần 400 nạn nhân trên tàu Thành Xương đã bị công an hại chết trong ngày 22-7-1978. Một trong số người còn sống sót là ông Vương Vũ Văn hiện đang định cư ở New Jersey cho biết là Hà Nội đã nhận ít nhất là $1 triệu Mỹ-kim để cấp giấy phép rời bến cho tàu Thành Xương nhưng không biết tại sao lại trở cờ vào giờ chót và giết hại nhiều nạn nhân vô tội. Việc giết hại người vượt biên còn xảy ra tại các vùng đảo xa xôi như Trường Sa; theo tin từ chính phủ Phi Luật Tân vào tháng 6-1979 thì bộ đội Hà Nội đóng đô tại các quần đảo này đã xã súng bắn vào một ghe tị nạn từ Nha Trang khiến 23 người bị mất mạng, 62 nạn nhân khác chết đuối và chỉ có 8 thuyền nhân may mắn sống sót. Ðối với những người vượt biên không có tiền để ra đi theo chương trình chính thức hay bán chính thức của chính quyền cộng sản thì khi bị bắt họ dễ trở thành nạn nhân của các ông vua công an địa phương bởi vì vào những năm đầu Hà Nội không có một chế độ hình phạt rõ ràng đối với dân vượt biên mặc dầu luôn luôn chủ trương 'kiểm sát' tất cả các thành phần có lý tưởng tự do hay xua đuổi họ ra khỏi nước. (8) Thông thường những người vượt biên bị công an bắt lại có thể bị kêu án từ vài năm tù cho đến tử hình tùy theo tiền hối lộ nhiều hay ít cũng như gốc hay 'ô dù' tham ô có ảnh hưởng mạnh hay yếu. Ðài Hà Nội thỉnh thoảng thông báo tên tuổi của các nạn nhân bị chính quyền cộng sản chọn lựa làm chiến lợi phẩm để tế công luận thế giới vốn đang lên án chính sách đàn áp ý thức hệ và chủ trương tống xuất 'thành phần phản động' của đảng CSVN. Vào ngày 28-10-1981, Nguyễn Toại Chí bị nêu tên và tống tù chung thân trong khi các cộng sự viên tổ chức vượt biên của ông bị kêu án từ 18 tháng cho đến 25 năm. Trước đó vào ngày 9-9-1981, tòa Long An phạt Võ Văn Lung, Võ Văn Mậu và Châu Tá Nhành án tù lên đến 25 năm sau khi vụ ra đi của họ bị bể. Tử hình là án trạng nặng nhất đối với dân vượt biên và thường được chính quyền cộng sản dành cho thành phần 'ngụy quân, ngụy quyền' nhằm một mặt để che giấu chính sách xua đuổi nhân dân của đảng và mặt khác để chứng minh với cộng đồng quốc tế là Hà Nội thẳng tay trừng trị thuyền nhân Việt Nam hầu giữ lời hứa ngăn cản làn sóng vượt biên tại hội nghị quốc tế về tị nạn Ðông Dương I. 'Ngụy quân' Trần Minh Châu là một trong những nạn nhân đầu tiên bị Hà Nội dùng làm vật tế cộng đồng thế giới sau hội nghị quốc tế I vào tháng 7-1979; ông đã bị kết án tử hình vào ngày 6-8-1979 vì tội tổ chức vượt biên không qua đường dây chính thức hay bán chính thức của Hà Nội, tức là vượt biên không có giấy phép nhà nước. Một loại hình phạt nặng khác được chính quyền cộng sản sử dụng đối với người tị nạn là tịch thâu toàn bộ tài sản của họ. Bất cứ khi nào công an khu vực nghi ngờ một gia đình đã ra đi vượt biên, nhà cửa cũng như tài sản của họ sẽ bị niêm phong và sau đó bị 'trưng dụng.' Dân vượt biên khó đòi lại gia sản bởi vì Hà Nội xem họ là tội nhân mặc dầu chính sách của đảng Cộng Sản là tống xuất các thành phần có tư tưởng và lối sống tự do ra khỏi nước. Ngay cả khi dân vượt biên đã lên ghe và nổ máy ra khơi, họ cũng chưa an tâm bởi vì ghe còn có thể bị tàu công an biên phòng chặn bắt và dẫn độ về lại Việt Nam. Vào tháng 5-1988, tàu Mary Kingstown đã kịp thời cứu một ghe tị nạn chỉ vài phút trước khi ghe bị tàu Công An Ðặc Khu Vũng Tàu Côn Ðảo đuổi bắt kịp. Sau khi 81 thuyền nhân được đưa qua tàu Mary Kingstown, nhóm công an biên phòng đã nhảy sang ghe tị nạn để vơ vét và sau đó hoan hỉ kéo chiếc ghe không người trở lại Việt Nam như một chiến lợi phẩm. Trong nhiều trường hợp, thuyền nhân bị tàu biên phòng chặn lại có thể nộp mãi lộ thường là vàng lượng cho công an để được tiếp tục cuộc hải trình; trong những trường hợp khác, công an biên phòng vẫn cứ bắt giữ dân vượt biên sau khi đã vơ vét tài vật của họ. Ngoài ra còn có nhiều vụ tàu Liên Sô đang công hành ngoài biển Ðông đã chặn bắt ghe tị nạn và dẫn độ về cho chính quyền cộng sản Việt Nam; giới lãnh đạo Hà Nội mù quáng không nhận ra được là hành động này của Mạc Tư Khoa trực tiếp vi phạm trầm trọng công pháp quốc tế cũng như gián tiếp công khai khinh thường khả năng bảo vệ chủ quyền quốc gia của Hà Nội. Ðối với những thuyền nhân may mắn vượt khỏi vòng đai kiểm soát của công an biên phòng Việt Nam, hải trình của họ vẫn còn phải đối đầu với vô vàn tai ương thiên nhiên của biển cả cũng như hoạn nạn nhân tạo đến từ hải tặc dã man và chính sách bài tị nạn tàn nhẫn. Số lượng thuyền nhân đã mất mạng trên biển cả khó có thể được ước đoán chính xác. Như đã bàn ở phần trên, ít nhất 10% đến 20% tổng số người ra đi hay khoảng 80.000 đến 200.000 nạn nhân đã bỏ mình tại biển Ðông trên đường tìm tự do; một vài tư liệu của cộng đồng thuyền nhân thẩm định là số người tị nạn Việt Nam chết vì tai ương thiên nhiên hay bị hải tặc giết phải là vài trăm ngàn lên đến cả triệu nạn nhân. Những linh hồn vô danh này không những bị các biến chuyển thời sự hiện tại quên lãng mà còn bị các thế lực chính trị đen tối trong quá khứ bôi nhọ là thành phần di dân kinh tế đê tiện mặc dầu chính quyền Hà Nội cũng như chính khách quốc tế tự biết việc đánh đổi mạng sống vì miếng ăn đối với dân tộc Việt Nam là chuyện hoang đường phi lý, và đa số những người ra đi là dân khá giả trong xã hội cho nên không có vấn đề vì thiếu miếng cơm manh áo cho nên họ phải vượt biên. Chương Hải Trình Thảm Khốc này có thêm phần phụ trương phác họa lại vài trang trong sổ tay của một cậu bé viết vào đầu năm 1980 tại trại tị nạn Songkhla ở Thái Lan với hy vọng sẽ soi sáng đoạn đường kinh hoàng của thuyền nhân Việt Nam cũng như khát vọng không phai mòn của những người tị nạn may mắn sống sót đến được bờ bến tự do. Số lượng thuyền nhân đến được các quốc gia tự do Thống kê của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc Lưu Ý: Thống kê của CUTNLHQ không bao gồm những thuyền nhân đã mất mạng trên đường vượt biên (td: Vào ngày 14-11-1979, báo People's Journal ở Phi Luật Tân tường thuật là dân săn bắn địa phương tìm thấy 60 xác người cùng vật dụng cá nhân và một chiếc ghe tương tự như ghe tị nạn Việt Nam tại một khu rừng hẻo lánh cách thủ đô Manila khoảng 75 dặm về phía Nam.) hay được cứu trên biển bởi các thương thuyền và sau đó được chấp nhận cho định cư mà không phải trải qua thời gian chờ đợi ở trại tị nạn cũng như một số nhỏ dân vượt biên từ năm 1996 (td: Vào ngày 21-6-1999, sau hai tuần lênh đênh trên biển 11 thanh thiếu niên Việt Nam gồm 7 gái và 4 trai tuổi từ 14 đến 18 tuổi đã đến được bờ biển Iba ở phía Bắc Phi Luật Tân trên một chiếc ghe dài 17 thước.) ------------------------------------Chú thích: 1 Nhiều đồng bào vô tội đã hy sinh oan uổng trong đợt tản cư vào mùa Xuân 1975. Vài vụ tử thương được chứng kiến và ghi lại rải rác trong một số sách và bài viết, nhưng hiện nay chưa có tài liệu nào nghiên cứu để thẩm tính số nạn nhân đã mất mạng trong giai đoạn đó. 2 Ða số các tài liệu xác định là số dân tị nạn Việt Nam ra đi trong mùa Xuân 1975 là khoảng 130.000 người, và con số này được báo chí Việt ngữ cũng như ngoại ngữ lập lại nhiều lần (điển hình là sách Calculated Kindness: Refugees and America's Half-Open Door 1945-Present của Gil Loescher và John A. Scanlan), nhưng một số tài liệu của phòng Southeast Asian Archive thuộc Ðại Học California tại Irvine cho thấy số đồng bào Việt Nam ra đi trong giai đoạn này chỉ khoảng 125.000 người trong tổng số 130.000 người ra đi từ Ðông Dương trong giai đoạn đó (điển hình là tài liệu Documenting the Southeast Asian Refugee Experience của Anne Frank). Tuy nhiên, một dữ kiện mà chúng ta biết chính xác là chỉ có một nửa số người này ra đi với sự trợ giúp của chính quyền Hoa Kỳ. Một nửa kia hay 65.000 người đã phải tự kiếm cách ra đi; và đa số sử dụng ghe, tàu bè và thương thuyền cũng như các chiến hạm để vượt thoát. Họ có lẽ là những thuyền nhân Việt Nam đầu tiên tị nạn cộng sản. 3 'When Saigon fell to North Vietnamese forces in 1975, more than 1.6 million South Vietnamese fled their country.' ASIAAccess/countries/vietnam (January 1999). 4 Cho đến cuối thế kỷ 20, thống kê chính thức của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc cho biết là 796.310 thuyền nhân và 42.918 bộ nhân đã may mắn đến được trại tị nạn kể từ tháng 5-1975. Các con số này không bao gồm những người được cứu trên biển và đi định cư thẳng mà không qua hệ thống trại tị nạn. 5 Nhiều tính toán đã xác nhận số lượng đồng bào mất mạng có thể lên đến 40%-70% tổng số dân vượt biên. Vào tháng 6-1978, Thứ Trưởng Ngoại Giao đặc trách Ðông Nam Châu Á và Thái Bình Dương của Hoa Kỳ là Richard Holbroke đã tuyên bố: người tị nạn 'ra đi trên những chiếc ghe mỏng manh với ít tiếp liệu, và sự tính toán cho thấy chỉ một nửa là đến được bờ bên kia' (refugees 'set out in rickety boats with few supplies, and estimates are that only half make to another port.') Giữa tháng 4 và 7-1979, dựa vào tin tình báo và các cuộc phỏng vấn với dân tị nạn, Bộ Trưởng Di Trú Úc là Michael MacKellar đã kết luận: 'Chúng ta thấy số lượng mất mạng khoảng từ 100.000 đến 200.000 trong vòng bốn năm vừa qua.' ('We are looking at a death rate of between 100,000 and 200,000 in the last four years.') 6 Nhiều cựu sĩ quan hải quân miền Nam đã được thương gia Hoa kiều đưa ngay vào Chợ Lớn để nằm chờ ngày ghe được Hà Nội cho phép ra đi. 7 Khi được vớt lên boong, chính những thuyền nhân như ông Nguyễn Tấn Phúc đã nghi là tàu Akuna không phải là tàu cứu người tị nạn bình thường. Vào năm 1990 khi tham dự một cuộc biểu tình tại thành phố Lepzig, Ðông Ðức, người viết gặp một vị tị nạn trung niên và được cho biết tàu Akuna này từng được sử dụng để đưa người về Việt Nam hoạt động chính trị. 8 Hà Nội chỉ đặt ra chế độ hình phạt rõ ràng đối với dân vượt biên sau này trong bộ luật hình sự (xin xem Chương 3 về vấn đề cưỡng bách hồi hương).
Last edited by alamit; 21-02-2012 at 11:15 PM.
Reply With Quote - 21-02-2012, 11:06 PM #8 alamit
- View Profile
- View Forum Posts
Member Join Date 20-04-2011 Posts 5,771 Tội ác CS Việt nam: Thuyền nhân
Tội ác CS Việt nam: Thuyền nhân Thuyền Nhân: Ấn Tích Lịch Sử Tác giả: Dương Thành Lợi 4. Ghe Kém An Toàn, Tài Công Thiếu Kinh Nghiệm và Hoạn Nạn Trên Biển Cả Ðể đến được một quốc gia tự do nằm ngoài bán đảo Ðông Dương, thuyền nhân phải vượt qua biển Ðông Hải hay vịnh Thái Lan vốn không phải là vùng bể an toàn cho những tay đi biển tài tử hay bất đắc dĩ như đa số dân tị nạn Việt Nam. Khí hậu đại dương tại hai khu này tương đối khắc nghiệt với nhiều cơn giông bão cuộn gió lên đến trên hàng trăm cây số một giờ và có thể đánh đắm tất cả tàu bè mỏng manh trên mặt bể. Trong mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 9, gió từ xích đạo thổi vào Việt Nam theo hướng Tây Nam và đe dọa toàn bộ vịnh Thái Lan với các cơn giông tố đi liền với mưa rào bất thường trên biển. Từ tháng 10 trở đi, gió Ðông Bắc thổi mạnh vào vịnh Bắc phần và vì bị rặng núi Trường Sơn chặn lại cho nên gây ra nhiều cơn mưa ở vùng Quảng Trị-Thừa Thiên cũng như bão tố tại Ðông Hải có sức gió lên đến 160 km/giờ; bão tố trên biển lại thường kèm theo mưa mùa dữ dội có khả năng đánh chìm các ghe thuyền tị nạn không may mắn bị kẹt giữa đường di chuyển của trung tâm bão có tốc độ từ 20 km đến 40 km/giờ. (9) Tai ương thiên nhiên chờ đón thuyền nhân Việt Nam không chỉ dừng lại với khí hậu khắc nghiệt mà còn tạo ra những chướng ngại vật ngầm dưới mặt nước khiến nhiều đồng bào tị nạn mất mạng. Các đảo và cồn san hô nằm dọc theo phía Tây và Tây Nam của Phi Luật Tân trở thành một hàng rào nguy hiểm trải dài nhiều cây số cản trở hải trình tầm tự do của dân Việt Nam. Nhiều ghe đâm vào cồn san hô bị hư hại không sửa chữa được khiến thuyền nhân phải bỏ ghe mà lội lên bờ; và trong khi chờ đợi cứu vớt, họ phải cố gắng tìm cách bắt cá và nghêu sò để sống nhưng đa số không tồn tại được lâu vì thiếu nước uống. Vào tháng 9-1978, 50 đồng bào tị nạn trong đó có cô Trần H. Huệ bị kẹt trên một hòn đảo san hô khoảng 5 tháng với kết cục thê thảm là, ngoại trừ cô Huệ, các nạn nhân khác đã mất mạng vì đói khát. Trong nhiều trường hợp vượt biên, thuyền nhân ra biển trên những chiếc ghe không an toàn lại thiếu chuẩn bị kỹ lưỡng và do tài công ít kinh nghiệm hải hành lèo láy (10) bất kể các hiểm nguy của đại dương. Hải cụ của dân vượt biên thường là một bản đồ của khu vực Ðông Nam Á và một địa bàn - hải bàn là một dụng cụ đắt tiền trên thị trường chợ đen và người tìm mua dễ bị công an chìm theo dõi. Bản đồ địa dư của khu vực luôn luôn chứa đựng nhiều sai biệt với hải đồ cũng như không ghi rõ các chướng ngại vật ngầm trên biển; và địa bàn thường trở nên thiếu chính xác khi ghe bắt đầu ra khỏi cửa biển. Dĩ nhiên là đa số ghe vượt biên không bao giờ trang bị phao cấp cứu cho nên, khi ghe bị đắm, toàn bộ thuyền nhân chết đuối nếu không được cứu vớt kịp thời. Ða số thuyền tị nạn không những thiếu hải cụ mà còn là những chiếc ghe không an toàn cho nên thường bị phá sau khi hoàn thành trọng trách đưa người vượt biển. Rất nhiều ghe thuộc loại đầu tà được chế tạo cho mục đích di chuyển trên sông ngòi nhưng lại được thuyền nhân đưa ra biển để đối đầu với tử thần bể cả. Một số ghe khác rất nhỏ - khoảng 3 thước bề ngang và 10 thước bề dài - được sử dụng đi đánh cá hay lấy cũi trong những vùng biển gần bờ cũng được thuyền nhân dùng để chuyên chở một số lượng lớn người tị nạn vượt đại dương tìm tự do. Trong vài trường hợp hy hữu, ngay cả xuồng chèo bằng tay cũng được một số gia đình miền biển lèo láy đến được các trại tị nạn. Một thực trạng thường xảy ra trong hải trình thảm khốc của thuyền nhân Việt Nam là sự chuyên chở quá trọng lượng của các ghe tị nạn; và vì ghe không bao giờ có đủ chỗ cho tất cả mọi người cho nên đàn ông thường phải ngồi trên nóc thuyền hay bất cứ nơi nào họ có thể kiếm được, và đàn bà cũng như trẻ em thường ngồi co cẳng dưới hầm ghe. Bệnh say sóng đưa đến ói mửa cùng mùi dầu xanh cộng với tiếng la khóc và mùi nước tiểu của trẻ thơ trong cái khung cảnh lờ mờ của hầm tàu tạo ra một không khí thểu nảo chỉ có trong các nhà quàn xác. Các chiếc ghe mỏng manh của thuyền nhân Việt Nam từng được gán cho danh hiệu 'những cái hòm nổi' (11) ra đại dương với lượng thực phẩm và nước ngọt dự trữ rất giới hạn. Nước ngọt dĩ nhiên không bao giờ đủ cho tất cả mọi người trên ghe, và thực phẩm (thường là gạo và mì khô) chỉ đủ nếu ghe không gặp hoạn nạn trên biển. Một khi thực phẩm và nước ngọt dự trữ không còn, thuyền nhân chỉ hy vọng thấy được đất liền hay dàn khoang ngoại quốc (12) hoặc được cứu vớt kịp thời. Trong trường hợp của ông Phan Văn Thiệu đến Kora Bahru ngày 22-4-1979, gia đình của ông bị hải quân Mã Lai bắt xuống ghe lại vào ngày 11-5 và sau đó ghe bị kéo ngược ra hải phận quốc tế. Trong năm ngày lênh đênh vô định trên biển, họ phải uống nước tiểu để tránh cơn khát sau khi hết nước ngọt. Trẻ em bắt đầu chết dần, và số còn lại cùng người lớn trên ghe có thể chết hết nếu họ không được tàu Sibonga cứu kịp thời. Thuyền trưởng Healey Martin đã diễn tả lại thảm cảnh tuyệt vọng trên ghe của ông Phan Văn Thiện như sau. (13) 'Phụ nữ và trẻ em trên chiếc ghe với bề dài 20 thước và bề ngang 3 thước kêu gào được giúp đỡ; không khí trên ghe, vốn được chia ra thành 2 tầng để tận dụng hết trọng lượng của nó, thật khủng khiếp.. Tình trạng bệnh tật, thiếu thực phẩm và nước ngọt kéo dài cộng với điều kiện ghê tởm mà họ phải chung đụng rác rến cũng như nước tiểu đã làm suy nhược và đẩy họ vào tình trạng sức khỏe rất yếu kém. Nếu chỉ cho họ trữ thực thì chẳng khác nào bỏ nhiều người cho tử thần.' (14) Ðối với một số thuyền nhân, tình trạng thiếu dầu máy cũng là một trong nhiều khó khăn nan giải; trước sau gì trữ lượng dầu dùng chạy máy cũng phải cạn nếu ghe không đến được bờ bến tự do đúng theo dự tính của tài công lúc khởi hành. Lênh đênh trên mặt đại dương mịt mù không lối thoát tương tự như đang chờ đợi tử thần đến với sự tàn phá của sóng gió thiên nhiên. Một vấn nạn khác liên quan trực tiếp đến máy ghe vốn thường là máy cũ được tân trang vài tuần trước ngày ra khơi cho nên dễ bị trục trặc bất thình lình trên biển. Sự kiện ghe bị 'trời trồng' phải dậm chân tại chỗ vì máy hư không sửa được và thuyền nhân chỉ còn cách chắp nối bao vải để làm buồm hầu tiếp tục chuyến hải trình không phải là hiếm; và nếu không đến được đất liền an toàn trong một thời gian ngắn thì người tị nạn khó tồn tại lâu dài trên ghe. Chiếc thuyền dài 7 thước của anh Phan Công Trang, 18 tuổi, rời Ba Xuyên vào ngày 12-4-1983 và được dự tính là sẽ đến Thái Lan hay Mã Lai trong vòng đôi ba ngày. Gần hai tuần trên biển, ghe của anh Phan cũng chưa đến được bờ tự do. Tất cả thực phẩm, nước ngọt cũng như dầu máy đều hết sạch. Vào ngày thứ 13, chiếc ghe bị sóng đánh tan thành những mảng lớn. Anh Phan may mắn bám vào được một thùng nhựa rỗng và trôi lênh đênh khoảng hai ngày trước khi được một tàu thương mại của Na Uy cứu đưa về Manila, Phi Luật Tân. Anh Phan Công Trang may mắn đã không phải ăn thịt người vì lý do sinh tồn. Vào tháng 4-1982, 11 người vượt biên từ Nha Trang bị lạc hướng phải trôi dạt trên biển gần hai tháng. Tình trạng thiếu thực phẩm và nước ngọt khiến 6 người mất mạng. Số người còn lại trên ghe phải ăn thịt đồng loại để sống cho đến khi được tàu biên phòng Hồng Kông cứu vào tháng 6-1982. Chuyến vượt biên của ông Trần T. Bá còn khủng khiếp hơn nữa. Trong một lá thư viết cho thân nhân, ông Trần cho hay là ghe của ông rời bến Bạch Ðằng vào ngày 1-10-1978 với 178 người. Bốn ngày sau chiếc ghe đâm vào một cồn san hô không ra được; (15) và một tuần sau đó, tất cả trữ thực trên ghe cạn hết. Em của ông Trần tên Thành chết vào ngày 3-11. Trước khi được tàu Ðài Loan cứu khỏi cồn san hô vào ngày 18-11, một số người trên cồn đã phải ăn thịt đồng loại; ông Trần xác quyết là ông đã không phạm vào những hành động tuyệt vọng đó nhờ vào ý chí của ông (16) Thực trạng hãi hùng đến từ tai ương thiên nhiên, chướng ngại vật ngầm của biển cả, trữ thực giới hạn và trở ngại máy móc đã dẫn đến nhiều kết cục thương tâm cho thuyền nhân Việt Nam. Các hậu quả thê thảm này là những di sản tác hại ít nhiều do thiên nhiên chi phối cho nên khó tránh được, nhưng một yếu tố tổ chức quan trọng khác đáng lẽ phải được chú ý kỹ lưỡng vì ảnh hưởng trực tiếp đến sinh mệnh thuyền nhân lại thường ít được lưu tâm đúng mức đó là kỹ năng hàng hải của tài công. Nhiều người được giao trách nhiệm lèo láy ghe tị nạn vượt đại dương chưa hề đặt chân lên thuyền ra khơi, và dĩ nhiên là họ không bao giờ có kinh nghiệm làm tài công trong quá khứ. Nhu cầu bí mật kiếm tài công giỏi của nhóm tổ chức vượt biên và nhu cầu ra đi tàn ẩn trong một số cá nhân thiếu khả năng tài chánh đôi lúc gặp nhau ở những điểm khó hiểu. Sự sợ hãi cơ chế đàn áp cộng sản đã khiến nhiều người tự xưng từng là sĩ quan hải quân Việt Nam Cộng Hòa với hy vọng sẽ được - và một số người đã được - móc nối vào các tổ chức vượt biên; họ sẵn sàng nhận lãnh trách nhiệm tài công mặc dầu biết là mình có ít, hoặc chưa từng có, kinh nghiệm hàng hải. Hành động thiếu thành thật này đặt sinh mệnh của thuyền nhân trên ghe vào vị trí nguy hiểm cận tử không cần thiết, nhưng cũng may mắn là sự kiện tài công 'dỏm' xảy ra tương đối ít. ------------------------------------ Chú thích: 9 Bảo tố từ Ðông Hải thổi vào Việt Nam đã gây ra nhiều thiệt hại trầm trọng trong quá khứ. Vào năm 1904, hai nhịp cầu Trường Tiền đã bị gió cuốn mất; và vào năm 1955, 250 cây cột điện ở Hà Nội bị bão đánh gẫy. 10 Ngoại trừ một số ít sĩ quan hải quân Việt Nam Cộng Hòa và tài công chuyên nghiệp được huấn luyện kỹ lưỡng, đa số các tay lái ghe khác không biết cả những kỹ thuật hay ám hiệu liên lạc quốc tế căn bản nhất cần thiết cho một cuộc hải hành liên quốc gia, và dĩ nhiên là khả năng ngoại ngữ của họ rất yếu kém. 11 Danh từ 'những cái hòm nổi' ('floating coffins') được Bộ Trưởng Ngoại Giao Singapore là Rajaratnam sử dụng tại Hội Nghị Bộ Trưởng Ngoại Giao ASEAN vào tháng 6-1979 để mô tả tình trạng bi thảm của các ghe thuyền tị nạn Việt Nam. 12 Các trục dầu khoang ngoài biển của các công ty như Exxon ở phía nam Thái Lan hay đông bắc Mã Lai đã giúp đỡ rất nhiều ghe tị nạn và cứu giúp hàng ngàn thuyền nhân lạc trên biển. 13 Quoted in Bruce Grant, The Boat People: An Age Investigation, Penguin Books, Middlesex, England 1979, at p. 68. 14 'Women and children on the twenty metres long by three metres wide boat were screaming for help; the smell on the boat, which was tier-decked for maximum capacity, was terrible. The weather had been fresh south-westerly for the previous four-eight hours. Prolonged sickness, lack of food and water and the horrible way the people were crowded together in their own dirt and urine had reduced them to a very weak physical condition. Merely to give them stores would have been to condemn a large number of people to death.' 15 Các đảo san hô, đặc biệt là trong hải phận Phi Luật Tân, đã trở thành những chướng ngại vật giết người cho ghe tị nạn Việt Nam. Trong trường hợp của Trần H. Huệ, ghe của cô rời Cần Thơ vào tháng 9-1978 với 50 thuyền nhân. Ghe của cô đã bị mắc cạn trên một đảo san hô gần Palawan. Sau 5 tháng bị kẹt trên đảo, thực phẩm cạn lại không có nước ngọt, 49 thuyền nhân qua đời và cô Huệ là người duy nhất may mắn được cứu sống. 16 Vào ngày 14-11-1979, báo People's Journal ở Phi Luật Tân tường thuật là dân săn bắn địa phương tìm thấy 60 xác người cùng vật dụng cá nhân và một chiếc ghe tương tự như ghe tị nạn Việt Nam tại một khu rừng hẻo lánh cách thủ đô Manila khoảng 75 dặm về phía Nam.
Reply With Quote - 21-02-2012, 11:08 PM #9 alamit
- View Profile
- View Forum Posts
Member Join Date 20-04-2011 Posts 5,771 Tội ác CS Việt nam: Thuyền nhân
Tội ác CS Việt nam: Thuyền nhân Thuyền Nhân: Ấn Tích Lịch Sử Tác giả: Dương Thành Lợi 5. Thảm Trạng Nhân Tạo: Hải Tặc Dã Man Một trong các kinh nghiệm khủng khiếp suốt hải trình kinh hoàng của thuyền nhân Việt Nam là thảm trạng hải tặc. Tình trạng lộng hành của hải khấu trong vùng Ðông Hải hay vịnh Thái Lan không mới lạ bởi vì ngay từ thế kỷ 16, các nhà thám hiểm Anh quốc từng báo cáo về hoạt động của chúng từ vận chuyển hàng lậu, thuốc phiện đến cướp bóc thương thuyền. Tuy nhiên, tệ nạn hải tặc trong vùng Ðông Nam Á chỉ bắt đầu được cộng đồng quốc tế lưu ý sau khi thảm trạng thuyền nhân Việt Nam được giới truyền thông toàn thế giới tường thuật vào cuối thập niên 1970. Một số thống kê xác định là số lượng ghe tị nạn bị hải khấu tấn công lên đến 70%-80%, nghĩa là cứ 5 ghe vượt biên thì 4 chiếc đã bị cướp. Một vài con số về tệ nạn hải tặc được Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc lưu giữ từ năm 1980 tuy thiếu chính xác (những nạn nhân bị hải tặc giết không còn sống để được 'thống kê') nhưng cũng có thể phác họa một hình ảnh khủng khiếp về sự tàn ác của hải tặc đối với thuyền nhân; chỉ trong vòng 3 năm từ 1980 đến 1983, 2.283 phụ nữ bị hãm hiếp, 592 vụ bắt cóc và 1.376 nạn nhân bị hải tặc giết. (17) Như đã phân tích ở phần trên, thống kê về tệ nạn hải khấu khó có thể bao gồm tất cả các sự kiện cướp bóc trên biển mà người tị nạn Việt Nam là nạn nhân bởi vì có ghe xấu số đã bị hải tặc giết sạch trong mục đích phi tang chứng tích cho nên không còn người sống sót để tường thuật lại số phận bi thảm của họ. Ða số hải khấu là dân đánh cá Thái Lan và Mã Lai mang ý nghĩ là thuyền nhân Việt Nam đem theo nhiều vàng cũng như tài vật đắt giá. Bọn cướp biển dùng dao búa và thỉnh thoảng cả súng để tấn công người tị nạn không vũ khí trong tay. Chúng thường đi từng nhóm hai hoặc ba thuyền lớn để bảo đảm sự thành công của vụ cướp ghe hoặc để giảm thiểu xác suất thất bại nếu gặp sự chống đối của thuyền nhân. Sự phản kháng của người tị nạn Việt Nam ít khi xảy ra bởi vì thuyền nhân thường không mang theo vũ khí, và đa số suy nghĩ là tài vật không quan trọng bằng mạng sống cho nên họ sẵn sàng mất số quý kim đem theo để bảo toàn bản thân. Mặc dầu việc thu mua súng đạn ở Việt Nam không khó lắm nhưng phần đông người vượt biên tránh mang theo vũ khí để không bị công an khép tội 'phản động' trong trường hợp chuyến đi bị 'bể.' Song song, thuyền nhân ít khi chống đối hải tặc do quan niệm quý kim là tài vật tạm thời có thể kiếm lại sau này nếu còn sống trong khi đó mạng sống mang tính cách trường cữu nếu mất đi thì mất tất cả. Tuy vậy, hải trình lịch sử của thuyền nhân vẫn có nhiều vụ phản kháng cá nhân rất hào hùng nhưng gặp thất bại và dẫn đến cái chết của một số dân tị nạn. Trong vài trường hợp khác, nhiều ghe tị nạn đã biết sử dụng sức mạnh thanh niên, trái sáng và thỉnh thoảng cả súng trường, lựu đạn để đe dọa hải tặc khiến chúng phải rút lui. Trong một vụ phản kháng nổi tiếng toàn thế giới, 19 thuyền nhân bao gồm Bác sĩ Dương Chi Lăng, Trần Xuân Vinh, Lê Quang Phương, Hứa Thiện Hùng, Âu Diêu, Khuất Há Chảy, Ðoàn Văn Khuyên, Trịnh Duy Phước, Hồ Minh Tâm, Châu Chí Cường, Huỳnh Công Danh, Nguyễn Anh Lợi, Trần Khắc Ðức, Huỳnh Quốc Tuấn, Quan Chí Cường, Huỳnh Trưng Thuần, Trần Chánh Thành, Lê Văn Uyên và Dương Hán Minh đã đánh chiếm luôn thuyền hải tặc Thái Lan sau khi chúng tấn công họ, hãm hiếp phụ nữ rồi đâm chìm ghe tị nạn. Câu chuyện không dừng ở đó mà còn dẫn đến các khúc quanh trớ trêu khi các nạn nhân thông báo cho cảnh sát Thái Lan về hành động cướp bóc dã man của bọn hải tặc trên thuyền Lakha 12, họ đã bị bắt và khép vào tội sát nhân. Nhiều cơ quan quốc tế lên tiếng phản đối việc cầm tù họ, đặc biệt là từ giới truyền thông Pháp, Hội Tương Trợ Tị Nạn Á Châu và tổ chức Y Sĩ Phi Biên Giới. Sau một năm trời vận động, Bangkok chấp thuận phóng thích nhóm người tị nạn anh hùng này vào tháng 12-1981. Một thuyền nhân trong nhóm, ông Lê Văn Uyên, sắp mất mạng vì bệnh đau ruột nếu ông không được thả đúng lúc và đưa vào bệnh viện để điều trị ngay lập tức. Sự dã man của hải tặc thật khó tưởng tượng, và hành động tàn bạo của chúng đối với thuyền nhân Việt Nam ít khi nghe đến trong suốt thế kỷ 20. Bọn cướp biển tìm đủ mọi cách để tước đoạt vàng bạc của người tị nạn; chúng xét họ nhiều lần để tìm kiếm các vật tùy thân có giá trị. Bọn hải tặc sẵn sàng chặt đứt ngón tay của nạn nhân để lấy nhẫn hay nhổ răng bọc vàng để lấy quý kim. (18) Bất cứ sự chống đối nào của nạn nhân cũng đem đến cái chết của họ; sự kiện bọn cướp biển cắt cổ hay đập đầu nạn nhân rồi quăng thây xuống biển xảy ra rất thường xuyên. Tàn nhẫn hơn nữa là một số hải tặc hung bạo sẵn sàng giết sạch mọi người trên ghe để phi tang; chúng dùng thuyền lớn để đâm vào ghe tị nạn mỏng manh nhằm dìm chết tất cả các nạn nhân. Một bản tường trình của CUTNLHQ có ghi lại vụ cướp biển đã xảy ra vào tháng 12-1985 khiến 50 thuyền nhân bị mất mạng trong tay hải tặc Mã Lai: '80 thuyền nhân đa số từ khu vực thành phố HCM trốn khỏi nước cộng sản vào ngày 12-12 với hy vọng sẽ đến Mã Lai. Sau bốn ngày trên biển, họ bị một thuyền đánh cá chặn lại và vui vẻ hứa giúp đưa họ đến Mã Lai. Hai người đàn ông, một phụ nữ và ba trẻ em được mời sang thuyền đánh cá sau đó chúng kéo chiếc ghe Việt Nam theo. Năm giờ sau một thuyền đánh cá thứ hai đến chở khoảng 20 hải tặc mang súng dao và cây sắt nhảy sang ghe Việt Nam và bắt đầu xét thuyền nhân để cướp vàng và quý vật. Tất cả đàn ông trên 17 tuổi bị ném xuống biển, ngay cả hai thanh niên được mời sang thuyền đánh cá trước đó. Ða số đã bị chết đuối bởi vì họ không thể bơi. Các phụ nữ bị hãm hiếp. Sau khi bọn hải tặc bỏ đi, một người đàn ông còn sống nhờ bám vào một thùng dầu leo trở lại ghe với 28 phụ nữ và trẻ em rồi giúp họ giăng cánh buồm.' (19) Hải tặc thường hoạt động trong vòng đai 18 ngàn dặm vuông bao quanh tỉnh Songkhla nằm phía nam Thái Lan. Bangkok chỉ có hai tàu biên phòng tuần hành khu vực này cho nên đoạn biển rộng lớn này trở thành một vùng phi pháp. Trong tháng 9-1981, tàu Cap Anamur đã ngăn cản kịp thời một vụ cướp ghe tị nạn của 5 thuyền hải tặc Thái Lan. Chiếc ghe Việt Nam chở 95 người rời Cà Mau được khoảng 100 cây số thì bị hỏng máy. Sau khi lênh đênh 2 ngày trên biển, ghe tị nạn bị bọn Thái khấu tấn công; chúng bắt 33 trẻ em và 22 phụ nữ sang thuyền đánh cá rồi kéo ghe tị nạn về một hướng vô định. Bọn hải tặc đang lục xét các nạn nhận để tước đoạt quý kim thì tàu Cap Anamur xuất hiện và giải thoát ghe tị nạn. Chính quyền địa phương đã được thông báo về vụ cướp này nhưng không có chuyện gì xảy ra đối với bọn hải khấu. Vào ngày 30-4-1981, ủy ban Chống Hải Tặc ra đời ở Geneva bao gồm nhiều tổ chức nhân đạo phi chính phủ như Terres des Hommes, Médecins Sans Frontierès, Médecins du Monde, Écoles Sans Frontierès, Protection de l'Enfant Réfugié, Sentinelles, Bateau Ile de Lumière, v.v. Sau năm tháng làm việc, ủy ban gởi một con tàu ra khơi để ngăn chận hải khấu và cứu vớt thuyền nhân Việt Nam. Trong phạm vi công quyền, chủ trương của Kuala Lumpur và Bangkok là ngăn chận làn sóng thuyền nhân hơn là các hành động tàn bạo của hải tặc; vì vậy cho nên nhiều quan sát viên đã nghi ngờ là Mã Lai và Thái Lan có chính sách sử dụng bọn cướp biển như một vũ khí bán chính thức để xua đuổi người tị nạn khỏi vùng duyên hải. Nhằm bảo vệ thuyền nhân Việt Nam, CUTNLHQ đã cung cấp cho Thái Lan một tàu biên phòng (mua giá $160 ngàn Mỹ kim từ Tân Gia Ba) vào tháng 5-1980 và khuyến khích Bangkok nên tích cực kiểm soát vùng biển phía Nam. Vào năm 1981, Thái Lan được Hoa Kỳ viện trợ $2 triệu Mỹ-kim để tiến hành chương trình chống hải tặc; số tiền này được sử dụng để mua 2 máy bay thám thính và sửa 1 tàu tuần hành. Vào khoảng tháng 6, Thái Lan đe dọa là sẽ ngưng hẳn chương trình này khi yêu cầu xin thêm $1.3 triệu Mỹ-kim bị cắt xuống còn $600 ngàn Mỹ-kim; sau đó, Bangkok miễn cưỡng chấp nhận một ngân khoản $3.6 triệu Mỹ-kim hàng năm do CUTNLHQ đề nghị với sự đóng góp của 12 quốc gia nhằm tiếp tục chương trình chống hải tặc. Với nguồn tài trợ mới, đội đặc nhiệm bài trừ hải tặc được tổ chức và trang bị 3 tàu tuần hành, 3 ghe tị nạn 'giả mồi' và 2 máy bay thám thính. Mặc dầu trên lý thuyết, tổ đặc nhiệm chống cướp biển của Bangkok hiện diện như một thực thể có khả năng tiến hành nhiều chiến vụ quan trọng; trong thực tế, tổ chức đó hình như chỉ hoạt động hời hợt. Một trường hợp thương tâm đã xảy ra đối với một ghe tị nạn vào tháng 11-1982. Trong khi thuyền nhân trên chiếc ghe xấu số đang bị 4 thuyền đánh cá Thái Lan chận cướp, một máy bay thám thính xuất hiện và xua đuổi đám hải tặc. Nhưng sau đó chiếc máy bay biến mất thay vì bảo vệ nhóm thuyền nhân cho đến khi họ được cứu vớt; khi không còn ai ngăn cản chúng, bọn cướp biển trở lại hiện trường để tiếp tục hành hạ nhóm nạn nhân Việt Nam và bắt đi 12 phụ nữ. Thái Lan từ chối không chấp nhận bất cứ sự giúp đỡ trực tiếp nào của các quốc gia khác trong chiến dịch bài trừ tệ nạn hải tặc. Bangkok viện cớ là hải quân Hoàng Gia Thái có khả năng giải quyết hải nạn này nếu được tài trợ dồi dào - càng nhiều tiền càng tốt! Hồ sơ lưu trữ liên quan đến lãnh vực này cho thấy là, trong khi đang thực hiện chiến dịch chống hải khấu, chính quyền Thái tiếp tục hăm dọa đóng cửa tất cả các trại tị nạn để ngăn cản làn sóng thuyền nhân. Bangkok tuyên bố là sẽ đối xử với dân tị nạn Việt Nam đến Thái Lan sau ngày 15-8-1981 như những kẻ nhập cảnh bất hợp pháp và sẽ đóng cửa các trại tạm trú vào năm 1982. Công dân Thái bị cấm không được giúp đỡ thuyền nhân trong tình trạng hiểm nghèo trên biển, và họ bị hăm dọa với các hình phạt chế tài nếu vi phạm. Chính sách ngăn ngừa làn sóng tị nạn Việt Nam của Bangkok khiến các quan sát viên khách quan không ngạc nhiên khi thấy tệ nạn hải khấu gia tăng vượt bực sau mỗi thông báo chống thuyền nhân của chính quyền Thái. Trong 5 năm đầu của chiến dịch bài trừ hải tặc, đội đặc nhiệm Thái Lan chỉ bắt được 30 tên cướp biển. Với sự giúp đỡ của nhóm bài trừ hải khấu Hoa Kỳ và các cố vấn của CUTNLHQ, đội đặc nhiệm Thái Lan hoạt động hiệu quả hơn vào năm 1986 và bắt thêm được 50 tên cướp biển; 21 trong số 50 tên phạm nhân bị kết án từ 3 năm tù đến tử hình. (20) Thống kê chính thức cho thấy số lượng thuyền nhân bị cướp giảm từ 70%-80% trong năm 1980 xuống còn 44% trong năm 1986 và 30% trong năm 1987. Mặc dầu tệ nạn hải tặc tấn công thuyền nhân Việt Nam vẫn tiếp tục cho đến giữa thập niên 1990, nhưng vào năm 1988 đội đặc nhiệm bài trừ hải khấu hình như không còn hoạt động tích cực bởi vì chính quyền Thái dồn nỗ lực thực hiện chính sách đẩy lui, thay vì ngăn chận, làn sóng tị nạn Việt Nam. Nỗ lực thám tính 52 hòn đảo ngoài khơi - một số đảo này từng được hải tặc dùng để giam giữ thuyền nhân - bị cắt giảm. Nỗ lực chống hải tặc của CUTNLHQ và Hoa Kỳ cũng giảm thiểu vì hình như các chính quyền và tổ chức quốc tế không còn quan tâm đến việc bảo vệ thuyền nhân Việt Nam. Một nhân viên cứu trợ đã cho đại diện Ủy Ban Luật Sư Vị Nhân Quyền có văn phòng tại Hoa Kỳ biết. (21) 'Thật là buồn cười khi bàn về chuyện bài trừ hải tặc khi chính quyền Thái đang làm tất cả những gì họ có thể làm được để ngăn chận ghe tị nạn đến (đất Thái). Chương trình bài trừ hải khấu hoạt động một cách lượm thượm, ở phía Ðông và Nam. Và nỗ lực quốc tế thám thính dọc miền duyên hải và các đảo hoàn toàn không có.' (22) Vào năm 1988, hải quân Thái Lan tiếp tục nhận nhiều triệu Mỹ-kim để bảo vệ thuyền nhân nhưng, theo một số báo cáo, đã được Bangkok sử dụng trong chính sách đẩy lui làn sóng tị nạn Việt Nam. (23) Vào ngày 27-6-1988, tàu biên phòng Thái đã kéo 3 ghe tị nạn với 61 người trên đó ra hải phận quốc tế; sau đó bọn lính trên tàu xả đạn bắn vào ghe. Hai thanh niên may mắn sống sót nhưng lại bị bắt giam rồi chuyển giao cho Hà Nội sau đó trong chiến dịch cưỡng bách hồi hương. Trong một vụ khác, chính hải quân Hoàng Gia Thái đã đưa các thuyền nhân xấu số vào nanh vuốt cướp biển. Vào ngày 11-5-1988, 79 người tị nạn sống sót đến được Mã Lai cho hay là họ bị hải quân Thái bỏ lên ghe và kéo ra biển. Các tàu đánh cá Thái đã chờ đợi sẵn và, sau khi tàu biên phòng khuất bóng, ập vào cướp cũng như hãm hiếp phụ nữ trên ghe. Ủy Ban Luật Sư Vị Nhân Quyền đã điều tra chương trình bài trừ hải tặc của Thái Lan vào năm 1988 và sau đó đưa ra các ý kiến xây dựng sau đây với hy vọng có thể giải quyết một số tệ nạn được thành viên Ủy Ban bạch hóa. (24) a) Chính quyền Thái nên cho nhân viên chống cướp biển và bảo vệ (tị nạn) của CUTNLHQ và Hoa Kỳ phỏng vấn người tị nạn ngay lập tức sau khi họ đặt chân lên đất Thái hay các hòn đảo và chia xẻ tin tức liên quan đến hải khấu. Việc gặp gỡ người tị nạn sớm có thể giúp cho nỗ lực truy tố hải tặc được dễ dàng hơn. b) Nhân viên tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ nên thường xuyên thám thính miền duyên hải Thái Lan, và hệ thống hóa mạng lưới thâu thập tin tức. Việc thám sát các hòn đảo ngoài khơi nên được tiến hành và nhân viên bổn xứ với khả năng đa ngôn ngữ nên được sử dụng.. '(25) Bởi vì chính quyền Thái Lan do dự trong nỗ lực kiểm soát vùng duyên hải nhưng lại tích cực thực hiện chính sách cưỡng bức hồi hương, sự tàn bạo của hải tặc trong các vụ cướp bóc giết hại thuyền nhân Việt Nam gia tăng với một tốc độ khủng khiếp. Bọn hải khấu dã man đã không nương tay đối với thuyền nhân và sẵn sàng giết sạch các nạn nhân trên ghe nhằm phi tang tất cả chứng tích. Số lượng ghe tị nạn bị cướp may mắn sống sót gia tăng trong khi số lượng cướp biển bị bắt lại rất ít; tuy vậy, một sự kiện đáng ghi nhớ là trong đám phạm nhân bị giam cầm có một số lính hải quân Thái Lan (26) - vốn mang trọng trách giữ gìn an ninh biên phòng - đã bị các thuyền nhân tố cáo với chứng cớ hùng hồ là những tên hải tặc mặc quân phục hoàng gia. ------------------------------------ Chú thích: 17 Theo bài nói chuyện của Michel Moussalli, Giám Ðốc Bảo Vệ Cuộc của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, tại Ðại Hội các Tổ Chức Thương Hải (Assembly of Maritime Organizations) ở Luân Ðôn vào ngày 8-11-1983. 18 Chồng của bà Lương B. Châu bị hải tặc Thái chặt ngón tay để lấy chiếc nhẫn vàng và sau đó giết chết vào tháng 10-1978. Sau khi cướp sạch quý kim, bọn hải tặc đã hãm hiếp phụ nữ rồi dùng thuyền của chúng để đâm vào mạng ghe. May mắn là các người tị nạn còn sống sót đã giữ cho ghe số KG-0729 tiếp tục nổi, và cuối cùng họ dạt được đến đảo Bidong, Mã Lai. 19 'The 80 Vietnamese, mostly from Ho Chi Minh City region, fled their communist country Dec. 12 (1985) in the hope of reaching Malaysia. After sailing for four days, they were stopped by a fishing boat with an apparently friendly crew who offered to help them get to Malaysia. Two men, one woman and three children were invited to come on board the fishing boat which then took the Vietnamese craft in tow. Five hours later a second fishing boat arrived which about 20 pirates armed with knives and iron bars, boarded the Vietnamese boat and began searching the people for gold and valuables. All men above the age of 17 were thrown into the water, even the two who had been invited aboard the 'friendly' ship. Most of them drowned because they could not swim. The women were raped. After the pirates left, a man who had managed to keep floating by holding on to a jerycan joined the 28 women and children aboard and helped them to put up a sail again.' '50 Vietnamese boat people killed by pirates, UN aide says,' Boston Globe, December 26, 1985. 20 Một hải tặc tên Mesa Sukchan bị tòa tỉnh Songkhla kết án tử hình vào năm 1986 về tội cướp biển, cưỡng hiếp và giết thuyền nhân Việt Nam. Ba cộng tác viên của hắn bị kết án tù từ 15 đến 22 năm. Theo 'Court gives death sentence for piracy,' Bangkok World, 13 December 1986. 21 Refuge Denied, Lawyers Committee for Human Rights, 1989, New York, at p.85. 22 'It is ludicrous to talk about anti-piracy when the Thai government is doing all it can to prevent boats from coming. Anti-piracy is in shambles, in the east and the south. And international coverage of the coast and the islands is non-existent.' 23 '50 Boat People Apprehended,' Bangkok Post, February 28, 1988. 24 Refuge Denied, Supra, at pp.6-7. 25 'a) The Thai government should grant full access to the UNHCR and U.S. Embassy anti-piracy and protection officers to interview refugees immediately upon arrival in Thailand or the islands and coordinate and share information on piracy. Immediate access will facilitate the prosecution of offenders. b) U.S. Embassy personnel should on a regular basis monitor Thailand's border and coastlines, and develop a system of reliable information contacts. Routine searches of the islands should be conducted and indigenous employees with multi-lingual capabilities need to be used..' 26 Vào tháng 5-1978, một ghe tị nạn gồm 30 thuyền nhân Việt Nam đã bị tàu tuần cảnh Thái Lan chận cướp. Bọn lính Thái tước đoạt vàng, hảm hiếp phụ nữ rồi bắn vào ghe ra lệnh cho thuyền nhân phải rời hải phận Thái. Sau đó không lâu, ghe trôi dạt đến Songkhla, và đồng bào trên ghe đã tố cáo hành động cướp của hiếp người này nhưng chính quyền Bangkok tỏ vẻ không tích cực điều tra vụ án. Trong một vụ khác, 6 cảnh sát Thái đã bị bắt vào ngày 17-6-1979 về tội tấn công cướp của, hiếm dâm thuyền nhân gần làng Nakhon Si Thammarat nhưng sau đó chúng được phóng thích vì 'thiếu bằng chứng.'
Reply With Quote - 21-02-2012, 11:10 PM #10 alamit
- View Profile
- View Forum Posts
Member Join Date 20-04-2011 Posts 5,771 Tội ác CS Việt nam: Thuyền nhân
Tội ác CS Việt nam: Thuyền nhân Thuyền Nhân: Ấn Tích Lịch Sử Tác giả: Dương Thành Lợi 6. Thảm Kịch Hải Tặc Bắt Cóc Nô Lệ Hóa Thuyền Nhân Thiệt hại vật chất không có nghĩa gì khi so sánh với bi kịch mất người thân trên biển cả mà nhiều gia đình thuyền nhân phải chịu đựng trong đau khổ. Hải tặc không chỉ trấn lột quý kim mà còn hãm hiếp và bắt cóc phụ nữ cũng như thanh nữ Việt Nam. Con bị cưỡng dâm trước mặt cha mẹ; vợ bị xâm phạm tiết hạnh trước mặt chồng; nhưng cơn ác mộng khủng khiếp nhất cho bậc cha mẹ hay khổ phu xảy ra khi con hay vợ bị hải khấu bắt đi mất tích. Từ giây phút đó trở đi, những người sống sót bị tủi nhục cả đời bởi vì mặc cảm không thể bảo vệ được người thân. Họ luôn tự hỏi tại sao họ đã nhẫn tâm đem vợ con ra biển để đối đầu với các hiểm nghèo của bể cả và nhận lãnh một kết cuộc thật thê thảm. Họ cảm thấy hối hận cả đời còn lại bởi vì họ còn sống mà số phận hẩm hiu của vợ con kém may mắn thì không biết ra sao. Chỉ trong 6 tháng đầu của năm 1981, 701 vụ hải tặc tấn công ghe tị nạn đã xảy ra và 145 thanh nữ Việt Nam đã bị cướp biển bắt đi. Một cô gái may mắn sống sót sau cơn ác mộng kinh hoàng là Nguyễn Phương Thúy, 15 tuổi. Cô Thúy và em cô, Trân, cùng 66 người khác vượt biên vào ngày 19-5-1981 trên một chiếc ghe dài khoảng 10 mét. Hai ngày sau, họ bị hải tặc Thái Lan tấn công dã man. Sau khi trấn lột sạch vàng và quý kim của nạn nhân, chúng bắt Thúy và một cô gái đi theo rồi dùng tàu đánh cá đâm chìm chiếc ghe tị nạn mỏng manh; tất cả các nạn nhân còn trên ghe kể cả bé Trâm đều bị chết đuối. Trong suốt 3 tháng rưỡi sau đó, Thúy và cô gái bị bắt chung đã trở thành nô lệ tình dục của bọn hải tặc. Họ bị hãm hiếp mỗi ngày và bị mua đi bán lại giữa các tàu đánh cá ít nhất là 14 lần. Tàu đánh cá thứ 15 đã tống khứ họ xuống một bãi hoang và sau đó họ bị lính Thái giam giữ vì tội nhập cảnh bất hợp pháp. Trong tù, Thúy gặp một cô gái khác tên Nguyễn T. Lan, 25 tuổi, cũng từng bị hải tặc cầm tù như nô lệ tình dục trên một hòn đảo ngoài khơi nhiều ngày. Sau khi được phép nhập trại tị nạn Songkhla, Thúy đã viết thư về cho mẹ và các cô để khẩn cầu họ đừng bao giờ vượt biên bằng ghe bởi vì kinh nghiệm bản thân của cô quá hãi hùng. Một sự kiện hơi trớ trêu là chính quyền Thái Lan - trên lý thuyết đang tiến hành chiến dịch bài trừ hải tặc - qua ban quản trị trại đã cấm không cho cô Thúy kể lại kinh nghiệm đau thương của cô cho các ký giả ngoại quốc. Danh sách của nạn nhân bị hải tặc bắt cóc rất dài và khó có thể được hoàn tất đầy đủ bởi vì nhiều gia đình đã bị cướp biển giết sạch nhằm phi tang bằng cớ tội lỗi cho nên lịch sử mất đi chứng nhân. Ðinh Ngọc Lệ Thủy, sinh ngày 22-2-1967, bị hải khấu Thái bắt ngày 8-12-1986 trước mặt thân mẫu; mẹ cô hiện đang sống tại thành phố Garden Grove, California. Dư Tuyết Mỹ, sinh ngày 20-1-1962, đã bị bắt cóc ngày 13-1-1982. Nguyễn Thị Diễm, sinh ngày 25-12-1966, bị cướp biển cưỡng ép lên tàu đánh cá của chúng và đưa đi mất tích vào ngày 16-2-1984. Phạm Thị Khuê Lương, sinh ngày 1-1-1967, và Phạm Thị Yến Ly, sinh ngày 26-10-1968, rời Rạch Giá ngày 24-5-1988 và sau đó bị hải tặc Thái bắt cóc ngày 27-5-1988. Trong trường hợp của Tăng Bích Hằng, gia đình cô hứa thưởng $10 ngàn Mỹ-kim cho bất cứ ai có thể cung cấp tin tức về hiện trạng của cô. Chúng ta không thể biết được bao nhiêu phụ nữ và thanh nữ Việt Nam đã bị hải tặc bắt cóc, nhưng chúng ta có thể chắc chắn là số lượng nạn nhân bị cướp đi thật khủng khiếp. Trong số nạn nhân bị mất tích trên đường tìm tự do có Tăng Bích Hằng, Nguyễn Thị Thu Nguyệt, Phạm Ngọc Bích Thủy, Võ Thị Cẩm Nhung, Nguyễn Thị Mỹ Dung, Phạm Thị Ngọc Bích, Phạm Thị Ngọc Hạnh, Nguyễn Thị Ngọc Anh, Diệp Mỹ Linh, Nguyễn Thị Hiền, Hoàng Thị Kim Chi and Hoàng Thị Kim Dung, Quách Lê Nương, Lê Thị Kim Hồng, Huỳnh Kim Phụng, Ðinh Thị Như, Nguyễn Thị Ðắc Tâm, Nhữ Thị Thiên Kim, Vũ Thị Thanh Thảo, Nguyễn Thanh Thủy, Ðặng Thị Quỳnh Hoa, Ðặng Thị Quỳnh Như, Tiến Xuân Mai, Nguyễn Thị Cẩm Hồng, Bửu Nghị Liêu, Ðỗ Hoàng Dung, Vũ Xuân Phụng, Nguyễn Diễm Hương, Võ Thị Tuyết, Bảo Trân, Tạ Thị Kim Hoàn, Trần Mỹ Hằng, Lệ Nguyễn Trúc Mai, Phạm Thị Sương Liễu, Phạm Thị Trúc Ly, Phạm Thị Ngọc Luyện, Châu Yến Linh, Trần Bích Thủy, Trần Thị Mỹ, Ngô Thị Liễu, Tống Mỹ Hạnh, Nguyễn Thị Kiều Dung, Nguyễn Thị Kiều Phương, v.v. Ða số các nạn nhân bị hải tặc giết sau một thời gian bị giam cầm như nô lệ tình dục nhằm tiêu hủy tất cả các chứng cớ tội lỗi. Trong một số trường hợp, vài phụ nữ đã bị bán vào các động mãi dâm Thái Lan. Cô Nguyễn Thị Trương bị hải tặc Thái bắt cóc, hảm hiếp và cuối cùng tống xuất vào đường dây mãi dâm ở phía Nam Thái Lan. Vào tháng 9-1979, cô Trương trở thành nô lệ tình dục của Heavenly Pleasure Massage Club và bị bắt buộc phục vụ du khách Tân Gia Ba, Nhật Bản tại các khách sạn như Rado Hotel hay Seiko Hotel. (27) Rất nhiều ghe tị nạn đã không đến được bờ tự do. Ít nhất là từ 80.000 đến 200.000 thuyền nhân đã mất mạng trên biển. Trong một trường hợp khác, cô Nguyễn Ánh Tuyết cùng chị là Nguyễn Thị Nam rời Nha Trang vào ngày 8-12-1979. Khi ghe bị hết dầu máy phải lênh đênh trên biển nhiều ngày, tình trạng thiếu nước ngọt dẫn đến cái chết của 12 trẻ em. Vào ngày 21-12-1979, họ bị hai tàu đánh cá Thái Lan tấn công. Cô Nguyễn Thị Nam bị đám cướp đập đầu và quăng thây xuống biển. Sau khi tước đoạt hết tài vật và quý kim, bọn hải khấu kéo chiếc ghe tị nạn đến giam lỏng tại đảo Khra và bắt đi ba cô gái xấu số trong đó có Nguyễn Ánh Tuyết. Một trong ba cô gái có tên là Lan đã bị giữ trên tàu thứ nhất và số mạng của cô ấy đến hôm này vẫn không ai biết ra sao. Nguyễn Ánh Tuyết, 17 tuổi, và Công Huyền Tôn Nữ Mỹ Kiều, 17 tuổi, đã bị hải khấu trên tàu thứ hai giam giữ trong một khách sạn ở Songkhla. Khi một tên hải tặc định hãm hiếp cô, Nguyễn Ánh Tuyết cự tuyệt và khóc la lớn. May mắn cho Tuyết là tiếng khóc thét của cô thu hút được sự chú ý của du khách ngoại quốc trú ngụ cùng khách sạn, và họ đã can thiệp kịp thời để giải thoát cô. Qua lời khai của hai cô Tuyết và Kiều, cảnh sát Thái bắt được bọn cướp biển sau đó. Trong khi lấy khẩu cung, bọn hải tặc thú thật với cảnh sát là chúng dự định bán hai cô vào một ổ mãi dâm ở Songkhla. Các thuyền nhân khác còn sống sót trên ghe của cô Nguyễn Ánh Tuyết bị giam giữ như nô lệ trên một hòn đảo hoang không người sinh sống ở phía đông nam Thái Lan có tên là đảo Khra (Koh Khra hay Freckle Island) cách vùng Phak Phanang khoảng 43 miles hay 69 cây số. Khra là một địa ngục trần gian cho những thuyền nhân bị hải tặc tấn công rồi dẫn độ về đó để giam cầm sau khi phá hỏng ghe của họ. Các người tị nạn thiếu may mắn đó không còn cách nào trốn khỏi hòn đảo nô lệ; họ bị cô lập hoàn toàn và dần dần lệ thuộc vào bọn cướp biển để có thực phẩm và nước uống. Khi một ghe tị nạn Việt Nam bị kéo về đảo Khra, hình như tất cả hải khấu trong vùng đều biết về sự hiện diện của nhóm thuyền nhân bất hạnh do tin của tàu bắt cóc truyền đi qua làn sóng vô tuyến. Các ngày sau đó, một vài tàu đánh cá ghé qua đảo để hành hạ nhóm người vượt biên Việt Nam xấu số; bọn cướp biển đánh đập thanh niên và hãm hiếp phụ nữ kể cả trẻ em - có những bé gái chỉ mới 11 hay 12 tuổi. Thanh nữ Việt Nam trên đảo cố gắng ẩn núp trong các bụi rậm hay hang hốc mỗi khi hình dáng khủng khiếp của tàu đánh cá Thái xuất hiện trên chân trời. Những hành động ghê tởm tàn ác của bọn cướp biển đã khiến họ khiếp đảm cho nên họ phải trốn tránh trước khi chúng đặt chân lên đảo. Nhiều cô gái núp trong các hang ổ ngặp đầy nước mặn; chân của họ bị cua biển cắn nát nhưng họ phải cắn răng chịu đựng vì khiếp sợ sự hung bạo gướm guốc của hải tặc. Mỗi khi bọn cướp biển lên đảo, chúng trở thành những con thú săn người. Chúng lục soát hang hốc, bụi rậm và tra tấn những người tị nạn lộ diện một cách tàn nhẫn để tìm dấu tích của các cô gái. Vòng tròn khủng bố tái diễn và các thuyền nhân bất hạnh lại phải chịu đựng những hành động tàn ác của bọn hải tặc mỗi khi chúng đặt chân lên đảo. May mắn cho một số người tị nạn bị giam giữ trên Khra là đoàn cứu trợ nạn nhân hải tặc của CUTNLHQ thỉnh thoảng thám thính vùng đảo hoang phía đông nam Thái Lan sau khi phác giác bi kịch thuyền nhân bị hải tặc giam cầm và nô lệ hóa. Các nạn nhân được đưa vào trại tị nạn Songkhla để điều trị; nhiều cô gái phải được thuyên chuyển đến bệnh viện Thái ngay lập tức bởi vì chỉ có dụng cụ y khoa tân tiến và thuốc men đầy đủ mới có thể cứu sống được họ. Một số thiếu nữ phát bịnh tâm thần do kinh nghiệm kinh hoàng mà họ đã trải qua trên các hoang đảo; dù cố gắng hết sức, họ vẫn không thể quên đi được những hình ảnh hãi hùng trong cơ ác mộng ghê tởm vừa xảy ra. (28) Vào năm 1980, một thống kê nhỏ do nhóm thuyền nhân trong trại Songkhla thực hiện đưa ra những con số đau lòng sau đây: (29) 1980 Tháng 5 Tháng 6 Ghe nhập trại 41 36 Ghe bị hải tặc cướp 36 (88%) 35 (97%) Ghe bị dẫn độ đến Koh Khra 5 (12%) 1 (3%) Số phụ nữ nhập trại 384 440 Số phụ nữ mới nhập trại bị hải tặc hãm hiếp 92 (24%) 55 (13%) Nạn nhân bị giết hay mất tích trên biển (có chứng nhân/người biết đến) 70 3 Ðịa ngục trần gian Khra được ghi lại tương đối tỉ mỉ với nhiều chi tiết thương tâm. (30) Trong trường hợp của bà Nguyễn Thị Thưởng, gia đình bà rời Việt Nam trên chiếc ghe số SS0640 IA vào ngày 1-12-1979. Ghe của bà đã bị hải tặc chận cướp, và sau đó toàn thể 107 người tị nạn bị đẫn độ về đảo Khra. Khi còn cách bãi biển một đoạn xa, tất cả thanh niên Việt Nam bị đạp xuống nước khiến 7 người bị chết đuối vì không lội nổi vào bờ. Suốt 8 ngày bị giam giữ như nô lệ trên Khra, phụ nữ bị hãm hiếp và đàn ông bị đánh đập tàn nhẫn. Trong ngày thứ 3, một chiếc tàu mang số POLICE#513 đến đậu cách bãi biển vài chục thước nhưng không có phản ứng gì khi nghe lời kêu gào cầu cứu khẩn thiết của nhóm thuyền nhân bất hạnh. Bọn hải tặc trở lại vào những ngày sau đó và vòng tròn khủng bố lại tái diễn. Ðến ngày thứ 8, các nạn nhân được tàu CUTNLHQ phát hiện và đưa về trại tị nạn Songkhla. Với nguồn tài trợ dồi dào của cộng đồng thế giới và sự giúp đỡ của CUTNLHQ, Bangkok đã cho dựng một trạm thám thính ngay trên đảo Khra vào năm 1981 để cứu trợ nạn nhân hải tặc. Chỉ trong vòng 12 tháng, 1.250 thuyền nhân đã được giải thoát khỏi địa ngục Khra; 160 nạn nhân vô tội đã mất mạng trong khi chờ đợi được giúp đỡ. Một bản tường trình của CUTNLHQ thuật lại bi kịch kinh hoàng trên đảo như sau: 'Một phụ nữ bị phỏng rất nặng khi bọn hải tặc đốt phía đồi nơi cô ta đang lẫn tránh để bắt cô ta phải ra. Một cô khác trốn nhiều ngày trong một hang có nước lên tận eo bụng cho đến khi cua biển cắn nát gần hết da thịt chân của cô. Một bé gái đã qua đời sau khi bị (bọn hải tặc liên tục) hãm hiếp và được chôn với một tấm bia tạm bợ ở bìa rừng thưa thớt.' (31) Ðảo Khra không phải chỉ là một địa ngục duy nhất cho thuyền nhân Việt Nam. Tình hình trong trại tạm trú Kuku trên đảo Jemaja của Nam Dương là một cơn ác mộng hãi hùng khác cho người tị nạn. Tại Kuku, thuyền nhân bị giam giữ trong những lều quân đội trước khi được thanh lọc và cho phép di chuyển đến các trung tâm khác như trại tị nạn Palau Galang. Lợi dụng tình trạng bấp bênh của người tị nạn, về đêm lính Nam Dương thường xuyên bắt cóc và hãm hiếp phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn 1989-1990. (32) Theo lời kể của cô Nguyễn Thị Thủy - một thiếu nữ từng bị giam giữ trong trại Kuku hiện đang sống ở Toronto, Canada - các nạn nhân và gia đình của họ không dám chống đối vì lo sợ cho tính mạng. Bi kịch ghê tởm này chỉ bị phanh phui sau khi chú của một cô gái bị lính Nam Dương đánh chết vì dám chống đối lại chúng để bảo vệ cháu mình; cái chết thương tâm của thuyền nhân can đảm này đưa đến nhiều phản ứng bất lợi cho Jakarta trên chính trường quốc tế khiến chính quyền Nam Dương phải điều tra và ra lệnh truy tố các hành động đê tiện của đám lính canh gác Kuku. (33) Khra và Jemaja chắc chắn không phải là hoang đảo duy nhất có thuyền nhân bị hải tặc giam cầm, giết chóc cũng như đối xử thấp kém hơn nô lệ. Bao nhiêu hoang đảo khác nữa trong vùng vịnh Thái Lan đã trở thành địa ngục cho người tị nạn Việt Nam? Các chính quyền địa phương hoàn toàn không lưu tâm đến nỗ lực lâu dài cứu giúp thuyền nhân bị đày đọa tại các hoang đảo mặc dầu thỉnh thoảng toán đặc nhiệm bài trừ hải tặc Thái Lan có ghé 52 hoang đảo mà họ tình nghi là có đồng bào tị nạn Việt Nam bị cướp biển giam giữ (nhưng bao nhiêu tàu tuần tra như tàu số POLICE#513 kể trên có đến và đã nghe tiếng vang lạy của nạn nhân nhưng không chịu giúp mà cũng không thông báo cho CUTNLHQ). Chính sách của các chính quyền địa phương chú trọng vào nỗ lực ngăn cản làn sóng tị nạn Việt Nam hơn là nỗ lực bài trừ hải khấu; và vì vậy cho nên, một số quan sát viên quốc tế suy luận rằng tàu hải tặc và các thành phần tội ác có thể đã được chính quyền địa phương bao che để trở thành những con tốt ngăn cản thuyền nhân đến được bến bờ tự do. ------------------------------------ Chú thích: 27 Bangkok Post, 9 September 1979. 28 Bệnh tâm thần không chỉ ảnh hưởng thuyền nhân trên đảo Khra mà còn cả những nạn nhân đã trải qua một cuộc hải trình kinh hoàng. Ðiển hình là vào cuối năm 1979 tại đảo Bidong của Mã Lai, khoảng 28 thuyền nhân mang bệnh tâm thần trầm trọng nhưng trại không có điều kiện để giúp đỡ họ (đa số là phụ nữ từng bị hải tặc hãm hiếp). 29 Ibid., at p.56. 30 Một vài vụ được ghi lại trong tài liệu Pirates on the Gulf of Siam, 2nd Edi., của Nhat Tien, Duong Phuc, Vu Thanh Thuy, Boat People S.O.S. Committee, San Diego 1981. 31 'One woman was severely burned when the pirates set fire to the hillside where she was hiding in an attempt to flush her out. Another cowed for days in a cave, waist-deep in water, until crabs had torn the skin and much of the flesh away from her legs. A young girl who died after being gang raped is buried under a simple slab at the edge of a clearing.' Quoted in Barry Wain, The Refused: The Agony of the Indochina Refugees, supra, at p. 71. 32 Một trại tị nạn khác kinh hoàng không kém trại Kuku là trại NW82 của Thái Lan vốn giam giữ bộ nhân Việt Nam. 33 Phỏng vấn cô Nguyễn Thị Thủy vào ngày 30-11-1998 tại Lloyd Duong Attorneys Atrium ở Toronto, Gia Nã Ðại. Cô Thủy được Ottawa bảo trợ cho định cư vì lý do nhân đạo vào ngày 20-10-1992; quyết định này là phản ảnh hậu quả nghiêm trọng của vụ Kuku. Cô Thủy còn cho biết là giá để cho một thuyền nhân được đậu thanh lọc tại Nam Dương là $2.000 Mỹ kim, và họ được thông báo về hối phí này trước khi hồ sơ xin tị nạn của họ được xét hầu có thể kịp thời chạy tiền lo lót.
Reply With Quote
Last
- Jump to page:
- Site Areas
- Settings
- Private Messages
- Subscriptions
- Who's Online
- Search Forums
- Forums Home
- Forums
- Chủ Đề Chính
- Tin Việt Nam
- Tin Thế Giới
- Tin Cộng Đồng
- Ngược Dòng Lịch Sử
- Quân Sử Việt Nam Cộng Hòa
- Hồ Chí Minh
- Thư Bạn Đọc
- Kiến Thức
- Khoa Học - Kỹ Thuật
- Văn Hóa - Nghệ Thuật
- Tôn Giáo - Tâm Linh
- Triết Học
- Kiến Thức Phổ Thông
- Thế Giới Đó Đây
- Góc Thành Viên
- Giao Lưu - Giải Trí
- Linh Tinh
- Khéo Tay - Hay Làm
- Quán Văn Chương
- Thơ Văn Tự Sáng Tác
- Thơ Văn Sưu Tầm
- Lớp Học Làm Thơ
- Thơ Đường luật
- Thơ lục bát và các biến thể
- Thơ tự do
- Tin Riêng
- Tìm Người Thân
- Phân Ưu - Cáo Phó
- Bulletin Board
- Thông Báo Cộng Đồng
- Thông Báo Diễn Đàn
- Chuyện Nội Bộ
- Hộp Thư Liên Lạc
- Viện Giám Sát
Thread Information
Users Browsing this Thread
There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)
Similar Threads
-
Thuyền nhân Việt Nam, một chương sử bi thương - Vượt Biên
By TuyetNhiNguyen in forum Ngược Dòng Lịch Sử Replies: 0 Last Post: 27-05-2012, 03:19 AM -
Tội ác Cộng Sản Việt Nam: Thuyền Nhân
By Tigon in forum Tin Việt Nam Replies: 21 Last Post: 10-11-2011, 09:24 PM -
Thông Báo: Na Uy: Tuyển chọn Mô Hình Tượng Đà i Thuyền Nhân Việt Nam Tỵ Nạn Cộng Sản.
By gt2012 in forum Thông Báo Cộng Đồng Replies: 1 Last Post: 08-09-2011, 02:24 AM -
Thông Báo của Văn Khố Thuyền Nhân VN v/v Triển lãm Thuyền Nhân và Đêm Hội Ngộ Thuyền Nhân
By VanKhoThuyenNhanVN in forum Tin Cộng Đồng Replies: 1 Last Post: 27-04-2011, 04:57 AM -
Canada: Hội thảo Chuẩn bị hà nh trang cho thế hệ trẻ-Dạ tiệc gây quỹ Viện Bảo Tà ng Thuyền Nhân
By TheHeTre2010 in forum Thông Báo Cộng Đồng Replies: 0 Last Post: 11-12-2010, 05:59 AM
Bookmarks
Bookmarks
-
Digg -
del.icio.us -
StumbleUpon -
Google
Posting Permissions
- You may not post new threads
- You may not post replies
- You may not post attachments
- You may not edit your posts
- BB code is On
- Smilies are Off
- [IMG] code is On
- [VIDEO] code is On
- HTML code is Off
Forum Rules
-- Desktop ---- VNCH ---- Christmas ---- New Year ---- Equality ---- 30-04-1975 -- Mobile All times are GMT +7. The time now is 10:54 PM. Powered by vBulletin® Version 4.2.5 Copyright © 2026 vBulletin Solutions Inc. All rights reserved.Từ khóa » Tội ác Thuyền Nhân
-
Tượng Ðài Thuyền Nhân Và Dấu Tích Tội ác Cộng Sản - Nguoi Viet
-
Thuyền Nhân : Tội Ác Của Cộng Sản Việt Nam - YouTube
-
Thuyền Nhân: Tội Ác Của Cộng Sản Việt Nam
-
Văn Toàn - Sau 30/4/1975, Tại Việt Nam, Cuộc Cải Tạo ... - Facebook
-
Văn Toàn - [NHÌN LẠI TRANG SỬ ĐAU THƯƠNG] Vào đầu Thập ...
-
Thuyền Nhân – Wikipedia Tiếng Việt
-
XÓA DẤU VẾT TỘI ÁC - Saigon Times
-
Thuyền Nhân: ấn Tích Lịch Sử Dương Thành Lợi
-
Thuyền Nhân Việt Nam – Hãy để Ngày ấy Lụi Tàn | Tiếng Dân
-
Tận Cùng Của Tội ác...
-
'Cần đối Xử Công Bằng để Thực Sự Hòa Giải' - BBC News Tiếng Việt
-
Việt Nam: Hãy Hủy Bỏ Cáo Buộc đối Với Những Thuyền Nhân Bị Trao Trả
-
Văn Khố Thuyền Nhân - Mach Song Media