Thuốc Chữa Khỏi Bệnh Sỏi Thận
Có thể bạn quan tâm
Khái niệm
Bệnh sỏi thận là gì?
Sỏi thận được cấu thành bởi các tinh thể muối và khoáng chất trong nước tiểu kết hợp lại với nhau, tạo thành nhiều “viên sỏi” nhỏ bên trong thận hoặc bên trong đường tiểu. Các viên sỏi ấy có thể nhỏ như hạt cát hoặc cũng có thể to cỡ quả bóng gôn. Sỏi thận là nguyên nhân thường thấy của máu trong nước tiểu và thường gây đau bụng, đau ở hai bên sườn, hoặc đau ở vùng háng dữ dội. Sỏi thận thường do nhiều nguyên nhân gây nên như nhiễm khuẩn đường tiết niệu ,uống ít nước ,hẹp khúc nối bể thận . Điều trị sỏi thận trên lâm sàng thường kết hợp cả đông và tây y kết hợp với thay đổi thói quen sinh hoạt hằng ngày.
Định nghĩa:
Sỏi thận là một bệnh thường gặp và hay tái phát do sự kết thạch cùa một số thành phần trong nước tiểu ở đường niệu trên, trong những điều kiện lý hóa nhất định, chất khoáng trong nước tiểu lắng đọng lại ở thận, lâu ngày kết lại tạo thành sỏi. Sỏi có thể gây tắc đường tiết niệu, gây nhiễm khuẩn và suy thận.
Cơ chế bệnh sinh
- Có nhiều giả thuyết lý giải sự hình thành sỏi niệu, nhưng các giả thuyết này đều có điểm chung là: sỏi niệu hình thành do có sự xuất hiện tinh thể bất thường trong nước tiểu kéo dài trong thời gian đủ lâu để hình thành sỏi.
- Nước tiểu phải ở tình trạng quá bão hòa với muối của tinh thể đó.
- Nước tiểu phải hiện diện các proteine đóng vai trò chất nền cho sự lắng đọng của tinh thể.
Nguyên nhân
Sỏi thận tiết niệu do nhiều nguyên nhân gây nên. Thường do nhiều nguyên nhân cùng phối hợp để tạo sỏi. Cơ chế tạo sỏi cũng tùy từng nguyên nhân mà khác nhau.
- Các dị tật bẩm sinh gây ứ đọng nước tiểu : hẹp khúc nối bể thận, thận móng ngựa, niệu quản đôi, phình niệu quản.
- Nhiễm khuẩn niệu.
- Uống nước không đủ .
- Người ít vận động.
Phân loại
Những sỏi thường gặp là:
Sỏi calci: chiếm 90% trường hợp.
Thường là do nước tiểu quá bão hòa muối calci.
Có thể do thiếu, giảm citrat niệu. Citrat có tác dụng ức chế kết tinh các muối calci. Khi có toan máu, nhiễm khuẩn tiết niệu, hạ K+ máu, citrat niệu thường giảm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tạo sỏi.
Sỏi acid uric:
Do tăng acid uric máu (bệnh Gút) gây nước tiểu quá bão hòa acid uric và tạo sỏi. Trong điều kiện nước tiểu acid thì acid uric càng dễ kết tinh.
Sỏi struvit:
Nguồn gốc là nhiễm khuẩn tiết niệu. Vi khuẩn tiết ra men urease làm phân hủy urê, tạo thành amoniac (NH4OH). Amoniac bị phân hủy tạo thành amonium NH4+ và OH-gây kiềm hóa nước tiểu. Struvit (MgNH4PO4.6H2O) được tạo thành và trong điều kiện nước tiểu kiềm hóa thì khó hòa tan và tạo sỏi.
Sỏi oxalat:
Nguồn gốc có thể do di truyền gen lặn trên nhiễm sắc thể thường gây loạn dưỡng oxalat. Tăng oxalat niệu tạo điều kiện tạo sỏi oxalat calci ngậm 1 phân tử nước. Sỏi oxalat phối hợp hằng định với lắng đọng calci.
Sỏi cystin:
Do rối loạn vận chuyển cystin ở ống thận và ở niêm mạc ruột, nguyên nhân do di truyền gen lặn nằm trên nhánh ngắn của nhiễm sắc thể thứ 14. Sỏi cystin thường đi với một bệnh cảnh bệnh lý ống thận di truyền (đa niệu, hạ K+máu).
Trên thực tế lâm sàng, sỏi thận tiết niệu thường là sỏi hỗn hợp. Từ một sỏi đầu tiên không có calci (sỏi struvit, acid uric, cystin) nhưng sau đó lắng đọng calci. Vì vậy sỏi thận tiết niệu thường là sỏi cản quang.
Chẩn đoán tây y
Chẩn đoán chung
- Tiền sử.
- Đau hông lưng hoặc đau quặn thận.
- Đái máu.
- Các triệu chứng của biến chứng:
. Nhiễm khuẩn tiết niệu.
. Thận to nghi ứ nước, ứ mủ.
- X quang: Xác định sỏi cản quang (chụp bụng không chuẩn bị), hoặc sỏi không cản quang (UIV). Trong trường hợp cần thiết chụp UPR hoặc chụp bể thận niệu quản qua da.
- Siêu âm: Phát hiện sỏi bể thận và một số sỏi niệu quản.
Triệu chứng lâm sàng
Triệu chứng cơ năng
Biểu hiện lâm sàng của sỏi thận rất đa dạng. Tùy thuộc vào vị trí của sỏi, vào độ to nhỏ của sỏi, vào các biến chứng do sỏi gây ra. Triệu chứng lâm sàng còn có thể liên quan đến loại sỏi (calci, struvit, cystin…) do nguyên nhân và bệnh sinh có khác nhau.
a. Có thể có tiền sử đái sỏi hoặc nhiễm khuẩn tiết niệu tái phát nhiều lần: đái buốt, đái rắt, đái đục, đái mủ tái phát nhiều lần. Có thể đái ra sỏi.
b. Đau:
- Cơn đau dữ dội, thường được gọi là “cơn đau quặn thận”. Đau thường khởi phát từ các điểm niệu quản, lan dọc theo đường đi của niệu quản xuống phía gò mu. Cũng có khi đau xuyên cả ra hông, lưng. Có khi nôn, buồn nôn. Nguyên nhân đau thường do sỏi di chuyển từ trên đài, bể thận xuống gây căng niệu quản, tăng áp lực trong lòng niệu quản và co thắt niệu quản.
- Đau âm ỉ gặp ở những sỏi vừa và thậm chí lớn nhưng nằm ở vị trí bể thận.
- Các sỏi niệu quản rất nhỏ di chuyển cũng thường gây cơn đau êm dịu hơn.
- Đau hông lưng còn có thể do ứ nước bể thận do sỏi trung bình và to ở niệu quản gây tắc nghẽn niệu quản.
- Đau hông lưng âm ỉ đôi khi có thể là một biểu hiện lâm sàng của viêm bể thận cấp do sỏi.
- Đau kèm theo bí đái có thể là do sỏi đã chít tắc ở cổ bàng quang hoặc lọt ra niệu đạo.
c. Đái máu: Có thể đại thể hoặc vi thể và là biến chứng thường gặp của sỏi thận tiết niệu, nhất là khi sỏi đang di chuyển bên trong niệu quản gây đau kèm đái ra máu.
d. Đái buốt, đái rắt, đái mủ: Là biểu hiện của nhiễm khuẩn tiết niệu.
e. Sốt: Sốt cao, rét run kèm theo với triệu chứng đau hông lưng, đái buốt, đái rắt, đái mủ là dấu hiệu của viêm thận - bể thận cấp.
f. Các dấu hiệu tắc nghẽn đường bài niệu:
- Đái tắc từng lúc, đái ngập ngừng: sỏi bàng quang.
- Đái tắc hoàn toàn: sỏi niệu đạo.
- Thận to: ứ nước bể thận do sỏi niệu quản hoặc sỏi bể thận chỗ đổ ra niệu quản.
Triệu chứng thực thể
- Dấu hiệu chạm thận (+): khi thận giãn to.
- Dấu hiệu bập bềnh thận (+) khi thận giãn to, không viêm dính với thành lưng.
- Ấn các điểm niệu quản trên, giữa, dưới đau: khi sỏi niệu quản nằm tương ứng vị trí đó
- Có thể thấy thận to nổi gồ thành bụng.
Xét nghiệm lâm sàng
a. Chẩn đoán hình ảnh:
- Chụp bụng không chuẩn bị: phát hiện sỏi cản quang.
- Chụp UIV: Xác định chính xác vị trí của sỏi cản quang, đồng thời đánh giá được chức năng thận từng bên. Chụp UIV cũng để phát hiện những sỏi không cản quang.
- Chụp thận ngược dòng (UPR) khi cần thiết: có tình trạng tắc nghẽn nhưng phim chụp thường không phát hiện được sỏi, chụp UIV thận không ngấm thuốc do tình trạng tắc nghẽn.
- Chụp bể thận, niệu quản qua da và qua bể thận: Khi có tắc nghẽn rõ mà UPR không làm được (chống chỉ định do nhiễm trùng bàng quang nặng hay do làm bị thất bại).
- Siêu âm: phát hiện sỏi bể thận và một số sỏi niệu quản (sỏi ở đoạn đầu và đoạn cuối của niệu quản). Siêu âm thận còn cho biết tình trạng nhu mô thận (xơ hóa) và tình trạng đài bể thận (giãn).
- Soi bàng quang: phát hiện sỏi bàng quang, tình trạng viêm niêm mạc bàng quang.
Xét nghiệm máu và nước tiểu
- HC, BC trong nước tiểu nhiều
- Các tinh thể như oxalat, phosphat trong nước tiểu nhiều
- XN công thức máu:
HC thấp khi: thận mủ, suy thận, đái máu kéo dài, hoặc do suy thận.
BC máu tăng cao gặp khi nhiễm khuẩn niệu nặng như viêm bể thận cấp.
- XN sinh hoá: định lượng urê, creatinin đánh giá tình trạng suy thận.
- Đồng vị phóng xạ: đánh giá chức năng thận
- Cấy khuẩn niệu: Vi khuẩn (+) khi có nhiễm khuẩn niệu.
Biến chứng
- Giãn đài bể thận và thận ứ niệu:
Sỏi gây cản trở lưu thông của đường bài xuất nước tiểu gây ứ trệ đường niệu phía trên dẫn đến giãn đài bể thận, sau đó ứ nước tăng dần nên làm căng giãn và chèn ép nhu mô thận dẫn đến tình trạng suy giảm dần chức năng thận và mất hoàn toàn chức năng thận nếu không được xử trí kịp thời.
- Sỏi gây nhiễm khuẩn hệ tiết niệu: như viêm bể thận thận, viêm khe thận. Tình trạng nhiễm trùng kết hợp với ứ niệu gây thận ứ mủ, hoặc hư mủ thận. Nặng hơn có thể gây ra nhiễm khuẩn huyết.
- Sỏi gây tình trạng viêm khe thận mãn tính kéo dài dẫn đến tình trạng xơ teo thận, HA cao.
- Sỏi gây suy thận: thường gặp trong trường hợp sỏi cả hai bên hệ tiết niệu hoặc sỏi trên thận đơn độc, đây là biến chứng nặng nề. Có thể gặp suy thận cấp hoặc suy thận mãn và các mức độ suy thận nặng nhẹ khác nhau tuỳ thuộc vào đặc điểm của sỏi.
- Sỏi gây ra viêm loét và xơ hoá tại vị trí sỏi, đây là nguyên nhân gây chít hẹp đường niệu sau khi đã phẫu thuật lấy sỏi.
Dự phòng
Với bất kỳ loại sỏi nào:
- Cần phải uống nhiều nước để đảm bảo lượng nước tiểu ít nhất là từ 2,5 lít/24giờ trở lên.
- Chữa các đợt nhiễm khuẩn tiết niệu, viêm thận bể thận.
- Chữa các triệu chứng và các biến chứng khác: Ứ nước, ứ mủ bể thận, bí đái ...
* Với sỏi cystin:
- Uống nhiều nước đảm bảo lượng nước tiểu ≥ 2,5 lít/24giờ.
- Kiềm hóa nước tiểu:
. Natribicarbonat 6 g/24giờ chia 4 lần.
. Kalicitrat liều tương tự.
. Mục đích đạt pH niệu: 7 - 7,5.
* Sỏi acid uric:
- Uống nhiều nước đảm bảo lượng nước tiểu ≥ 2,5 lít/24giờ.
- Hạn chế thức ăn nhiều acid uric (đạm 0,6 g/kg/24giờ).
- Kiềm hóa nước tiểu bằng Natribicarbonat hoặc Kalicitrat.
* Sỏi struvit:
- Uống nhiều nước.
- Điều trị tích cực nhiễm khuẩn tiết niệu.
- Sau khi mổ lấy sỏi vẫn cần kiểm soát, điều trị tốt nhiễm khuẩn tiết niệu.
* Sỏi calci:
- Cần uống nhiều nước.
- Chế độ ăn hạn chế calci.
- Hạn chế hấp thu calci ở ruột:
. Tránh dùng Vitamin D, dầu cá, đặc biệt là 1-25 hydroxycalciferol D3.
. Có thể cho tiêm: Thiazid (Hypothiazid 25mg x 2 lần/24giờ), mục đích nhằm đào thải calci niệu. Orthophosphat: 1000-1500 mg/24giờ chia 3 lần, mục đích đào thải pyrophosphat ra nước tiểu sẽ ức chế kết tinh phosphatcalci.
- Thăm dò tìm nguyên nhân rối loạn chuyển hóa:
. Cường cận giáp tiên phát, thứ phát: cắt bỏ tuyến cận giáp.
. Bệnh lý toan hóa do ống thận: cho citrat kali liều 4-6 g/24giờ chia 4 lần. Đông Y Chữa Sỏi Thận (肾结石)
Theo y học cổ truyền thì sỏi thận thuộc chứng thạch lâm (sa lâm). Đông y cho rằng thạch lâm đa phần do hạ tiêu thấp nhiệt chưng kết mà thành làm tổn thương âm dịch dẫn đến thận hư âm thương niệu dich sáp kết nước tiểu ít . Kết quả dẫn dến kết thạch trở trệ niệu đạo tổn thương huyết lach dẫn đến đau lưng .
Nguyên nhân có thể do âm khuyu tổn âm hư nội nhiệt, nhiệt thiêu đốt tâm dẫn đến tổn thương thận âm bệnh biến nhiều ngày khiến cho hình thành khí trệ huyết ứ phần âm bị tổn thương kéo theo phần dương tỳ thận lưỡng hư âm dương lưỡng hư khí huyết bất lợi mà thành long bế, do bàng quang khí hóa mất điều, phế khí hư không túc giáng thông điều thủy đạo, thận hư không chủ được thủy thấp nhiệt uẩn kết ở hạ tiêu, nước tiểu chưng đốt lâu ngày mà sinh ra thấp thủy, thấp nhiệt kết đình lưu sinh ra thạch lâm.
Biện chứng phân thể trị liệu:
Bàng quang thấp nhiệt:
Nguyên nhân do ăn nhiều thức ăn cay, nóng, béo, ngọt, hoặc nghiện rượu lâu ngày gây thấp nhiệt, thấp nhiệt lâu ngày làm cho cặn trong nước tiểu tụ thành sỏi.
Triệu chứng: Người bệnh có biểu hiện tiểu tiện ra máu, kèm theo đau quặn bụng, tiểu tiện nhiều lần, đái buốt, miệng đắng họng khô, bụng dưới tức trướng, chất lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch huyền hoạt.
Pháp điều trị: khu trừ thấp nhiệt
Dùng bài Tam kim bài thạch thang:
Kim tiền thảo 30 g, kê nội kim 12 g, hải kim sa 15 g, thạch vĩ 12g , hổ phách 12 g, xuyên ngưu tất 12g, cam thảo 5g.
Sắc uống ngày một thang, trong 7 ngày, ngày uống 3 lần, mỗi lần một bát, uống ấm, trước hoặc sau ăn một giờ.
Nếu đái ra máu, thêm cỏ nhọ nồi 16 g, tiểu kế 12 g. Nếu đau nhiều thêm ô dược 8 g, diên hồ sách 8 g, uất kim 8 g. Rêu lưỡi vàng dày gia hoàng bá, thương truật 10 g. Miệng khát gia sinh địa, thạch hộc. Đau lưng nhiều gia đỗ trọng, cẩu tích 12 g. Nếu bệnh đã mắc trên 3 tháng, gia vương bất lưu hành 12 g, tạo thích 8 g.
Thể khí trệ huyết ứ:
Triệu chứng: Người bệnh có biểu hiện đau thắt lưng, bụng dữ dội, đau lan xuống vùng hạ vị, đến vùng bẹn và cơ quan sinh dục; tiểu buốt, dắt, nước tiểu vàng, đôi khi tiểu máu, chất lưỡi đỏ thẫm, có điểm ứ huyết; mạch huyền hoặc huyền sác.
Pháp điều trị: hoạt huyết hoá ứ
Dùng bài Thạch vĩ tán, tứ vật đào hồng gia giảm:
Đào nhân 12 g, xuyên khung 12 g, ngưu tất 12 g, hoạt thạch 15 g , kê nội kim 12 g, trạch tả 12 g, ô dược, xuyên luyện tử đều 9 g; hồng hoa, đương quy, đông quỷ tử đều 12 g; kim tiền thảo 30 g; hải kim sa, xa tiền tử đều 15 g; thạch vĩ 12 g, cam thảo 5 g. Sắc uống trong 7 ngày, ngày một thang, chia 3 lần, mỗi lần một bát, uống ấm, trước hoặc sau ăn một giờ.
Thể thận khí bất túc:
Nguyên nhân do sỏi lâu ngày không khỏi, thấp nhiệt gây hao thương chính khí, hoặc tuổi già, bệnh lâu ngày cơ thể bị hư nhược, hoặc tiên thiên bất túc, lao lực quá độ, dẫn tới thận khí hư suy, không khí hóa được bàng quang gây ra.
Triệu chứng: Người bệnh có biểu hiện tiểu ít, tiểu dắt, nhiều lần, không thông, bụng dưới trướng đầy, lưng gối mềm yếu, lưng lúc đau, lúc không; chất lưỡi đạm, rêu trắng mỏng, mạch tế vô lực.
Pháp điều trị: bổ thận ích khí, thông lâm bài thạch.
Dùng phương thuốc Tề sinh thận khí hoàn: thục địa 16 g, sơn thù 8 g, bạch linh 8 g, trạch tả 8 g, đơn bì 8 g, phụ tử chế 4 g, quế chi 4 g, ngưu tất 12 g, xa tiền tử 12 g. Sắc uống trong 7 ngày, ngày một thang, chia 3 lần, mỗi lần một bát, uống ấm, trước hoặc sau ăn một giờ.
Thể thận âm hư suy:
Nguyên nhân do sỏi lâu ngày không khỏi, thấp nhiệt gây hao thương chính khí, hoặc tuổi già, bệnh lâu ngày cơ thể bị hư nhược, hoặc tiên thiên bất túc, lao lực quá độ, dẫn tới thận âm suy hư, âm hư hỏa vượng, hư hỏa bức huyết vong hành gây nên tiểu tiện ra máu.
Triệu chứng: Người bệnh có tiểu tiện ra máu, bụng dưới trướng đầy, lưng gối mềm yếu, đầu váng tai ù, triều nhiệt, ra mồ hôi trộm, chất lưỡi đỏ, rêu ít, mạch tế sác. Pháp điều trị: Tư âm giáng hỏa, thông lâm bài thạch.
Dùng bài thuốc Bổ thận bài thạch thang: tri mẫu, thục địa, trạch tả, đương quy, hoàng bá đều 12 g, kê nội kim 10 g, mộc thông 10 g; cam thảo, sơn thù đều 6 g, kim tiền thảo 30 g; hải kim sa, xa tiền tử, hoàng kỳ 15 g. Sắc uống trong 7 ngày, ngày một thang, chia 3 lần, mỗi lần một bát, uống ấm, trước hoặc sau ăn một giờ.
Bài thuốc Chuyên hỗ trợ các vấn đề về sức khoẻ, phù hợp với các tình trạng sức khỏe của mọi bệnh nhân:
1.Giáng Thạch Thang (Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng): Cam thảo tiêu 3g, Đông quỳ tử 10g, Giáng hương 3g
Hải kim sa 10g, Hoạt thạch 10g, Kê nội kim 10g, Kim tiền thảo 30g, Ngư não thạch 10g, Thạch vi 10g, Xuyên ngưu đằng 10g. Sắc uống.
- Tác dụng: Thanh nhiệt, lợi thấp. Trị hạ tiêu có thấp nhiệt, sỏi đường tiết niệu.
- TK: Dùng bài Giáng Thạch Thang trị 50 bệnh nhân bị sỏi đường tiết niệu đều đạt kết quả tốt (Thiên Gia Diệu Phương).
2. Tang Căn Tam Kim Nhị Thạch Thang (Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng): Hải kim sa 30g, Hoạt thạch 30g, Kê nội kim (rang với cát) 10g, Kim tiền thảo 30g, Ngưu đằng 10g, Tang thụ căn 30g, Thạch vi 16g, Tỳ giải 10g, Vương bất lưu hành 10g. Sắc uống.
- Tác dụng : Thanh nhiệt, lợi thấp, thông lâm, chỉ thống. Trị thận hư, thấp nhiệt uẩn kết, sỏi đường tiểu.
3.Tạc Thạch Hoàn (Thiên Gia Diệu Phương, Q. Thượng): Cam thảo (sao) 6g, Địa long 10g, Đông quỳ tử 16g, Hải kim sa 10g, Hoạt thạch 10g, Hổ phách 2g, Kê nội kim 10g, Mang tiêu 6g, Mộc tặc 10g, Phục linh 10g, Trầm hương 2g, Trạch tả 10g, Xa tiền tử 10g, Xuyên ngưu tất 10g, Xuyên uất kim 10g. Trừ Mang tiêu, Hoạt thạch và Hổ phách, các vị kia đem sao khô nhỏ lửa rồi tán với Hổ phách, rây bột mịn, hòa Mang tiêu vào nước và rượu, làm hoàn, to bằng hạt đậu xanh, dùng Hoạt thạch bọc ngoài làm áo. Phơi trong râm cho khô, cất để dùng dần.
Mỗi lần uống 10-16g, ngày 2 lần, với nước ấm, trước bữa ăn 1 giờ.
- Tác dụng : Thanh nhiệt, lợi niệu, thông lâm. Trị thấp nhiệt uẩn kết ở hạ tiêu, sỏi ở đường tiểu.
5.Thông Phao Thang (Thiên Gia Diệu Phương, Q. Thượng): Bại tương thảo 16g, Biển súc 6g, Cát cánh 4g, Cù mạch 6g, Lậu lô 10g, Mông hoa 16g, Thanh bì 10g, Trạch tả 10g, Vương bất lưu hành 15g. Sắc uống.
- Tác dụng : Hành ứ, thông lâm. Trị thấp nhiệt ở bàng quang, ứ trệ ở hạ tiêu, sỏi đường tiểu.
- TK: Đã dùng bài thuốc này trị cho 7 ca sỏi đường tiểu đều thu dược kết quả tốt. Lại dùng trị 1 trường hợp thận đa nang tiểu ra máu cũng thu được kết quả tốt (Thiên Gia Diệu Phương).
6. Tam Kim Hồ Đào Thang (Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng): Kim tiền thảo 30-60g, Kê nội kim (nướng, tán bột, chia làm hai lần uống với nước thuốc) 6g, Xa tiền thảo, Hoạt thạch đều 12g, Sinh địa 15g, Thiên môn 9g, Ngưu tất 9g, Mộc thông 4,5g, Cam thảo (sống) 4,5g, Nhân hồ đào 4 hột (chia làm 2 lần nuốt). Sắc với 600ml nước nhỏ lửa trong 30 phút còn 400ml. Rót ra, lại cho thêm 500ml nước, sắc lần thứ hai như trên, còn 300ml. Đổ chung hai nước, sắc, chia làm hai lần uống.
7.Trân Kim Thang Gia Giảm (Thiên Gia Diệu Phương, Q. Thượng): Hải kim sa16g, Kê nội kim 12g, Lộ lô thông 16g, Mạch môn 10g, Phù thạch 16g, Tiểu hồi 10g, Trạch tả 12g, Trân châu 60g, Ty qua lạc 12g, Vương bất lưu hành 12g. Sắc uống.
- Tác dụng : Thanh nhiệt, lợi thấp, thông lâm, bài thạch. Trị thấp nhiệt hạ chú, uất kết lâu ngày làm cho tạp chất của nước tiểu đọng lại thành sỏi, đường tiểu có sỏi.
8.Trục Thạch Thang (Thiên Gia Diệu Phương, Q. Thượng): Bạch thược 10g, Cam thảo (nhỏ) 4,8g, Hải kim sa đằng 18g, Hổ phách mạt 4g, Kê nội kim 6g, Kim tiền thảo 30g, Mộc hương 4,8g, Sinh địa 12g. Mộc hương cho vào sau, Hổ phách mạt để ngoài uống với nước thuốc sắc. Ngày một thang, chia hai lần uống.
- Tác dụng : Thanh nhiệt, lợi thấp, thông lâm, trục thạch. Trị thấp nhiệt uất kết, sỏi đường tiểu.
9.Niệu Lộ Bài Thạch Thang (Thiên Gia Diệu Phương, Q. Thượng): Biển súc 24g, Chi tử 20g, Chỉ xác 10g, Chích thảo 10g, Cù mạch 15g, Đại hoàng 12g, Hoạt thạch 15g, Kim tiền thảo 30g, Mộc thông 10g, Ngưu tất 15g, Thạch vi 30g, Xa tiền tử 24g. Sắc uống.
- Tác dụng : Tiêu sỏi, thông lâm, hành khí, hóa ứ, thanh lợi thấp nhiệt. Trị thấp nhiệt hạ chú, sỏi ở đường tiểu.
Bài thuốc này thích hợp với các chứng sau:
+ Sỏi có đường kính ngang nhỏ hơn 1cm, đường kính dài nhỏ hơn 2cm.
+ Hệ tiết niệu không có dị dạng về giải phẫu và những biến đổi bệnh lý.
+ Chức năng thận bên bệnh còn tốt.
10.Niệu Lộ Kết Thạch Thang (Thiên Gia Diệu Phương, Q. Thượng): Bạch vân linh 10g, Hải kim sa 15g, Hoạt thạch 12g, Hổ phách 3g, Kim tiền thảo 15g, Mộc thông 6g, Thạch bì 10g, Trần bì 10g, Xa tiền tử 10g, Sắc uống.
- Tác dụng : Lợi thấp, hóa ứ, trị sỏi ở bàng quang.
11.Nội Kim Hồ Đào Cao (Thiên Gia Diệu Phương, Q. Thượng): Hồ đào nhân (chưng) 500g, Kê nội kim 150g, Mật ong 500g. Kê nội kim, nướng, tán thành bột. Hồ đào đập nhỏ. Trộn chung với Mật ong thành dạng cao. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 10ml.
- Tác dụng: Tư thận, thanh nhiệt, thấm thấp, thống tán, hóa kết. Trị chứng sỏi ở đường tiểu.
12.Thược Dược Cam Thảo Thang Gia Vị (Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng): Bạch thược, Trân châu mẫu 30g, Cam thảo, Đàn hương, Nga truật, Nguyên hồ, Hồi hương đều 10g, Điều sâm, Mạch môn, Bạch vân linh đều 12g. Sắc uống.
Tác dụng : Hoãn cấp, chỉ thống. Trị thận hư, lưng đau, khí âm đều suy, khí nghịch, sỏi niệu quản.
13.Phụ Kim Thang (Thiên Gia Diệu Phương, Q. Thượng): Kim tiền thảo 30g, Phụ tử 12g, Thục địa 20g, Trạch tả 10g, Sắc uống.
- Tác dụng : Ôn thận, hành thủy. Trị thận khí hư tổn, sỏi đường tiểu.
Kinh Nghiệm Điều Trị Sỏi Thận Của Nhật Bản
+ Đại Kiến Trung Thang: thích hợp với sỏi điển hình.
+ Thược Dược Cam Thảo Thang:hợp với những bệnh nhân nặng có cơn đau sỏi thận, sỏi bàng quang.
Điều Trị Sỏi Thận Theo Tây YTuỳ theo vị trí, kích thước, thành phần hoá học của sỏi, chức năng của thận và sức khoẻ của người bệnh mà có những chỉ định phù hợp.
Điều trị nội khoa.
Chủ yếu là chống viêm, lợi niệu. Nếu sỏi bé thì có thể tự ra được. Riêng sỏi bể thận mà thành phần hoá học là acide urique thì có thể điều trị bằng thuốc tan sỏi cho kết quả tốt.
- Các phương pháp hiện đại ít sang chấn.
Tán sỏi ngoài cơ thể (ESWL) dùng cho những trường hợp sỏi thận có kích thước nhỏ hơn 2cm, chức năng thận còn tốt, thận chưa dãn to, không có nhiễm khuẩn niệu và lưu thông niệu quản tốt. Phương pháp này có tỷ lệ thành công đạt tới 95-98%, có thể tiến hành tán từ 1 đến 3 lần. Một số biến chứng và tai biến có thể gặp là chảy máu, ứ tắc niệu quản do mảnh sỏi vụn. Ngoài ra hiện tượng ứ máu dưới bao, xuất huyết trong nhu mô thận cũng được ghi nhận và cần có thời gian để theo dõi hậu quả của nó.
Lấy sỏi qua da (PNL) là phương pháp được áp dụng với những sỏi có kích thước lớn không có chỉ định tán sỏi ngoài cơ thể. Cùng với tán sỏi ngoài cơ thể, chỉ còn 1 số rất ít bệnh nhân (5%), là phải mổ mở để lấy sỏi tại các nước phát triển. Lấy sỏi qua da có thể áp dụng được trên bệnh nhân có dãn thận nhẹ. Với những trường hợp sót sỏi sau kỹ thuật, tán sỏi ngoài cơ thể là 1 phương pháp bổ xung rất tốt.
Điều trị ngoại khoa
Phẫu thuật lấy sỏi.
Để lấy sỏi, người ta có thể rạch bể thận, rạch nhu mô thận, bổ đôi thận theo đường dọc hoặc chiều ngang. Nếu sỏi tập trung tại 1 hệ thống đài mà nhu mô thận ở đó đã mỏng thì người ta vừa lấy sỏi vừa cắt bỏ phần thận hỏng đó đi.
- Chỉ định chung:
Tất cả sỏi làm giảm chức năng thận, ứ trệ nước tiểu, đã điều trị bảo tồn không mang lại kết quả thì đều có chỉ định mổ lấy sỏi.
- Chỉ định tuyệt đối:
Khi bệnh nhân chỉ có 1 thận (do dị tật) hoặc thận kia câm, chỉ còn 1 thận làm việc nhưng lại bị sỏi. Cần phải chuẩn bị thật tốt đối với những bệnh nhân này và yêu cầu phải có những phẫu thuật viên có kinh nghiệm và có máy lọc máu hỗ trợ.
Trong trường hợp cả 2 thận đều bị sỏi thì chỉ định mổ căn cứ vào nguyên tắc sau: bên nào dễ mổ trước, bên nào phục hồi chức năng tốt hơn thì mổ trước. Trên thực tế thường ưu tiên mổ bên dễ trước.
Rạch mặt sau bể thận lấy sỏi (V. Czerry).
Có thể dùng đường rạch thắt lưng thông thường hoặc đường trước bên tuỳ theo vị trí và hình thù cuả thận đã được xác định trên phim x quang. Khi vào tới thận, phần lớn là phải lật thận ra phía trước mới mở được bể thận.
Hai cực trên và dưới được nâng lên, bể thận được bóc hết lớp mỡ để mở và khâu bể thận được dễ dàng. Nếu bể thận lún thì có thể vén bờ nhu mô thận tại rốn thận để bộc lộ bể thận.
Rạch bờ dưới bể thận lấy sỏi (Boeming, Fedoroff, Zuckerkandl).
Trong trường hợp viêm dính quanh thận, quanh niệu quản, bể thận khó bộc lộ thì có thể giải phóng cực dưới của thận (cố gắng giữ lại một ít tổ chức xơ còn dính ở cực dưới để cặp được kìm, giúp nâng cực dưới lên). Bóc tách các lớp mỡ để bộc lộ hẳn bờ trong của cực dưới và bóc tiếp bờ dưới của bể thận tới 1 phần của niệu quản để nhìn thấy được bể thận. Để tránh xơ hẹp sau mổ do sẹo, thì phải rạch 1 đường thật gọn theo bờ dưới của bể thận từ đoạn nối bể thận-niệu quản đến tận cực dưới. Sau khi gắp sỏi ra, cần tiến hành kiểm tra lưu thông xuống dưới niệu quản và dùng huyết thanh ấm bơm rửa sạch đài bể thận. Đóng bể thận bằng các mối chỉ rời. Đường rạch theo bờ dưới đảm bảo gắp sỏi được dễ dàng và ít làm chấn thương thận giống như rạch mặt sau bể thận.
Rạch mặt trước bể thận lấy sỏi.
Nếu vào thận theo đường rạch phía trước thì khi tới thận, đường rạch mặt trước bể thận rất thuận lợi vì thận có thể để yên tại chỗ mà không cần di chuyển nhiều. Cần chú ý tránh làm rách các mạch máu nằm trước bể thận (mặt trước có nhiều mạch máu hơn mặt sau). Đường rạch có thể xen giữa tĩnh mạch và động mạch để đi vào hoặc dừng lại ở phần cuối của cả động mạch và tĩnh mạch (nguy cơ chạm vào tĩnh mạch nhiều hơn vào động mạch).
Rạch bể thận dưới bao để lấy sỏi (Frumkin).
Gặp trường hợp viêm quanh thận lâu ngày, bể thận và khu vực rốn thận quá dính không thể bóc tách được, Frumkin đề xuất phương pháp mở bể thận dưới bao. Đường vào là đường rạch thắt lưng thông thường. Sau khi giải phóng cực dưới của thận, rạch bao thận cho lộ cực dưới của thận ra, vén bao thận lên trên và vào trong về phía rốn thận để bộc lộ bể thận. Rạch tiếp vào bể thận dể gắp sỏi. Sau khi đã bơm rửa kiểm tra hết sỏi và cầm máu, không cần phải đóng vết mở bể thận mà chỉ cần lật úp bao thận trở lại như cũ.
Mở bể thận trong rốn thận kiểu Gil Vernet.
Phương pháp này thuận lợi và đơn giản vì ít chảy máu. Bể thận được bộc lộ rõ ràng, bờ thận che lấp bể thận được vén lên cao. Đường rạch hình chữ U mở rộng phía rốn thận theo hướng các đài thận. Khi viên sỏi đã lộ ra thì dùng 1 que mỏng hoặc que thăm dò đầu tròn nạy hết những chỗ dính của viên sỏi vào thành bể thận và sau đó luồn kìm gắp sỏi vào kẹp lấy đầu ngoài của viên sỏi mà kéo toàn bộ ra. Những phần sỏi bị gãy nằm trong đài thận sẽ được gắp hết bằng kìm gắp sỏi sau khi đã banh rộng cổ đài.
Rạch bể thận-nhu mô thận lấy sỏi.
Khi sỏi thận quá lớn, rạch bể thận đơn thuần không lấy được sỏi thì phải mở rộng đường rạch sang nhu mô thận. Có nhiều phương pháp rạch bể thận-nhu mô thận, nhưng trong thực hành có 1 số kỹ thuật hay dùng dưới đây.
a- Rạch theo phương pháp Marion.
Thận có thể để nằm nguyên tại chỗ mà không cần di chuyển nhiều. Đường rạch theo giới hạn dưới của bể thận và rạch tiếp vào nhu mô thận. Phẫu thuật viên phải tính toán sao cho đường rạch phù hợp với kích thước của viên sỏi để có thể gắp sỏi dễ dàng mà lại ít làm tổn thương nhu mô thận nhất. Có thể gặp 1 vài mạch máu nhỏ thì phải khống chế trước. Chú ý, trong phương pháp Marion đường rạch mở rộng không được xâm phạm vào cực dưới của thận.
b- Rạch bờ dưới bể thận kéo dài sang nhu mô thận (Boeminghaus).
Giống như phương pháp rạch bờ dưới bể thận để lấy sỏi, nhưng khác là đường rạch được kéo dài thêm vào nhu mô thận cực dưới. Nhờ phần rạch thêm mà đường mở được banh rộng ra đến tận hệ thống đài dưới và có thể lấy được viên sỏi trước khi gắp ra. Có thể có chảy máu khá nhiều nhưng cũng rất dễ khâu cầm máu.
Cùng một kiểu rạch như vậy người ta có thể thực hiện ở cực trên (đường rạch kéo dài từ bể thận lên đến cực trên để vào hệ thống đài trên).
c- Rạch bể thận kéo dài sang hệ thống đài dưới (Turner-Warwick).
Phương pháp này có thể lấy được hết bất kì loại sỏi nào của thận, nhất là sỏi san hô và sỏi nhiều viên.
Chống chỉ định:
Vì sự phân bố của các mạch máu trong thận nên phương pháp này không thể áp dụng cho hệ thống đài giữa và đài trên.
Trường hợp sỏi nhiều viên khó tìm thì cần phải sử dụng x quang ngay trên bàn mổ để tránh sót sỏi.
Có thể đóng kín bể thận - nhu mô thận bằng 3 cách:
- Chỉ cần đóng cực dưới và bể thận bằng các mối chỉ đơn giản.
- Nối niệu quản vào đài thận kiểu bên - bên, rồi khép nhu mô của cực dưới lại một cách nhẹ nhàng.
- Cắt bỏ cực dưới.
d- Rạch bể và nhu mô thận đồng thời (Flock và Culp).
Phương pháp này dùng cho các trường hợp sỏi đài thận mà không thể mở bể thận gắp sỏi được, cũng có khi là phần còn lại của một viên sỏi san hô mà thân đã được lấy ra. Trong những trường hợp này có khi phải mở nhu mô thận nhiều chỗ mới lấy được hết sỏi.
e- Rạch bể thận-nhu mô thận mặt sau (Recwick M.I).
Dựa vào những nghiên cứu về sự phân bố mạch máu trong thận, người ta xác định được vùng gianh giới phạm vi cấp máu hình nan hoa nằm cạnh hướng xiên của đài dưới. Đây chính là đường mổ vào nhu mô thận mặt sau, đài dưới ít gây tổn thương các mạch máu lớn trong thận, áp dụng để lấy sỏi bể thận có nhánh cắm vào đài dưới.
Từ khóa » Thuốc đông Y Chữa Trị Sỏi Thận
-
Lưu ý Khi Dùng Thuốc đông Y Trị Sỏi Thận | Vinmec
-
Điều Trị Sỏi Thận Bằng Thuốc Đông Y: 6+ Bài Thuốc Hiệu Nghiệm
-
Chữa Sỏi Thận Bằng Đông Y - Báo Sức Khỏe & Đời Sống
-
Bài Thuốc Đông Y Chữa Sỏi Thận | Sở Y Tế Nam Định
-
Đông Y điều Trị Sỏi Thận Có Hiệu Quả Không? - Nhà Thuốc Long Châu
-
14 Loại Thuốc Trị Sỏi Thận Tốt Nhất được Nhiều Người Sử Dụng
-
Top 5 Bài Thuốc Đông Y Trị Sỏi Thận Được Chuyên Gia Khuyên Dùng
-
Chuyên Gia Cảnh Báo Tự ý Chữa Sỏi Thận Bằng đông Y
-
Bệnh Sỏi Thận Theo Đông Y Và Bài Thuốc Điều Trị
-
[Bác Sĩ Khuyên Dùng] Top 10+ Thuốc Trị Sỏi Thận Hiệu Quả Nhất Hiện Nay
-
Điều Trị Sỏi Thận Bằng Thuốc Đông Y Có Ưu Điểm Gì? Bật Mí 5+ ...
-
Tự ý Trị Sỏi Tiết Niệu Bằng đông Y: Coi Chừng Tiền - Bệnh Viện Thu Cúc
-
Phương Thuốc Quý Chữa Trị Bệnh Sỏi Thận Hiệu Quả Nhất
-
Bài Thuốc “Kinh Điển” Chữa Dứt điểm 6 Loại Sỏi Thận Trong Đông Y