Thuốc Erythropoietin - Betahema/Epocassa | Pharmog

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Erythropoietin

Phân loại: Thuốc tác động trên máu và hệ thống tạo máu. Thuốc kích thích tạo hồng cầu.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): B03XA01.

Biệt dược gốc:

Biệt dược: Betahema , Epocassa

Hãng sản xuất : Laboratorio Pablo Cassará S.R.L

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Dung dịch tiêm trong suốt, không màu

Hộp 1 lọ 1ml chứa 2000 IU, 4000 IU, 10.000 IU

Thuốc tham khảo:

EPOCASSA 2000 IU
Mỗi lọ 1ml có chứa:
r-Hu Erythropoietin …………………………. 2000 IU
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

BETAHEMA 2000 IU
Mỗi lọ 1ml có chứa:
r-Hu Erythropoietin …………………………. 2000 IU
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Điều trị thiếu máu ở bệnh nhân suy thận mạn tính:

Ở người lớn và trẻ em từ 1 đến 18 tuổi phải thẩm tách máu và người lớn phải thẩm phân màng bụng.

Ở người lớn bị suy thận chưa phải lọc máu để điều trị thiếu máu nặng do suy thận kèm theo các triệu chứng lâm sàng.

Điều trị thiếu máu ở bệnh nhân nhiễm HIV điều trị bằng zidovudin:

Erythropoietin được chỉ định để làm tăng hoặc duy trì số lượng hồng cầu cũng như để làm giảm nhu cầu truyền máu ở người lớn nhiễm HIV sử dụng zidovudin. Thuốc không được chỉ định để điều trị thiếu máu do các nguyên nhân khác như thiếu sắt hoặc thiếu folat, lọc máu, xuất huyết tiêu hóa. Những nguyên nhân này cần được điều trị bằng biện pháp thích hợp.

Erythropoietin liều 100 đơn vị/kg có hiệu quả làm giảm nhu cầu truyền máu và tăng số lượng hồng cầu trong trường hợp thiếu máu ở bệnh nhân nhiễm HIV được điều trị bằng zidovudin khi nồng độ erythropoietin nội sinh trong huyết thanh <500 mU/ml và bệnh nhân sử dụng zodivudin liều < 4.200 mg/tuần.

Điều trị thiếu máu ở bệnh nhân hóa trị liệu ung thư:

Erythropoietin được chỉ định để điều trị thiếu máu ở người lớn ung thư không phải dạng tủy bào ác tính, khi tình trạng thiếu máu là do ảnh hưởng của hóa trị liệu. Erythropoietin làm giảm nhu cầu truyền máu ở bệnh nhân hóa trị liệu ít nhất 2 tháng.

Giảm nhu cầu truyền máu ở bệnh nhân phải phẫu thuật:

Erythropoietin được chỉ định để điều trị người lớn thiếu máu không thiếu sắt (hemoglobin từ 10 đến 13 g/dl) chuẩn bị phẫu thuật chọn lọc (không phải phẫu thuật tim hoặc mạch máu) có nguy cơ mất máu cao tại các thời điểm trước, trong và sau phẫu thuật nhằm giảm nhu cầu phải truyền máu dị gen. Độ an toàn của erythropoietin alfa khi sử dụng trong phẫu thuật mới chỉ được nghiên cứu trên bệnh nhân sử dụng các thuốc chống đông dự phòng.

Erythropoietin không được chỉ định để điều trị thiếu máu ở bệnh nhân tham gia chương trình hiên máu tự thân

Các giới hạn chỉ định:

Epocassa chưa được chứng minh là giúp cải thiện chất lượng cuộc sống, tình trạng mệt mỏi hoặc sức khoẻ của bệnh nhân.

Epocassa không được chỉ định:

Ở bệnh nhân ung thư đang dùng các nội tiết tố, các sản phẩm sinh học hoặc xạ trị, trừ khi bệnh nhân cũng đang đồng thời dùng hóa trị liệu ức chế tủy xương.

Ở bệnh nhân ung thư đang sử dụng hóa trị liệu ức chế tủy xương khi kết cục dự đoán là chữa khỏi bệnh.

Ở bệnh nhân ung thư đang sử dụng hóa trị liệu mà tình trạng thiếu máu có thể được kiểm soát bằng truyền máu.

Ở bệnh nhân dự kiến phẫu thuật sẵn sàng hiến máu tự thân.

Ở bệnh nhân trải qua phẫu thuật tim hoặc mạch máu.

Như liệu pháp thay thế truyền hồng cầu ở bệnh nhân cần được điều trị ngay tình trạng thiếu máu.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Pha chế và sử dụng:

Không được lắc. Không sử dụng Epocassa đã bị lắc hoặc làm đông lạnh.

Giữ lọ thuốc tránh ánh sáng.

Các chế phẩm tiêm truyền cần được kiểm tra bằng mắt để phát hiện tiểu phân lạ và tình trạng biến màu trước khi sử dụng. Không được dùng bất kỳ lọ thuốc nào chứa tiểu phân lạ hoặc bị biến màu.

Loại bỏ phần thuốc chưa dùng hết trong các lọ thuốc không chứa chất bảo quản. Không được dùng lại thuốc trong lọ không chứa chất bảo quản.

Lưu trữ phần thuốc chưa dùng hết trong các lọ đóng nhiều liều ở 2°C đến 8°C. Loại bỏ thuốc sau 21 ngày kể từ lần dùng đầu tiên.

Không pha loãng thuốc. Không được trộn lẫn với các dung dịch thuốc khác, trừ khi làm theo hướng dẫn sau:

Epocassa không chứa chất bảo quản đóng trong lọ đơn liều có thể được trộn lẫn trong một bơm tiêm với thuốc tiêm natri clorid 0,9% kìm khuẩn, tiêu chuẩn USP cùng alcol benzylic 0,9% (dung dịch nước muối sinh lý kìm khuẩn) theo tỉ lệ 1:1 sử dụng kỹ thuật vô khuẩn tại thời điểm sử dụng. Rủi ro liên quan đến alcol benzylic có thể gặp phải ở trẻ sơ sinh, nhũ nhi, phụ nữ mang thai và cho con bú.

Liều dùng:

Đánh giá dự trữ sắt và các yếu tố dinh dưõng:

Cần đánh giá dự trữ sắt ở tất cả các bệnh nhân trước cũng như trong quá trình điều trị và duy trì trạng thái đủ sắt. Tìm đúng hoặc loại trừ các nguyên nhân gây thiếu máu khác (như thiếu vitamin, các tình trạng rối loạn trao đổi chất hoặc viên mạn tính, chảy máu…) trước khi bắt đầu điều trị bằng Epocassa (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).

Erythropoietin có thể dùng theo đường tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da.

Bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tính:

Đối với bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tính, ưu tiên dùng đường tiêm tĩnh mạch cho bệnh nhân thẩm tách máu và thẩm phân phúc mạc. Trường hợp không thể dùng đường tiêm tĩnh mạch, có thể dùng đường tiêm dưới da sau khi đã cân nhắc kỹ lợi ích/nguy cơ.

Trong các thử nghiệm có đối chứng, bệnh nhân bị tăng nguy cơ tử vong, gặp các phản ứng bất lợi nghiêm trọng trên tim mạch và đột quỵ khi sử dụng các thuốc kích thích tạo hồng cầu để đạt được nồng độ hemoglobin đích trên 11 g/dL.

Chưa tiến hành thử nghiệm nào để xác định nồng độ hemoglobin đích, liều của các thuốc kích thích tạo hồng cầu hoặc chế độ liều không làm tăng các nguy cơ này. Cần cá thể hóa liều lượng và sử dụng liều Epocassa thấp nhất đủ để giảm nhu cầu truyền hồng cầu (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc). Bác sỹ và bệnh nhân nên cân nhắc những lợi ích tiềm tàng của việc giảm truyền hồng cầu so với sự gia tăng nguy cơ tử vong và các biến cố bất lợi nghiêm trọng khác trên tim mạch (xem mục Cảnh báo).

Với tất cả bệnh nhân suy thận mạn tính:

Khi bất đầu hoặc điều chỉnh liệu pháp điều trị, cần theo dõi nồng độ hemoglobin ít nhất hàng tuần cho đến khi ổn định, sau đó theo dõi ít nhất hàng tháng. Khi điều chỉnh liệu pháp điều trị, cần xem xét tỉ lệ tăng và giảm hemoglobin, đáp ứng với thuốc kích thích tạo hồng cầu cũng như biến thiên hemoglobin. Một giá trị nồng độ hemoglobin đơn lẻ bị sai lệch có thể không đòi hỏi phải thay đổi liều dùng.

Không được tăng liều nhiều hơn một lần mỗi 4 tuần. Có thể giảm liều thường xuyên hơn. Tránh thường xuyên hiệu chỉnh liều.

Nếu hemoglobin tăng nhanh (chẳng hạn trên 1 g/dL trong bất kỳ khoảng thời gian 2 tuần nào), cần giảm 25% liều Epocassa hoặc nhiều hơn nếu cần để giảm đáp ứng nhanh.

Với bệnh nhân không đáp ứng thỏa đáng, nếu hemoglobin không tăng trên 1 g/dL sau 4 tuần điều trị, cần tăng liều thêm 25%.

Với bệnh nhân không đáp ứng thỏa đáng trong khoảng thời gian tăng liều bậc thang kéo dài 12 tuần, việc tăng liều Epocassa hơn nữa ít có khả năng cải thiện đáp ứng và có thể làm tăng nguy cơ. Sử dụng liều thấp nhất để duy trì nồng độ hemoglobin đủ để giảm nhu cầu truyền hồng cầu. cần đánh giá các nguyên nhân khác gây thiếu máu.

Ngừng sử dụng Epocassa nếu đáp ứng của bệnh nhân không được cải thiện.

Với bệnh nhân suy thận mạn tính phải lọc máu:

Bắt đầu điều trị bằng Epocassa khi nồng độ hemoglobin dưới 10 g/dL.

Nếu nồng độ hemoglobin đạt được hoặc vượt quá 1 lg/dL, cần giảm liều hoặc ngừng sử dụng Epocassa.

Liều khởi đầu đề nghị cho người lớn là 50 đến 100 IU/kg, tuần 3 lần tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da. Với trẻ em, khuyến cáo sử dụng liều khởi đầu 50 IU/kg, tuần 3 lần tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da. Đường tĩnh mạch được khuyến cáo cho bệnh nhân thẩm tách máu.

Với bệnh nhân suy thận mạn tính không lọc máu:

Cần cân nhấc chỉ nên bắt đầu điều trị bằng Epocassa khi nồng độ hemoglobin dưới 10 g/dL và lưu ý những điểm sau:

Tỉ lệ giảm hemoglobin cho biết mức độ cần thiết phải truyền hồng cầu.

Giảm nguy cơ đồng miễn dịch và/hoặc các nguy cơ khác liên quan đến truyền hồng cầu là một mục tiêu điều trị.

Nếu nồng độ hemoglobin vượt quá 10 g/dL, cần giảm liều hoặc ngừng điều trị bằng Epocassa và sử dụng liều Epocassa thấp nhất đủ để giảm nhu cầu truyền hồng cầu.

Liều khởi đầu đề nghị cho người lớn là 50 đến 100 IU/kg, tuần 3 lần theo đường tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da.

Khi điều trị cho bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tính và ung thư, bác sỹ nên tham khảo mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc.

Cần khuyến cáo bệnh nhân tự điều trị bằng Epocassa tuần thủ hướng dẫn sử dụng:

Tầm quan trọng của việc làm theo đúng hướng dẫn sử dụng.

Nguy cơ của việc sử dụng lại kim tiêm, bơm tiêm, hoặc phần thuốc chưa dùng hết trong lọ chứa đơn liều.

Loại bỏ đúng cách bơm tiêm, kim tiêm và lọ thuốc chưa sử dụng cũng như hộp thuốc còn nguyên.

Bệnh nhân nhiễm HIV điều trị bằng zidovudin:

Liều khởi dầu:

Liều khởi đầu để nghị cho người lớn là 100 IU/kg, tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da, tuần 3 lần.

Hiệu chỉnh liều:

Nếu nồng độ hemoglobin không tăng sau 8 tuần điều trị, cần tăng liều Epocassa thêm khoảng 50 đến 100 IU/kg trong 4 đến 8 tuần cho tới khi đạt nồng độ hemoglobin cần thiết để tránh phải truyền hồng cầu hoặc tăng liều đến 300 IU/kg.

Tạm ngưng Epocassa nếu nồng độ hemoglobin vượt quá 12 g/dL. Điều trị trở lại với liều thấp hơn 25% so với liều trước đó khi nồng độ hemoglobin giảm xuống dưới 11 g/dL.

Ngừng sử dụng Epocassa nếu không đạt gia tăng nồng độ hemoglobin khi dùng liều 300 IU/kg trong 8 tuần.

Bệnh nhân đang sử dụng hóa trị liệu điều trị ung thư:

Chỉ nên bắt đầu sử dụng Epocassa cho bệnh nhân đang được hóa trị liệu điều trị ung thư khi nồng độ hemoglobin dưới 10 g/dL và nếu có thêm tối thiểu hai tháng hoá trị liệu đã được lên kế hoạch.

Sử dụng liều Epocassa thấp nhất cần thiết để tránh phải truyền hồng cầu.

Liều khởi đầu đề nghị:

Người lớn:

150 IU/kg tiêm dưới da tuần 3 lần cho đến khi hoàn thành một đợt hóa trị liệu hoặc

40.000 IU tiêm dưới da hàng tuần cho đến khi hoàn thành một đợt hóa trị liệu.

Giảm 25% liều dùng nếu:

Hemoglobin tăng trên 1 g/dL trong bất kỳ khoảng thời gian 2 tuần nào hoặc

Hemoglobin đạt nồng độ cần thiết để tránh phải truyền hồng cầu.

Tạm ngưng Epocassa nếu nồng độ hemoglobin vượt quá mức cần thiết để tránh phải truyền hồng cầu. Điều trị trở lại với liều thấp hơn 25% so với liều trước đó khi nồng độ hemoglobin ở mức có thể phải truyền hồng cầu.

Tăng liều:

Sau 4 tuần đầu điều trị bằng Epocassa, nếu nồng độ hemoglobin tăng ít hơn 1 g/dL và vẫn ở mức dưới 10 g/dL, cần tăng liều lên:

300 IU/kg, tuần 3 lần ở người lớn hoặc

60.000 hàng tuần ở người lớn

Sau 8 tuần điều trị, nếu không ghi nhận đáp ứng khi đánh giá nồng độ hemoglobin hoặc nếu vẫn phải truyền hồng cầu, cần ngừng sử dụng Epocassa.

Bệnh nhân phẫu thuật:

Các chế độ liều Epocassa được khuyến cáo là:

300 IU/kg/ngày, tiêm dưới da trong tổng cộng 15 ngày: dùng hàng ngày trong 10 ngày trước phẫu thuật, vào ngày phẫu thuật và trong 4 ngày sau phẫu thuật.

600 IU/kg tiêm dưới da, chia thành 4 liều dùng 21, 14, và 7 ngày trước phẫu thuật và vào ngày phẫu thuật.

Khuyến cáo dự phòng huyết khối tĩnh mạch sâu trong quá trình điều trị bằng Epocassa (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).

4.3. Chống chỉ định:

Chống chỉ định erythropoietin alfa trong các trường hợp sau:

Quá mẫn với erythropoietin alfa hoặc bất cứ thành phần nào của thuốc.

Tăng huyết áp không kiểm soát được.

Bệnh nhân đã có tiến triển chứng bất sản hồng cầu đơn thuần (PRCA) sau khi điều trị bằng các chế phẩm chứa erythropoietin. (Xem thêm mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc và mục Tác dụng không mong muốn của thuốc).

Cần tuần thủ tất cả chống chỉ định liên quan đến các chương trình hiến máu tự thân ở bệnh nhân được dùng Epocassa.

Việc sử dụng Epocassa cho bệnh nhân dự kiến phẫu thuật chỉnh hình lớn tự chọn và không tham gia chương trình hiến máu tự thân bị chống chỉ định nếu bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành, động mạch ngoại vi, động mạch cảnh hoặc bệnh mạch não nghiêm trọng, kể cả bệnh nhân mới bị nhồi máu cơ tim hoặc tai biến mạch máu não.

Bệnh nhân trải qua phẫu thuật không thể được dự phòng chống huyết khối thỏa đáng bởi bất cứ lý do gì.

4.4 Thận trọng:

Cảnh báo:

Người lớn:

Biến cố huyết khối và tăng nguy cơ tử vong

Lợi ích của erythropoietin alfa vượt hẳn rủi ro tiềm tàng.

Chưa có đủ dữ liệu nghiên cứu để khẳng định chắn chắn ảnh hưởng của erythropoietin alfa đến tiến triển huyết khối và tỷ lệ tử vong.

Giảm nguyên hồng cầu:

Chứng bất sản hồng cầu đơn thuần (PRCA) liên quan đến việc sử dụng các erythropoietin đã được ghi nhận với tỷ lệ rất hiếm gặp. PRCA xảy ra chủ yếu trên bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tính sử dụng erythropoietin đường tiêm dưới da. Hội chứng này được mô tả bởi hiện tượng mất/giảm đột ngột hiệu quả của thuốc, tình trạng thiếu máu trầm trọng thêm, giảm hemoglobin (l-2g/dl hoặc 0,62 -1,25 mmol/1 mỗi tháng), số lượng hồng cầu lưới thấp (< 10 000 tế bào/ml) và sự có mặt kháng thể trung hoà kháng erythropoietin

Cần theo dõi chặt chẽ đáp ứng của bệnh nhân trong quá trình điều trị. Nếu hiệu quả bị giảm hoặc mất đột ngột, tình trạng thiếu máu trầm trọng thêm, cần đánh giá những nguyên nhân khác có thể gây hiện tượng không đáp ứng với thuốc như: Thiếu hụt sắt, folat, vitamin B12; nhiễm độc nhôm, nhiễm khuẩn hoặc viêm, mất máu và thẩm tách máu. Nếu nghi ngờ bất sản hồng cầu đon thuần (PRCA) và không phát hiện ra các nguyên nhân khác, cần ngừng dùng erythropoietin alfa, làm xét nghiệm kháng thể kháng erythropoietin và tuỷ đồ (xem Thận trọng: Thiếu hoặc mất đáp ứng). Không nên chuyển sang các erythropoietin khác do kháng thể có khả năng phản ứng chéo giữa các erythropoietin, cần loại trừ các nguyên nhân khác có thể gây ra PRCA và áp dụng các biện pháp xử trí phù hợp.

Sản phẩm có chứa albumin, là dẫn chất từ máu người.

Nhờ các quy trình sàng lọc người cho máu và quy trình sản xuất được kiểm soát nghiêm ngặt, nguy cơ lây truyền virus trở nên rất thấp. Chưa phát hiện trường hợp lây truyền virus hoặc CJD nào khi dùng albumin.

Bệnh nhãn suy thận mạn tính:

Tăng huyết áp:

Nên kiểm soát huyết áp thỏa đáng trước khi bắt đầu dùng thuốc.

Trong pha điều trị sớm, khi hematocrit tăng lên, gần 25% bệnh nhân lọc máu cần phải sử dụng hoặc tăng liều thuốc chống tăng huyết áp.

Bệnh não do tăng huyết áp và động kinh đã được ghi nhận ở bệnh nhân suy thận mạn tính điều trị bằng erythropoietin alfa.

Cần lưu ý theo dõi và kiểm soát chặt chẽ huyết áp ở bệnh nhân điều trị bằng erythropoietin.

Cần giải thích cho bệnh nhân hiểu được tầm quan trọng của việc tuần thủ chế độ điều trị tăng huyết áp và chế độ ăn hạn chế.

Nếu huyết áp khó kiểm soát, có thể giảm nồng độ hemoglobin bằng cách giảm liều hoặc ngừng sử dụng erythropoietin.

Nồng độ hemoglobin giảm đáng kể trên lâm sàng có thể không được ghi nhận trong vài tuần.

Nên giảm liều erythropoietin nếu nồng độ hemoglobin tăng thêm trên l g/dl trong vòng 2 tuần.

Ở bệnh nhân suy thận mạn tính có biểu hiện bệnh tim thiếu máu cục bộ do suy tim sung huyết, cần điều chỉnh lieu erythropoietin alfa để đạt được và duy trì nồng độ hemoglobin dưới 12 g/dl (xem Biến cố huyết khối).

Động kinh

Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy tỷ lệ động kinh trong 90 ngày đầu dùng thuốc (xảy ra trên 2,5% bệnh nhân) cao hơn so với giai đoạn sau 90 ngày. Tỷ lệ động kinh ở nhóm bệnh nhân lọc máu rất khó xác định; tỷ lệ này thường nằm trong khoảng 5% đến 10% trên mỗi bệnh nhân một năm.

Bệnh nhân cần tránh các hoạt động nguy hiểm như lái xe và vận hành máy móc trong giai đoạn này.

Biến cố huyết khối:

Trong quá trình thẩm phân máu, bệnh nhân dùng erythropoietin có thể phải sử dụng heparin chống đông để dự phòng cục máu đông trong máy thẩm tích. Nguy cơ nghẽn mạch, kể cả huyết khối trong máy thẩm tích, tăng lên đáng kể ở bệnh nhân trưởng thành mắc bệnh tim thiếu máu cục bộ hoặc suy tim sung huyết sừ dụng erythropoietin với giá trị hematocrit cao hơn (42%) so với giá trị mục tiêu (30%).

Bệnh nhân mắc bệnh từ trước cần được giám sát chặt chẽ

Thận trọng

Cần thận trọng khi sử dụng các thuốc tiêm có nguồn gốc sinh học do có thể xảy ra các phản ứng dị ứng hoặc phản ứng bất lợi. Trong các thử nghiệm lâm sàng, đôi khi ghi nhận phát ban thoáng qua khi sử dụng erythropoietin, không phát hiện trường hợp dị ứng nặng hoặc phản ứng phản vệ nào (xem Tác dụng không mong muốn của thuốc).

Độ an toàn và hiệu quả của erythropoietin chưa được chứng minh trên bệnh nhân có tiền sử mắc bệnh động kinh hoặc rối loạn huyết học (như thiếu máu hồng cầu liềm, hội chứng loạn sản tủy hoặc rối loạn tăng đông máu).

Ở một số bệnh nhân nữ, sử dụng erythropoietin alfa có thể gây có kinh nguyệt lại, do đó cần xem xét các biện pháp tránh thai vì bệnh nhân có thể có thai.

Huyết học:

Tăng porphyrin đã được ghi nhận với tần suất hiếm gặp ở bệnh nhân suy thận mạn tính điều trị bằng erythropoietin alfa. Mặc dù thuốc không làm tăng đào thải các chất chuyển hóa của porphyrin ở người tình nguyện khỏe mạnh ngay cả khi đáp ứng tạo hồng cầu nhanh nhưng cần thận trọng khi sử dụng erythropoietin cho bệnh nhân có tiền sử rối loạn porphyrin.

Thiếu hoặc mất đáp ứng:

Nếu bệnh nhân không đáp ứng hoặc duy trì đáp ứng với liều đề nghị, cần xem xét và đánh giá các nguyên nhân sau đây:

Thiếu sắt: Hầu như tất cả các bệnh nhân đều cần phải được bổ sung sắt (xem Đánh giá dự trữ sắt).

Nhiễm khuẩn, viêm hoặc các bệnh ác tính.

Mất máu kín đáo.

Các rối loạn huyết học (như thiếu máu thalassemia, thiếu máu dai dẳng hoặc loạn sản tủy).

Thiếu vitamin: Acid folic hoặc vitamin B12.

Tan huyết.

Nhiễm độc nhôm.

Viêm xơ nang xương.

Giảm nguyên hồng cầu hoặc thiếu máu do kháng thể kháng erythropoietin: Khi không tìm ra nguyên nhân nào khác, nên xem xét các triệu chứng giảm nguyên hồng cầu và xét nghiệm tìm kháng thể kháng erythropoietin trong huyết thanh.

(Xem Cảnh báo: Giảm nguyên hồng cầu).

Đánh giá dự trữ sắt:

Trong khi sử dụng erythropoietin, có thể xảy ra thiếu sắt toàn phần hoặc thiếu sắt chức năng. Thiếu sắt chức năng với nồng độ feritin bình thường nhưng transferin bão hòa thấp, có lẽ là do tăng tạo hồng cầu. Transferin bão hòa phải đạt tối thiểu 20% và feritin phải đạt tối thiểu 100 ng/mL.

Trước và trong khi sử dụng erythropoietin, cần đánh giá dự trữ sắt của bệnh nhân, bao gồm transferin bão hòa (nồng độ sắt trong huyết thanh chia cho khả năng gắn sắt toàn thể của transferin) và feritin huyết thanh. Hầu hết bệnh nhân đều cần phải được bổ sung sắt để tăng cường hoặc duy trì transferin bão hòa ở mức thỏa đáng để hỗ trợ tạo hồng cầu khi được kích thích bởi erythropoietin. Tất cả bệnh nhân phẫu thuật sử dụng erythropoietin cần được bồ sung sắt đầy đủ trong suốt quá trình điều trị để giúp tạo hồng cầu và tránh giảm dự trữ sắt.

Khả năng gây ung thư, đột biến và ảnh hưởng đến sinh sản:

Khả năng gây ung thư của erythropoietin alfa chưa được nghiên cứu.

Erythropoietin alfa không gây đột biến trong các thử nghiệm đột biến gen vi khuẩn (thử nghiệm Ames), sai lệch nhiễm sắc thể tế bào động vật có vú, vi nhân chuột nhắt và đột biến ở HGPRT. Sử dụng cho trẻ em phải thẩm tách máu: Erythropoietin alfa được chỉ định cho trẻ em từ 1 đến 18 tuổi để điều trị thiếu máu do suy thận mạn tính phải thẩm tách máu. Độ an toàn và hiệu quả của thuốc trên bệnh nhân nhi dưới 1 tháng tuổi chưa được chứng minh. Dữ liệu về độ an toàn thu được từ các nghiên cứu này cho thấy rủi ro khi dùng thuốc cho trẻ em bị suy thận mạn tính không cao hơn so với khi dùng erythropoietin alfa cho người lớn suy thận mạn.

Sử dụng cho bệnh nhân cao tuổi:

Chưa ghi nhận sự khác biệt vể độ an toàn và hiệu quả của thuốc khi dùng cho bệnh nhân cao tuổi và bệnh nhân trẻ tuổi.

Nên lựa chọn và hiệu chỉnh liều cho từng bệnh nhân cao tuổi để đạt được và duy trì giá trị hematocrit mục tiêu (Xem Liều dùng và cách dùng).

Bệnh nhân suy thận mạn tính:

Bệnh nhân suy thận mạn tính không phải lọc máu:

Nên theo dõi huyết áp và hemoglobin thường xuyên giống như ở bệnh nhân phải lọc máu. cần giám sát chặt chẽ chức năng thận và cân bằng nước – điện giải.

Huyết học:

Cần có đủ thời gian để theo dõi đáp ứng của bệnh nhân với erythropoietin trước khi điều chỉnh liều. Do thời gian cần thiết để tạo hồng cầu cũng như thời gian sống của hồng cầu kéo dài nên có thể phải mất từ 2 đến 6 tuần mới quan sát thấy sự thay đổi đáng kể nồng độ hemoglobin trước khi điều chỉnh liều sử dụng (tăng liều, giảm liều hoặc ngừng thuốc).

Thời gian chảy máu ở bệnh nhân suy thận mạn tinh giảm về mức bình thường sau khi được điều trị thiếu máu bang erythropoietin. Giảm thời gian chảy máu cũng được ghi nhận sau khi điều trị thiếu máu bằng cách truyền máu.

Theo dõi cận lâm sàng:

Nên thường xuyên kiểm tra công thức máu toàn phần và số lượng tiểu cầu. Trong các thử nghiệm lâm sàng, số lượng tiểu cầu và bạch cầu tăng vừa. Mặc dù mức độ tăng có ý nghĩa thống kê nhưng các giá trị này vẫn nam trong giới hạn bình thường.

Chế độ ăn:

Bệnh nhân cần tuần thủ nghiêm ngặt chế độ ăn và lọc máu. Đặc biệt, tăng kali máu không phải tình trạng hiếm gặp ở bệnh nhân suy thận mạn tính. Trong các nghiên cứu được tiến hành tại Mỹ trên bệnh nhân lọc máu sử dụng erythropoietin alfa, tăng kali máu đã được ghi nhận với tỷ lệ khoảng 0,11 mỗi bệnh nhân/năm, thường xảy ra ở bệnh nhân kém tuần thủ chế độ dùng thuốc, chế độ ăn và/hoặc lọc máu.

Kiểm soát lọc máu:

Trong quá trình thẩm phân máu, bệnh nhân dùng erythropoietin alfa có thể phải sử dụng heparin chống đông để dự phòng cục máu đông trong máy thẩm tích.

Giống như tất cả các bệnh nhân phải lọc máu khác, bệnh nhân sử dụng erythropoietin cần được theo dõi thường xuyên các chỉ tiêu sinh hóa máu (bao gồm BƯN, creatinin, phospho và kali) để đảm bảo hiệu quả lọc máu.

Thông tin cho bệnh nhân:

Trong trường họp bác sỹ cho phép bệnh nhân tự sử dụng erythropoietin alfa tại nhà, cần cung cấp cho bệnh nhân đầy đủ thông tin về liều lượng và cách dùng, đồng thời lưu ý không được tái sử dụng bơm tiêm và thuốc.

Chức năng thận:

Ở bệnh nhân trưởng thành bị suy thận mạn tính không phải lọc máu, nên giám sát chặt chẽ chức năng thận cũng như cân bằng nước và điện giải. Phân tích độ dốc của đường biểu diễn 1/nồng độ creatinin huyết thanh theo thời gian cho thấy độ dốc không thay đổi đáng kể trước và sau khi sử dụng erythropoietin.

Bệnh nhân nhiễm HIV điều trị bằng zidovudin:

Tăng huyết áp:

Chưa ghi nhận tăng huyết áp nặng thêm ở bệnh nhân nhiễm HIV điều trị bằng zidovudin sử dụng erythropoietin alfa. Tuy nhiên, nên ngừng sử dụng thuốc ở bệnh nhân tăng huyết áp không kiểm soát được cũng như không nên bắt đầu sử dụng erythropoietin cho đến khi kiểm soát được huyết áp.

Bệnh nhân hóa trị liệu ung thư:

Tăng huyết áp:

Tăng huyết áp do nồng độ hemoglobin tăng cao đã được ghi nhận với tần suất hiếm gặp ở bệnh nhân được điều trị bằng erythropoietin alfa. càn theo dõi chặt chẽ huyết áp của bệnh nhân, đặc biệt là ở bệnh nhân có tiền sử tăng huyết áp hoặc mắc các bệnh tim mạch.

Động kinh:

Trong một thử nghiệm mù đôi có đối chứng, 3,2% (n=2/63) bệnh nhân sử dụng erythropoietin alfa tuần 3 lần và 2,9% (n=2/68) bệnh nhân được dùng giả dược có biêu hiện động kinh. Động kinh xảy ra ở 1,6% (n=T/36) bệnh nhân có huyêt áp và hematocrit tăng cao. Tuy nhiên, những bệnh nhân sử dụng erythropoietin alfa bị động kinh đều mắc bệnh thần kinh từ trước.

Biến cố huyết khối:

Trong một thử nghiệm mù đôi có đối chứng, 3,2% (n=2/63) bệnh nhân sử dụng erythropoietin alfa tuần 3 lần và 11,8% (n=8/68) bệnh nhân được dùng giả dược gặp các biến cố huyết khối (như nghẽn mạch phổi, tai biến mạch máu não).

Trong một thử nghiệm mù đôi có đối chứng sử dụng erythropoietin alfa hàng tuần, 6,0% (n= 10/168) bệnh nhân sử dụng erythropoietin và 3.6% (n=6/165) (p=0,444) bệnh nhân được dùng giả dược gặp phải các biên cô huyêt khôi trên lâm sàng (như huyết khối tĩnh mạch sâu phải dùng thuốc chống đông, các biến cố nghẽn mạch như nghẽn mạch phổi, nhồi máu cơ tim, thiếu máu não, suy thất trái và bệnh vi mạch có huyết khối). Không thể đưa ra kết luận chính xác về mối liên quan giữa tăng nồng độ hemoglobin với các biến cố huyết khối trên lâm sàng do không có đủ dữ liệu về nồng độ hemoglobin trong nghiên cứu này.

Ảnh hưởng đến tăng sinh khối u:

Chưa có đủ dữ liệu để khẳng định sử dụng erythropoietin alfa có ảnh hưởng đến tăng sinh khối u hoặc làm chậm tiến triển khối u hay không.

Bệnh nhân phẫu thuật:

Tăng huyết áp:

Huyết áp có thể tăng lên trong thời gian phẫu thuật ở bệnh nhân sử dụng erythropoietin alfa. Do đó, cần theo dõi chặt chẽ huyết áp ở những bệnh nhân này.

Dự phòng huyết khối ở bệnh nhân phẫu thuật:

Bệnh nhân dự kiến phẫu thuật chỉnh hình lớn cần được dự phòng chống huyết khối phù hợp do các biến cố huyết khối và mạch máu có thể xuất hiện, đặc biệt ở bệnh nhân mắc bệnh tim mạch. Ngoài ra, cần đặc biệt thận trọng ở bệnh nhân có xu hướng tiến triển huyết khối tĩnh mạch sâu. Bên cạnh đó, ở bệnh nhân có nồng độ hemoglobin ban đầu > 13 g/dL, không thể loại trừ khả năng điều trị bằng epoetin alfa làm tăng nguy cơ gặp phải các biến cố huyết khối/mạch máu sau phẫu thuật. Do đó, không nên dùng epoetin alfa cho bệnh nhân có nồng độ hemoglobin ban đầu > 13 g/dL.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Chưa có bằng chứng về ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc. Tuy nhiên, các tác dụng không mong muốn như tiêu chảy, đau đầu, động kinh…đã được ghi nhận, cần thận trọng khi lái xe hay vận hành máy móc

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: B3

US FDA pregnancy category: NA

Thời kỳ mang thai:

Mức độ rủi ro đối với thai nhi: Nhóm C.

Erythropoietin alfa gây ra các tác dụng bất lợi trên chuột dùng liều cao gấp 5 lần liều dùng cho người.

Trong các nghiên cứu trên chuột cái, đã ghi nhận tình trạng tăng thể trọng, chậm mọc lông bụng, chậm mở mắt, chậm hóa xương và giảm số lượng đốt xương đuôi trên chuột con F1 ở nhóm chuột dùng liều 500 đơn vị/kg. Ở chuột cái được tiêm tĩnh mạch erythropoietin, tỷ lệ mất thai có xu hướng tăng nhẹ ở nhóm dùng liều 100 và 500 đơn vị/kg. Erythropoietin alfa không gây ra bất kỳ tác dụng bất lợi nào khi dùng liều cao tới 500 đơn vị/kg trên thỏ cái mang thai (ngày thứ 6 đến 18 của thai kỳ).

Chưa tiến hành các nghiên cứu đầy đủ và được kiểm soát tốt trên phụ nữ mang thai. Chỉ nên sử dụng erythropoietin trong thai kỳ nếu lợi ích thu được vượt hẳn rủi ro có thể xảy đến với thai nhi.

Thời kỳ cho con bú:

Chưa rõ erythropoietin alfa có được tiết vào sữa mẹ hay không. Do nhiều thuốc được tiết vào sữa, nên thận trọng khi sử dụng erythropoietin alfa cho phụ nữ cho con bú

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Tóm tắt về an toàn:

Phản ứng bất lợi hay gặp nhất khi điều trị bằng epoetin alfa là tăng huyết áp phụ thuộc liều dùng hoặc làm nặng thêm tình trạng tăng huyết áp sẵn có. cần theo dõi huyết áp, đặc biệt khi bắt đầu điều trị (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).

Các phản ứng bất lợi hay gặp nhất được ghi nhận trong các thử nghiệm lâm sàng với epoetin alfa là tiêu chảy, buồn nôn, nôn, sốt và đau đầu. Bệnh giống cúm có thể xuất hiện, đặc biệt khi bắt đầu điều trị.

Các trường hợp tắc nghẽn hô hấp, kể cả các biến cố tắc nghẽn đường hô hấp trên, nghẹt mũi và viêm mũi họng đã được ghi nhận trong các nghiên cứu với khoảng cách liều nới rộng trên bệnh nhân là người lớn bị suy thận chưa phải lọc máu.

Sự gia tăng tỉ lệ các biến cố huyết khối mạch máu đã được ghi nhận ở bệnh nhân dùng các thuốc kích thích tạo hồng cầu (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).

Bảng liệt kê các phản ứng bất lợi:

Ước lượng tần suất: Rất hay gặp (> 1/10), Hay gặp (> 1/100 đến <1/10), ít gặp (> 1/1.000 đến <1/100), Hiếm gặp (>: 1/10.000 đến <1/1.000), Rất hiếm gặp (<1/10.000), Chưa rõ tần suất (chưa thể ước lượng được tần suất từ dữ liệu hiện cỏ).

Phân loại theo hệ cơ quan Phản ứng bất lợi Tần suất
Rối loạn máu và hệ bạch huyết Bất sản hồng cầu đơn thuần3, Tăng tiểu cầu Hiếm gặp
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng Tăng kali máu1 ít gặp
Rối loạn hệ miễn dịch Quá mẫn3 ít gặp
Phản ứng phản vệ3 Hiếm gặp
Rối loạn hệ thần kinh Đau đầu Hay gặp
Co giật ít gặp
Rối loạn mạch máu Tăng huyết áp, huyết khối tĩnh mạch và động mạch2 Hay gặp
Cơn tăng huyết áp 3 Chưa rõ tần suất
Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất Ho Hay gặp
Tắc nghẽn đường hô hấp ít gặp
Rối loạn tiêu hóa Tiêu chảy, buồn nôn, nôn Rất hay gặp
Rối loạn da và mô dưới da Phát ban Hay gặp
Mày đay3 ít gặp
Phù mạch thần kinh 3 Chưa rõ tần suất
Rối loạn cơ xương và mô liên kết Đau khớp, đau xương, đau cơ, đau các chi Hay gặp
Rối loạn bẩm sinh, mang tính gia đình và di truyền Rối loạn chuyền hóa porphyrin cấp3 Hiếm gặp
Rối loạn toàn thân và phản ứng tại vị trí sử dụng Sốt Rất hay gặp
Ớn lạnh, bệnh giống cúm, phản ứng tại vị trí tiêm, phù ngoại vi Hay gặp
Thuốc không có hiệu quả3 Chưa rõ tần suất
Khảo sát chung Kháng thể kháng erythropoeitin dương tính Hiếm gặp

(1) Thường gặp ở bệnh nhân lọc máu.

(2) Bao gồm các biến cố động mạch và tĩnh mạch gây tử vong và không gây tử vong như huyết khối tĩnh mạch sâu, thuyên tắc phổi, huyết khối võng mạc, huyết khối động mạch (kể cả nhồi máu cơ tim), tai biến mạch máu não (bao gồm nhồi máu não và xuất huyết não), cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua, huyết khối shunt (kể cả thiết bị lọc láu) và huyết khối trong phình shunt động tĩnh mạch.

trong các phình động mạch xơ mạch

(3) Được nhắc đến trong tiểu mục dưới đây và/hoặc mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc.

Mô tả các phản ứng bất lợi chọn lọc:

Các phản ứng quá mẫn, bao gồm các trường hợp phát ban (kể cả mày đay), phản ứng phản vệ và phù mạch thần kinh đã được ghi nhận.

Cơn tăng huyết áp cùng với bệnh não và động kinh, đòi hỏi thăm khám ngay của bác sỹ và chăm sóc tích cực, cũng đã xuất hiện trong quá trình điều trị bằng epoetin alfa ở bệnh nhân có huyết áp trước đó ở mức bình thường hoặc thấp, cần đặc biệt lưu ý đến tình trạng đau nhói đầu đột ngột như một tín hiệu cảnh báo (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).

Bệnh nhân trưởng thành mắc hội chứng loạn sản tủy có nguy cơ thấp hoặc trung bình mức 1:

Trong một nghiên cứu đa trung tâm, phân nhóm ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng giả dược, 4 (4,7%) bệnh nhân gặp phải các biến cố huyết khối mạch máu (đột tử, đột quỵ thiếu máu cục bộ, tắc mạch và viêm tĩnh mạch). Tất cả các biến cố huyết khối tĩnh mạch xuất hiện ở nhóm sử dụng epoetin alfa và trong 24 tuần đầu của nghiên cứu. Ba bệnh nhân được xác nhận là gặp biến cố huyết khối mạch máu và trong trường họp còn lại (đột tử), biến cố tắc mạch do huyết khối không được xác nhận. Hai bệnh nhân mang các yếu tố nguy cơ rõ rệt (rung tâm nhĩ, suy tim và huyết khối tĩnh mạch).

Bệnh nhân nhi suy thận mạn tính phải thẩm tách máu:

Số ca bệnh nhân nhi suy thận mạn tính phải thẩm tách máu trong các thử nghiệm lâm sàng và sau khi thuốc được cấp phép lưu hành rất hạn chế. Không ghi nhận phản ứng bất lợi đặc hiệu ở trẻ em nào chưa được nhắc đến trong bảng trên hoặc bất kỳ phản ứng bất lợi nào không phù họp với tình trạng bệnh lý nền ở nhóm bệnh nhân này.

Chứng bất sản hồng cầu đơn thuần (PRCA) sau nhiều tháng đến nhiều năm điều trị bằng erythropoietin đã được ghi nhận với tỷ lệ rất hiếm gặp (<1/10.000) (xem thêm mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Cần theo dõi hematocrit một cách thường xuyên và điều chỉnh liều theo đáp ứng nồng độ hemoglobin.

Để tránh tăng đông máu gây tắc mạch, sau khi đã tiêm thuốc vào tĩnh mạch thì tiêm thêm ngay 10 ml dung dịch muối đang trương và tăng liều heparin trong khi chạy thận nhân tạo để phòng huyết khối. Khi tăng huyết áp tới mức nguy hiểm mà các liệu pháp chống tăng huyết áp không có kết quả thì rạch tĩnh mạch để lấy máu ra có thể kết quả tốt.

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Chưa ghi nhận tương tác nào giữa erythropoietin alfa với các thuốc khác trong các thử nghiệm lâm sàng.

Do cyclosporin găn với hổng cầu, có khả năng xảy ra tương tác thuốc. Nếu epoetin alfa được dùng đông thời với cyclosporin, nên theo dõi nồng độ cyclosporin trong máu và hiệu chỉnh liều cyclosporin khi hematocrit tăng

4.9 Quá liều và xử trí:

Các biểu hiện quá liều erythropoietin alfa thường bao gồm các dấu hiệu và triệu trứng tăng mạnh và/hoặc tăng nhanh nồng độ hemoglobin, kể cả các biến cố tim mạch. Bệnh nhân sử dụng quá liều erythropoietin alfa cần được giám sát chặt chẽ các biến cố tim mạch và bất thường huyết học. Nên kiểm soát tình trạng tăng hồng cầu tạm thời bằng cách trích máu tĩnh mạch, cần giám sát chặt chẽ tình trạng tăng nhanh nồng độ hemoglobin (> 1 g/dL sau mỗi 14 ngày). Ở bệnh nhân đáp ứng tạo máu quá mạnh, cần giảm nhiều erythropoietin theo chỉ dẫn (xem phần Liều dùng và cách dùng).

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Thuốc kích thích tạo hồng cầu.

Mã ATC: B03X A01.

Erythropoietin là một hormon có bản chat glycoprotein, có tác dụng kích thích tạo hồng cầu. Erythropoietin được sản xuất từ các tế bào động vật có vú được cấy gen erythropoietin người. Erythropoietin tái tố họp kích thích phân chia và biệt hóa các tế bào tiền nguyên hồng cầu trong tủy xương và có hoạt tính sinh học giống như erythropoietin nội sinh.

Hoạt tính sinh học của erythropoietin người tái tổ họp đã được chứng minh trong in vivo trên các mô hình động vật (chuột cống khỏe mạnh và thiếu máu, chuột nhắt tăng hồng cầu).

Sau khi sử dụng erythropoietin người tái tổ họp, số lượng hồng cầu, tỷ lệ hemoglobin và hồng cầu lưới tăng lên tỷ lệ với đồng vị 59Fe liên họp. Thymidin liên họp có nguyên tử 3H đánh dấu cũng tăng lên khi ủ các tế bào nhân của lách với erythropoietin người tái tổ họp in vitro (nuôi cấy tế bào lách chuột nhắt).

Bằng phương pháp nuôi cấy tế bào tủy xương, erythropoietin người tái tổ hợp đã được chứng minh là có tác dụng kích thích tạo hồng cầu đặc hiệu mà không ảnh hưởng đên quá trình tạo bạch cầu.

Erythropoietin alfa kích thích tạo hồng cầu ở bệnh nhân thiếu máu do suy thận mạn tính, bao gồm cả bệnh nhân phải và không phải chạy thận nhân tạo. Đáp ứng đầu tiên khi sử dụng erythropoietin tuần 3 lần (TIW) là tăng số lượng hồng cầu lưới trong vòng 10 ngày, sau đó là tăng số lượng hồng cầu, hemoglobin và hematocrit trong 2 đến 6 tuần. Khi hematocrit đạt giá trị mục tiêu (30% đến 36%), giá trị này có thể được duy trì bằng cách sử dụng erythropoietin nếu bệnh nhân không bị thiếu sắt hoặc mắc các bệnh khác kèm theo. Tốc độ tăng hematocrit thay đổi theo từng bệnh nhân và phụ thuộc liều erythropoietin (50 đến 300 đơn vị/kg, tuần 3 lần).

Đáp ứng sinh học mạnh hơn được ghi nhận khi dùng liều trên 300 đơn vị/kg, tuần 3 lần.

Các yếu tố khác ảnh hưởng đến tốc độ và mức độ đáp ứng bao gồm dự trữ sat, hematocrit cơ bản và các thuốc khác sử dụng đồng thời.

Bệnh nhân nhiễm HIV được điểu trị bằng zidovudin:

Đáp ứng với erythropoietin alfa của bệnh nhân nhiễm HIV phụ thuộc vào nồng độ erythropoietin nội sinh trong huyết thanh trước khi điều trị. Nhũng bệnh nhân có nồng độ erythropoietin nội sinh trong huyết thanh < 500 mU/ml và sử dụng zidovudin liều < 4.200 mg/tuần đều đáp ứng với điều trị. Bệnh nhân có nồng độ erythropoietin nội sinh > 500 mU/ml không đáp ứng với điều trị. Trong 4 thử nghiệm lâm sàng trên 255 bệnh nhân, 60% đến 80% bệnh nhân nhiễm HIV được điều trị bằng zidovudin có nồng độ erythropoietin nội sinh trong huyết thanh <500 mU/ml.

Đáp ứng với erythropoietin của bệnh nhân nhiễm HIV điều trị bằng zidovudin biểu hiện bằng giảm nhu cầu truyền máu và tăng hematocrit.

Bệnh nhân hóa trị liệu ung thư:

Nhiều thử nghiệm lâm sàng đã được tiến hành trên 131 bệnh nhân thiếu máu do hóa trị liệu ung thư dùng erythropoietin alfa tuần 3 lần và bệnh nhân dùng cisplatin theo chu kỳ và không dùng cisplatin. Nồng độ erythropoietin nội sinh trong huyết tương ở mức cơ bản khác nhau giữa các bệnh nhân: Khoảng 75% (n=83/l 10) bệnh nhân có nồng độ erythropoietin nội sinh < 132 mU/ml và gần 4% (n=4/l 10) bệnh nhân có nồng độ erythropoietin > 500 mU/ml. Nhìn chung, những bệnh nhân có nồng độ erythropoietin cơ bản thấp đáp ứng với erythropoietin alfa mạnh hơn so với bệnh nhân có nồng độ erythropoietin cơ bản cao hơn. Mặc dù chua xác định được nồng độ erythropoietin cơ bản giới hạn mà bệnh nhân không đáp ứng với erythropoietin tái tổ hợp, không nên sử dụng erythropoietin tái tổ họp cho những bệnh nhân có nồng độ erythropoietin huyết thanh tăng cao (> 200 mU/ml).

Cơ chế tác dụng:

Erythropoietin tác dụng như một yếu tố tăng trưởng, kích thích hoạt tính gián phân các tế bào gốc dòng hồng cầu và các tế bào tiền thân hồng cầu (tiền nguyên hồng cầu). Hormon này cũng còn có tác dụng gây biệt hóa, kích thích biến đối đơn vị tạo cụm (CFU) thành tiền nguyên hồng cầu. Erythropoietin phóng thích hồng cầu lưới từ tủy xương đi vào dòng máu, ở đó hồng cầu lưới trưởng thành tạo thành hồng cầu, dẫn đến số lượng hồng cầu tăng lên, do đó nâng mức hematocrit và hemoglobin.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Hấp thu:

Khi tiêm dưới da, nồng độ epoetin alfa trong huyết thanh đạt đỉnh tại thời điểm từ 12 đến 18 giờ sau khi dùng thuốc. Không xảy ra tình trạng tích lũy thuốc khi dùng đa liều 600 IU/kg theo đường tiêm dưới da hàng tuần.

Sinh khả dụng tuyệt đối của epoetin alfa khi dùng theo đường tiêm dưới da là khoảng 20% ở người khỏe mạnh.

Phân bố:

Thể tích phân bố trung bình là 49,3 mL/kg sau khi tiêm tĩnh mạch liều 50 và 100 IU/kg ở người khỏe mạnh. Khi tiêm tĩnh mạch epoetin alfa cho bệnh nhân suy thận mạn tính, thể tích phân bố dao động từ 57-107 mL/kg khi dùng liều đơn (12 IU/kg) tới 42-64 mL/kg khi dùng đa liều (48- 192 IU/kg). Như vậy, thể tích phân bố hơi lớn hơn thể tích huyết tương.

Thải trừ:

Thời gian bán thải của epoetin alfa sau khi tiêm tĩnh mạch đa liều là khoảng 4 giờ ở người khỏe mạnh. Thời gian thải khi tiêm dưới da được ước lượng là khoảng 24 giờ ở người khỏe mạnh.

Độ thanh thải biểu kiến (CL/F) trung bình khi dùng liều 150 IU/kg, tuần 3 lần và 40.000 lư, tuần một lần ở người khỏe mạnh lần lượt là 31,2 và 12,6 mL/h/kg. Trị số CL/F trung bình khi dùng liều 150 IU/kg, tuần 3 lần và 40.000 lư, tuần một lần ở bệnh nhân ung thư bị thiếu máu lần lượt là 45,8 và 11,3 mL/h/ kg. Ở hầu hết bệnh nhân thiếu máu mắc ung thư được điều trị bằng hóa trị liệu theo chu kỳ, trị số CL/F của thuốc sau khi tiêm dưới da liều 40.000 IU, tuần một lần và 150 IU/kg, tuần 3 lần thấp hon so với ở người khỏe mạnh.

Tuyến tính/phi tuyến tính:

Ở người khỏe mạnh, sự gia tăng nồng độ epoetin alfa trong huyết thanh tỉ lệ với liều dùng đã được ghi nhận sau khi tiêm tĩnh mạch liều 150 và 300 IU/kg, tuần 3 lần. Khi sử dụng epoetin alfa liều duy nhất từ 300 đến 2.400 IU/kg theo đường tiêm dưới da, có mối liên hệ tuyến tính giữa Cmax trung bình và liều dùng cũng như giữa trị số AUC trung bình và liều dùng. Mối liên hệ nghịch giữa độ thanh thải biểu kiến và liều dùng đã được ghi nhận ở người khỏe mạnh.

Trong các nghiên cứu để đánh giá việc nới rộng khoảng cách liều (40.000 IU, tuần một lần và 80.000, 100.000 và 120.000 IU, tuần 2 lần), mối liên hệ tuyến tính nhưng không tỉ lệ với liều dùng đã được ghi nhận giữa trị số Cmax trung bình và liều dùng cũng như giữa AUC trung bình và liều dùng ở trạng thái ổn định.

Tương quan dược động học/dược lực học:

Epoetin alfa tác động phụ thuộc liều dùng đến các thông số huyết học, không phụ thuộc vào đường dùng thuốc.

Sau khi tiêm dưới da, Cmax đạt được trong vòng 5 đến 24 giờ. Trị số 11/2 (thời gian bán thải) ở bệnh nhân trưởng thành có nồng độ creatinin huyết thanh trên 3 mg/dL là như nhau giữa bệnh nhân không lọc máu và bệnh nhân duy trì lọc máu. Dữ liệu dược động học cho thấy không có sự khác biệt rõ rệt giữa t1/2 của Epocassa ở bệnh nhân trưởng thành trên hoặc dưới 65 tuổi.

Trẻ em:

11/2 (thòi gian bán thải) khoảng 6,2 đến 8,7 giờ đã được ghi nhận ở trẻ em bị suy thận mạn tính sau khi tiêm tĩnh mạch đa liều epoetin alfa. Dược động học của epoetin alfa ở trẻ em và trẻ vị thành niên tương tự như ở người lớn.

Dữ liệu về dược động học của thuốc ở trẻ sơ sinh chưa đầy đủ.

Một nghiên cứu trên 7 trẻ sinh non rất nhẹ cân và 10 người lớn khỏe mạnh được tiêm tĩnh mạch erythropoietin cho thấy thể tích phân bố của thuốc ở trẻ sinh non cao gấp 1,5 đến 2 lần so với ở người lớn khỏe mạnh, còn độ thanh thải ở trẻ sinh non cao gấp khoảng 3 lần so với ở người lớn khỏe mạnh.

Suy thận:

Ở bệnh nhân suy thận mạn tính, thời gian bán thải của epoetin alfa tiêm tĩnh mạch hơi kéo dài hơn, khoảng 5 giờ, so với ở người khỏe mạnh.

Dược động học của Epocassa chưa được nghiên cứu trên bệnh nhân nhiễm HIV.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuần theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Natri clorid, dinatri phosphat khan, mononatri phosphat klian, albumin người (dung dịch 20%), natri hydroxid/acid hydrocloric, nước pha tiêm

6.2. Tương kỵ :

Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.

6.3. Bảo quản:

Tuần thủ chặt chẽ các điều kiện bảo quản: Bảo quản tại 2-8°C trong bao bì gôc, không làm đông lạnh, không lắc. Tránh ánh sáng.

Lưu ý: Trường hợp bệnh nhân tự dùng thuốc tại nhà: Cán bộ y tế cần thông tin cho bệnh nhân biết về cách bảo quản chế phẩm erythropoittin alfa đế đảm bảo việc tuần thủ đúng điều kiện bảo quản như khuyến cáo nêu trên

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.

Từ khóa » Erythropoietin Biệt Dược