Thuốc Chữa Khỏi Bệnh Ngủ Lịm
Có thể bạn quan tâm
- Bệnh ngủ lịm là gì?
- Đông y chữa bệnh ngủ lịm
- Tây y chữa bệnh ngủ lịm
Bệnh ngủ lịm là gì?
Giới thiệu chung về bệnh
Chứng ngủ lịm là một bệnh hiếm gặp là bệnh nặng và xảy ra từng đợt ở người trẻ . Đó là những cơn buồn ngủ nặng nhất gặp ở người trẻ tuổi. Các bệnh nhân này thường trẻ, phải chống chọi liên tục với cơn buồn ngủ để duy trì sự tỉnh táo trong lúc đi học hay làm việc. Nguyên nhân do sử dụng các chất tác động lên thần kinh trung ương . Chứng ngủ lịm thường bị chẩn đoán trễ 10 năm. Về lâu dài, nó sẽ dẫn đến rối loạn nhịp tim, ngủ nhiều còn khiến chúng ta mắc phải các căn bệnh như đau dạ dày, rối loạn quá trình tiết dịch vị, ảnh hưởng xấu đến hệ tiêu hóa, rối loạn nội tiết, rối loạn nhịp sinh học. Điều trị chứng ngủ lịm thường kết hợp cả đông và tây y ngoài ra cần điều chỉnh thói quen sinh hoạt hằng ngày và thực hiện một lối sống lành mạnh.
Định nghĩa:
Chứng ngủ lịm là một rối loạn phức tạp, là một bệnh của giấc ngủ nghịch thường và thường xuất hiện đột ngột và “ từng mảng ”. Vì vậy chứng mất trương lực tương ứng với sự mất trương lực cơ trong giấc ngủ nghịch thường, các ảo giác tương ứng với các giấc mơ lúc tỉnh bao gồm nhiều hiện tượng khác nhau của giấc ngủ như ngủ nhiều nguyên phát, ngủ rũ, hội chứng ngừng thở khi ngủ. Người bệnh có thể ngủ từ 12 – 18 tiếng mỗi ngày, ngủ gật nhiều vào ban ngày hoặc kéo dài thời gian ngủ ban đêm.
Ngủ nhiều gây ra rất nhiều tác hại tới sức khỏe. Thông thường, khi chúng ta làm việc, tim sẽ đập nhanh hơn nhằm giúp tuần hoàn máu diễn ra ổn định. Việc ngủ nhiều sẽ khiến cho tim quen với nhịp độ hoạt động chậm nên khi làm việc, dù chỉ là công việc nhẹ nhàng cũng khiến tim đập nhanh.
Sinh bệnh học
Có sự mất chức năng của các tế bào thần kinh có hypocrétine (cũng gọi là orexine ) ở vùng dưới đồi trong chứng ngủ lịm với chứng mất trương lực. Hypocrénine là một phần của các chất gây thức tỉnh và thúc đẩy tất cả những hệ thống thức tỉnh khác (noradrénaline, histamine, sérotonine, dopamine). Sự tiết ra chất dẫn truyền thần kinh không xảy ra ở các bệnh nhân này và các tế bào thần kinh này biến mất khi phân tích não bộ. Việc mất các tế bào thần kinh tiết ra hypocrétine ở vùng dưới đồi có thể do nguyên nhân tự miễn. Điều này giải thích được việc bệnh xuất hiện ở người trẻ và có sự mất vĩnh viễn những các tế bào thần kinh này và có sự kết hợp đặc biệt giữa bệnh với loại hình gien HLA và thụ thể của lympho bào T.
Phân loại
Các dạng của bệnh ngủ nhiều
Ngủ nhiều nguyên phát
Ngủ nhiều nguyên phát là khi chúng ta ngủ nhiều vào ban đêm nhưng ban ngày vẫn cảm thấy rất buồn ngủ và hay ngủ gật. Đây là trạng thái nhẹ nhất khi chúng ta mắc phải căn bệnh ngủ nhiều. Ngủ nhiều nguyên phát có thể xảy ra trong vòng một tháng hoặc kéo dài tới vài tháng. Vẫn có khả năng chống lại những cơn buồn ngủ, tuy nhiên tình trạng này gây ảnh hưởng không nhỏ tới công việc và sinh hoạt hàng ngày. Đặc biệt, những cơn buồn ngủ này có thể gây nguy hiểm nếu xảy ra khi chúng ta đang lái xe hoặc làm các công việc đòi hỏi sự tỉnh táo.
Ngủ rũ
Ngủ rũ là khi chúng ta đi vào giấc ngủ mà không thể cưỡng lại được, cho dù ở bất kỳ thời điểm nào, khi chúng ta đang tham gia bất cứ hoạt động nào. Các cơn ngủ rũ thường rất ngắn và phối hợp với ngã khuỵu (mất trương lực cơ đột ngột), cùng với đó là các ảo giác nửa tỉnh nửa mơ. Thậm chí, nó còn có thể dẫn đến tình trạng liệt khi ngủ.
Hội chứng ngừng thở khi ngủ
Hội chứng ngừng thở khi ngủ có biểu hiện là ngừng hô hấp trong khoảng thời gian từ 20 – 40 giây khi chúng ta đang ngủ. Nguyên nhân gây nên tình trạng này là do tắc nghẽn đường lưu thông khí, do tổn thương não (u thân não) hoặc phối hợp cả hai loại trên. Hội chứng này gây giảm bão hòa oxy, làm tăng nồng độ carbonic trong máu. Đây chính là nguyên nhân khiến chúng ta tỉnh giấc liên tục trong đêm.
Chẩn đoán bệnh Ngủ lịm
Chẩn đoán chung
-Liệt trong lúc ngủ: không thể nhúc nhích cơ thể khi thức dậy, 50% trường hợp có kèm cảm giác nặng ngực và ảo giác.
-Nhiều lần thức giấc trong đêm (1/3 số ca), hay ngược lại người bệnh thức dậy rất khó khăn (15% trường hợp).
-Rối loạn hành vi trong giấc ngủ nghịch thường (lời nói dữ dằn và cử động mạnh bạo trong các giấc mơ) và MPJ xảy ra trong 1/3 trường hợp.
-Tăng cân trong chứng ngủ lịm khởi phát đột ngột
* Theo DSM - IV:
- Có các cơn buồn ngủ không thể cưỡng lại diễn ra hàng ngày, kéo dài ít nhất 3 tháng.
- Có một trong hai triệu chứng sau:
+ Mất trương lực cơ (hai bên, đột ngột)
+ Tái diễn cac yếu tố của ngủ REM khi chuyển trạng thái từ ngủ sang thức, có các ảo giác lúc dở thức dở ngủ, hoặc ngủ liệt xuất hiện luc đầu và kết thúc giai đoạn ngủ.
- Rối loạn không phải là hậu quả trực tiếp của một chất (ma túy, thuốc) hoặc một bệnh thực tổn.
Triệu chứng lâm sàng
Những triệu chứng bao gồm:
* Buồn ngủ dữ dội vào ban ngày – Hầu hết các bệnh nhân ngủ rũ đầu có triệu chứng này. Thông thường, việc buồn ngủ gây cản trở các hoạt động thường ngày (làm việc, học hành,…) vào mỗi ngày, cho dù bệnh nhân có ngủ đủ giấc vào ban đêm. Người bệnh thường u buồn về mặt tinh thần, thiếu năng lượng và sự tập trung, trí nhớ giảm (nhầm lẫn, quên), tâm trạng chán nản hoặc cực kỳ mệt mỏi.
* Sự tê liệt nhất thời – triệu chứng này gồm đột ngột mất trương lực cơ gây cảm giác yếu đuối và mất khả năng điều khiển cơ bắp. Trương lực cơ mất là do các cảm xúc mạnh như cười, đùa giỡn, ngạc nhiên hoặc giận dữ. Triệu chứng có thể xảy ra bất cứ lúc nào mà bệnh nhân thức, có thể chỉ là một cơn oằn đầu gối nhẹ hoặc tê liệt hoàn toàn dẫn đến té ngã. Tê liệt diễn ra có thể từ vai giây đến vài phút. Các cơn tê liệt xảy ra nhiều hay ít tùy vào mỗi bệnh nhân, có người chỉ gặp vài lần trong đời, nhưng có người lại gặp nhiều lần trong một ngày. Khoảng 60% bệnh nhân ngủ rũ có triệu chứng tê liệt.
* Tỉnh giấc nửa đêm – Triệu chứng này xuất hiện ở 60%-90% người bệnh. Sự thức giấc này có thể diễn ra thường xuyên nhưng phần lớn rất ngắn, và người bệnh thường không nhận thức được sự tỉnh giấc này.
* Bóng đè – Triệu chứng này ảnh hưởng khoảng 60% bệnh nhân chứng ngủ rũ, bao gồm việc mất khả năng cử động, nói chuyện tạm thời trong khi đang chìm vào giấc ngủ hoặc đang thức giấc. Nhiều trường hợp, bóng đè còn đi kèm cảm giác không thể thở được rất đáng sợ. Bóng đè thường biến mất sau một vài phút.
* Ảo giác – Thực tế cho thấy các ảo giác này rất sống động và có thể rất đáng sợ. Ảo giác xuất hiện khi bệnh nhân ngủ và ngay cả khi thức. Ảo giác có thể trực quan (nhìn thấy được), cảm thấy được hoặc nghe được. Nhiều bệnh nhân khi được hỏi đã mô tả rằng họ có thể thấy người hoặc động vật trong phòng, cảm giác trôi lơ lửng hoặc bị ai đó đụng chạm, và nghe thấy tiếng chuông hoặc giọng nói.
Xét nghiệm lâm sàng
- Xét nghiệm công thức máu, sinh hóa máu thường quy
- Tìm chất ma túy trong nước tiểu: test nhanh 4 hoặc 5 chỉ số.
- Điện não đồ, lưu huyết não, siêu âm Dopller mạch máu não
- Điện tâm đồ, X-quang tim phổi,
- CT Scaner, MRI sọ não
- Trắc nghiệm tâm lý: Test Beck, Zung, thang DASS, Hamilton, thang đánh giá chỉ số chất lượng giấc ngủ PSQI, MMPI,….
- Các xét nghiệm chuyên khoa khác.
Ngoài việc trực tiếp mục kích (hiếm khi) các cơn mất trương lực cơ, khi chẩn đoán luôn luôn phải có đa ký giấc ngủ ngày và đêm (trắc nghiệm đo thời gian tiềm thời hay chọc dò dịch não tủy để định lượng hypocrétine.
Xét nghiệm đo thời gian tiềm thời (TILE)
Người ta đề nghị người bệnh có 5 đợt ngủ ban ngày, mỗi đợt cách nhau 2 tiếng đồng hồ (ví dụ lúc 8giờ ,10giờ ,12giờ 14 giờ và lúc 16giờ )trong ít nhất 20phút nếu người bệnh không buồn ngủ và đến 15 phút sau khi ngủ nếu người bệnh buồn ngủ (như vậy cần tối đa 35 phút). Đo thời gian tiềm thời của mỗi đợt sau đó tính trung bình của 5 đợt cộng luôn số 20 (phút) nếu người bệnh không buồn ngủ. Để kết quả có giá trị, các đợt đo này phải được thực hiện sau khi đo đa ký giấc ngủ trong 6 giờ và không có hội chứng ngưng thở đáng kể. Các bệnh nhân bị chứng ngủ lịm thường ngủ sau ít nhất 8 phút (thông thường ít hơn) và có giấc ngủ nghịch thường trong ít nhất 2 đợt, tối thiểu 15 phút sau ngủ.
Định lượng Hypocrétine-1
Ở 90% bệnh nhân bị chứng ngủ lịm có mất trương lực, nồng độ hypocrétine-1 trong dịch não tủy < 110 pg/ml. Xét nghiệm này rất chuyên biệt cho chứng bệnh này. Ngược lại nếu giá trị bình thường có nghĩa là không bị chứng mất trương lực.
Kiểu hình gen (génotype HLA)
Sự liên kết genotype HLA DQB1*0602 rất nhạy (92% bệnh nhân bị chứng mất trương lực) nhưng ít chuyên biệt : 20% dân số bình thường mang nhóm HLA này và 50% người bị chứng ngủ lịm không có chứng mất trương lực. Đây là một tiêu chuẩn hổ trợ.
Biến chứng:
Mất ngủ ảnh hưởng đến sức khỏe, ngủ quá nhiều cũng vậy. Dưới đây là những ảnh hưởng do tình trạng ngủ quá nhiều gây ra.
- Bệnh tiểu đường: Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng ngủ quá nhiều hoặc không đủ mỗi đêm có thể làm tăng nguy cơ bệnh tiểu đường do sự rối loạn chuyển hóa insulin trong cơ thể.
- Béo phì: Ngủ quá nhiều hoặc quá ít có thể làm cho bạn tăng cân nhanh chóng. Những người ngủ chín hoặc 10 giờ mỗi đêm sẽ tăng cân cao hơn 21% trong khoảng thời gian 6 năm so với những người chỉ ngủ 7-8 giờ.
- Đau đầu: Đối với một số người dễ bị đau đầu, ngủ lâu hơn bình thường vào cuối tuần hoặc các kì nghỉ có thể gây ra chứng đau đầu. Các nhà nghiên cứu tin rằng điều này là do ảnh hưởng đến dẫn truyền thần kinh trong não, bao gồm serotonin. Những người ngủ quá nhiều trong ngày và phá vỡ giấc ngủ ban đêm của họ cũng có thể bị đau đầu vào buổi sáng.
- Đau lưng: Trước đây, các bác sĩ khuyên nếu đau lưng thì nên nằm nghỉ. Nhưng ngày nay, theo ý kiến của các chuyên gia sức khỏe thì vẫn nên thể dục thường xuyên cho dù bị đau lưng vì theo họ, nằm ngủ nhiều có thể là nguyên nhân khiến cho bệnh đau lưng trở nên trầm trọng hơn.
- Trầm cảm: Mặc dù mất ngủ thường liên quan đến chứng trầm cảm nhưng ngủ quá nhiều hơn cũng làm tăng nguy cơ trầm cảm đến 15% so với những người ngủ vừa đủ.
- Bệnh tim: Những phụ nữ ngủ chín đến 11 giờ mỗi đêm có nguy cơ mắc bệnh tim mạch vành cao hơn 38% so với những phụ nữ ngủ 8 giờ. Các nhà nghiên cứu vẫn chưa xác định được một lý do cho sự kết nối giữa tình trạng ngủ nhiều và bệnh tim nhưng nhiều người cho rằng có thể ngủ nhiều khiến cho các hoạt động trong cơ thể bạn bị trì trệ.
Dự phòng
* Giữ một thói quen ngủ và thức giậc.
* Tránh thiếu ngủ do cố ý, như thức khuya và cuối tuần.
* Tránh đồ uống có cồn và những thức uống gây trầm cảm.
* Điều chỉnh lịch làm việc và lịch học nếu có thể, như không tham gia các lớp học sớm vào buổi sáng.
* Nên chủ động có những giấc ngủ ngắn 20-30p để tránh trường hợp ngủ không có kiểm soát.
* Sử dụng lượng cafeine hợp lí (ít) để kích thích tỉnh táo khi cần thiết.
* Hết sức cẩn thận khi điều khiển xe máy, oto,… chỉ sử dụng khi có sự đồng ý của bác sĩ.
Đông Y Chữa Ngủ Lịm(发作性睡病)
(Linh Khu Vinh Vệ Sinh Hội) viết " vinh vệ chi hành bất thất kì thường cố thần minh nhi dạ án "( Linh Khu Khẩu Vấn) viết" vệ khí thần nhật hành dương , dạ bán hành ư âm, âm dã trụ dạ, dạ giã chủ ngoạ. Hựu văn "dương khí trì mà âm khí thịnh , âm khí trì mà dương khí thịnh". Đông y cho rằng giấc ngủ có quan hệ mật thiệt với vệ khí , chỉ ra rằng từ giấc ngủ của cơ thể và sự tỉnh táo được quyết định ở sự vận hành âm dương của vệ khí sự thăng giáng xuất nhập của khí, vệ khí đi đến phần âm thì xuất hiện trạng thái ngủ vệ khí đi ở phần dương thì tỉnh táo , phần dương nhập vào phần âm thì sẽ ngủ , phần dương xuất ra khỏi phần âm thì sẽ tỉnh. Từ đó có thể thấy nguyên nhân dẫn đến sự thăng giáng thất thường của âm dương đều có thể tạo thành ngủ lịm . (Thương hàn luận biện thiếu âm bệnh mạch chứng tịnh trị ) viết : " thiếu âm vi bệnh ,mạch vi tế đáng giục mị giã " cũng nói rõ rằng ngủ lịm là do phần âm thịnh và phần dương hư dẫn đến bởi vì phần dương thì chủ động mà phần âm thì chủ tĩnh âm thịnh thì sẽ ngủ nhiều. Lý đông viên nói "tỳ khí hư tắc đãi ngoạ " do tỳ vị bất túc vị khí hư khiến cho sự thăng giáng thất thường thanh trọc bất phân làm cho mộng mị tâm thần phát sinh ra ngủ nhiều . Tạp bệnh nguyên lưu tề trùng có nói " đa mị tâm tỳ bệnh dã , nhất do tâm thần hôn trọc , bất năng tự chủ , nhất do tâm hoả hư suy bất năng sinh thổ nhi kiện vận " tâm tỳ lưỡng hư khiến cho tâm khí bất túc người mệt mỏi tinh thần không sáng suốt khiến cho cơ thể không thể tự chủ được ngủ nghỉ .
Biện chứng phân thể trị liệu
Tỳ hư thấp khốn
Triệu chứng: luôn luôn buồn ngủ người nặng thích nằm , nằm co người mệt nặng đầu người mỏi ăn xong muốn đi ngủ luôn hình thể thiên về béo lưỡi chất đạm rêu trắng bẩn mạch nhu hoãn
Pháp điều trị: táo thấp tỉnh tỳ hoá đàm khai khiếu
Bài thuốc:
Hoắc phát hạ linh thang và nhị trần thang gia giảm
Hạnh nhân 12g ý dĩ nhân 12g Bạch đậu khấu 12g Bán hạ chế 6g Hậu phác 6g Hoắc hương 12g Đậu xị 12g Xích linh 12g Trư linh 12g Trạch tả 6g .
Châm cứu
- Châm bổ: Nội quan, Thần môn, Thái bạch, Tâm du, Tỳ du, Tam âm giao, Túc tam lý. Thời gian 20 – 30 phút/lần x 1 lần/ngày.
- Nhĩ châm: Tâm, tỳ, thần môn, vùng dưới vỏ. Thời gian 20 – 30 phút/lần x 1 lần/ngày.
Khí công dưỡng sinh: Tập các bài luyện ý, luyện thở. Thời gian tập tối đa 20 phút/lần x 1 – 2 lần/ngày.
Can đởm thực nhiệt
Triệu chứng: tinh thần mơ màng thường hay muốn ngủ buổi đêm hay mơ nhiều dễ tỉnh giấc ngực sườn đầy tức miệng đắng ngực đầy chất lưỡi đỏ rêu vàng mạch huyền sác .
Pháp điều trị: thanh đảm tả nhiệt hoá đàm khai khiếu
Bài thuốc: Cao linh thanh đảm thang hoặc dùng hoàng liên ôn đởm thang.
Bán hạ (chế) 8g Cam thảo .4g Chỉ thực 12g Hoàng liên 8g Phục linh 12gTáo .5 quả Trần bì .8g Trúc nhự 8g
Châm cứu
- Châm bổ: Nội quan, Thần môn, Thái bạch, Tâm du, Tỳ du, Tam âm giao, Túc tam lý. Thời gian 20 – 30 phút/lần x 1 lần/ngày.
- Nhĩ châm: Tâm, tỳ, thần môn, vùng dưới vỏ. Thời gian 20 – 30 phút/lần x 1 lần/ngày.
Khí công dưỡng sinh: Tập các bài luyện ý, luyện thở. Thời gian tập tối đa 20 phút/lần x 1 – 2 lần/ngày.
Đàm ứ trở khiếu
Triệu chứng: buồn ngủ tối ngày khi ngủ thì chảy nước dãi buồn ngủ hay ngủ gật đau nữa đầu phản ứng châm chạp biểu hiện dị thường nói chuyện không rõ ràng lưỡi bệu có điểm ứ rêu trắng bẩn mạch trầm sáp hoặc hoạt.
Pháp điều trị: điều đàm khai khiếu hoạt huyết thông lạc
Bài thuốc: Điều đàm thang cùng với Thông khiếu hoạt huyết thang
Bán hạ chế 12g trần bì 12g phục linh 12g cam thảo 6g chỉ thực 12g chế nam tinh 12g xích thược 8g xuyên khung 8g đào nhân 8g hồng hoa 12g sinh khương 3 lát xạ hương 10g.
Châm cứu
Châm tả: các huyệt Phong long, Túc tam lý, Thái xung, Thiếu hải. Châm bổ các huyệt Túc tam lý, Tỳ du, Nội quan, Thần môn, Tam âm giao.
Khí công - dưỡng sinh: tập các bài luyện ý, luyện thở. Thời gian tập tối đa: 20 phút/lần x 1 - 2 lần/ngày.
Tâm tỳ lưỡng hư
Triệu chứng: tinh thần mệt mỏi đau đầu chóng mặt tứ chi vô lực khi ngủ chảy nước miếng há miệng thè lưỡi nói chuyện khó khăn sắc mặt vàng tối hay quên dễ kinh sợ hay mơ nhiều chất lưỡi đạm rêu lưỡi trắng mỏng mạch trầm tế nhược .
Pháp điều trị bổ ích khí huyết hoá đàm khai khiếu
Bài thuốc: Quy tỳ thang hoà Linh quế trục cam thang gia giảm.
Bạch truật 12g Nhân sâm 12gPhục thần 12g Mộc hương 6g Hoàng kỳ 12g Cam thảo Trích 6g Long nhón 12g Đương quy 8g Phục linh 12g Quế chi 12g. Châm cúu. Châm bổ: nội quan, thần môn, cách du, tâm du, tam âm giao, trung đô. Thời gian: 20 - 30 phút/lần x 1 lần/ngày. Nhĩ châm: tâm, thần môn, vùng dưới vỏ. Thời gian: 20 - 30 phút/lần x 1 lần/ngày.
Khí công - dưỡng sinh: tập các bài luyện ý, luyện thở. Thời gian tập tối đa: 20 phút/lần x 1 - 2 lần/ngày.
Thận dương bất túc
Triệu chứng: tinh thần mệt mỏi buồn ngủ ngủ nhiều dáng vẻ trầm mặc lười nói lưng gối đau mỏi đầu váng mắt hoa tư duy trì trệ kí ức giảm sút lưỡi đạm rêu trắng bẩn mạch trầm. Pháp điều trị: ôn bổ thận dương hoá đàm khai khiếu
Bài thuốc Thận khí hoàn gia giảm.
Thục địa 8g Trạch tả 3g Nhục quế 1g Hoài sơn 4g Phục linh 3g Phụ tử chế 1g Sơn thù 4g Đan bì 3g. Châm cứu:
- Châm bổ: Thái khê, Thận du, Thần môn, Tam âm giao. Thời gian 20 – 30 phút/lần x 1 lần/ngày.
- Nhĩ châm: Tâm, thận, thần môn, vùng dưới vỏ. Thời gian 20 – 30 phút/lần x 1 lần/ngày.
Khí công dưỡng sinh: Tập các bài luyện ý, luyện thở. Thời gian tập tối đa 20 phút/lần x 1 – 2 lần/ngày.
Các nghiên cứu hiện đại
Vương Thị biện chứng
Vương thị biện chứng trị liệu thần kinh suy nhược trên 107 bệnh nhân chứng tâm tỳ lưỡng hư dùng đẳng sâm30g phục thần20g hoàng kỳ 20g sơn dược 20g viễn trí 10g bạch truật 10g táo nhân 10g long nhãn 10g dạ giao đằng 15g cam thảo 6g thể âm hư hoả vượng sinh địa 20g sơn thù 15g phục linh15g trạch tả 10g tri mẫu 10g sơn dược 10g đan bì 15g táo nhân 10g hoàng bá 10g mạch đông12g viễn trí 6g, thể tỳ vị bất hoà dùng bán hạ10g chỉ thực10g xuyên hậu phác 10g táo nhân 10g thái tử sâm trần bì phục linh 10g trúc nhự 5g sắc uống hoặc làm hoàn . Trị khỏi 82 bệnh nhân có hiệu quả rõ rệt 17 bệnh nhân chiếm tỉ lệ 92,52%(tạp chí hồ nam trung quốc 1995-5:38)
Triều Thị
Từ ứ huyết mà biện chứng luận trị : triều thị dùng bài huyết phủ trục ứ thang để điều trị chứng huyết ứ trong ngủ lim trên 40 bệnh nhân bản phương bao gồm đương quy 15g sinh địa 12g xích thược12g xuyên khung 10g đào nhân 10g chỉ thực 6g sài hồ 6g cát cánh 6g xuyên ngưu tất 15g tây hồng hoa 2g( sắc riêng) sắc uống mỗi ngày một thang triệu chứng cải thiện khí hư gia tây dương sâm, hoặc thái tử sâm,tỳ hư gia bạch truật phục linh , âm hư gia. Agiao giác bản tri mẫu trị khỏi cho 20 bệnh nhân, có hiệu quả rõ rệt 16 bệnh nhân 4 bệnh nhân không có kết quả( tạp chí hồ nam trung quốc 1995-5-38).
Hoa Thị luận tri:
Từ tâm tỳ luận trị Hoa thị dùng kiện não hoàn điều trị chứng hậu thần kinh suy nhược trên 153 bệnh nhân dùng hồng sâm 9g hoàng kì chích mật 12g mai rùa nước 12g (đập nhuyễn sắc trước)mạch đông 12g, ích trí nhân 12g thạch xương bồ ( sắc sau) 12g ngũ vị tử bắc 10g viễn trí 6g đương quy 8g sắc uống mỗi ngày một thang trong liệu trình liên tục 1 tháng dùng 2 liệu trình. Trị khỏi cho 23 bệnh nhân hiệu quả rõ rệt 78 bệnh nhân kết quả tốt 44 bệnh nhân không có kết quả 8 bệnh nhân chiếm tỉ lệ 94,77%( tân trung y 1998:(1):28)
Cát Thị luận trị:
Từ can đởm luận trị. Cát thị luận trị tính bảo thủ của ngủ lịm bệnh nhân uất lâu ngày tổn thương thần cần sơ can giải uất điều khí sướng huyết . Bệnh nhân can hoả nhiễu thần tư âm nhuận táo thanh nhiệt bình can , bệnh nhân can khí bất hoà bổ khí ích đởm hoá đàm định tâm , bệnh nhân can huyết bất túc tư âm dưỡng huyết nhu can an thần( tạp chí trung y dược thượng hải 1997:(7): 28)
Điều Trị Ngủ Lịm Theo Tây YĐiều trị nội khoa
Nguyên tắc:
- Tìm hiểu nguyên nhân của chứng ngủ lịm: do loạn thần, do rối loạn cảm xúc, do bệnh lý tâm căn, hay do bệnh lý thực thể.
- Khai thác kỹ về nhân cách, sang chấn tâm lý, hoàn cảnh sống, hoàn cảnh phát sinh...
- Tránh lạm dụng thuốc.
- Áp dụng nhiều biện pháp: vệ sinh giấc ngủ, liệu pháp tâm lý, hóa dược.
Vệ sinh giấc ngủ:
Là việc thực hiện một số biện pháp cải thiện giấc ngủ và giới hạn các hành vi không tốt cho giấc ngủ để có một giấc ngủ tốt mà không dùng thuốc. Sắp xếp giờ ngủ và thức dậy đúng đều đặn (dao động trong khoảng 1 tiếng) trong suốt cả tuần. Việc ngủ "nướng" không có chất lượng và làm sai nhịp thức-ngủ sinh học tự nhiên. Một số lời khuyên giúp cải thiện vệ sinh giấc ngủ là:
- Không sử dụng các chất tác động lên thần kinh trung ương (rượu, café, trà đặc, vitamin B6, C...) đặc biệt là vào buổi chiều, tối.
- Tránh ăn quá no, hoặc ăn nhiều chất quá mặn, quá ngọt, thức ăn khó tiêu vào bữa tối. Nên dùng bữa tối trước giờ đi ngủ ít nhất 3-4 tiếng.
- Tránh căng thẳng về tâm lý, cảm xúc, cần phải tạo ra trạng thái thoải mái trước khi đi ngủ. Có chế độ làm việc, nghỉ ngơi giải trí, rèn luyện thân thể,… hợp lý. Tập thể dục đều đặn hàng ngày, tránh tập thể dục nặng trong vòng 4 tiếng trước khi ngủ.
- Không xem ti vi nhiều giờ liền trước khi ngủ, không trò chuyện quá lâu trên giường ngủ.
- Không nên ngủ ngày nhiều.
- Chỉ đi ngủ khi đã cảm thấy buồn ngủ và sẵn sàng cho giấc ngủ.
- Phòng ngủ thích hợp: phòng ngủ cần yên tĩnh, thoáng mát không quá nóng hoặc quá lạnh, hạn chế ánh sáng, tiếng ồn và không nên lên giường quá sớm. Phòng ngủ chỉ nên dùng để ngủ, không nên dùng cho các công việc khác.
- Đi ngủ vào giờ nhất định mỗi đêm. Nếu có thể được, nên thức dậy đúng giờ mỗi buổi sáng, ngay cả khi bạn cảm thấy mệt mỏi, không nên nằm nán lại trên giường quá lâu.
Điều trị cụ thể
- Chế độ ngủ ngắn bắt buộc hàng ngày thường có kết quả tốt cho người ngủ lịm, ví dụ tạo điều kiện cho bệnh nhân có thời gian đi ngủ ngắn cứ sau 4 giờ/lần. Mỗi giờ ngủ có thể chỉ cần kéo dài 15 đến 30 phút thì cũng có kết quả tốt.
Hiện nay việc điều trị chứng ngủ lịm bằng điều hòa miễn dịch chưa mang lại hiệu quả và chưa có hypocrétine dạng uống. Bệnh chỉ được điều trị triệu chứng bằng thuốc kích thích sự thức tỉnh (modafinil, méthylphénidate), thuốc chống sự mất trương lực (thuốc chống trầm cảm ngăn chặn sự mất trương lực) và sodium oxybate.
- Sử dụng thuốc chống trầm cảm:
Fluoxetin 20 mg x 1- 2 viên/ngày uống vào buổi tối.
- Thuốc kích thần: Modafinil
- Kết hợp thay đổi lối sống, thư giãn tập luyện.
Từ khóa » Ngủ Lịm Nghĩa Là Gì
-
Ngủ Lịm - Chứng Bệnh Nguy Hiểm
-
Chứng Ngủ Lịm - Hello Bacsi
-
Điều Trị Chứng Ngủ Rũ | Vinmec
-
Từ điển Tiếng Việt "ngủ Lịm" - Là Gì?
-
Chứng Ngủ Lịm - VnExpress
-
'ngủ Lịm đi' Là Gì?, Từ điển Tiếng Việt
-
Nghĩa Của Từ Lịm - Từ điển Việt
-
Ngủ Lịm Là Gì - Chứng Bệnh Nguy Hiểm - SOHA
-
Những Rối Loạn Xảy Ra Trong Giấc Ngủ - Phiên Bản Dành Cho Chuyên Gia
-
Từ Điển - Từ Lịm Có ý Nghĩa Gì - Chữ Nôm
-
Ngừng Thở Tắc Nghẽn Khi Ngủ - Phiên Bản Dành Cho Chuyên Gia
-
BÀI 20 HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ CÁC RỐI LOẠN ...
-
Điều Trị Chứng Ngủ Rũ - Bloomaxx