Thuốc Kháng Sinh Moxifloxacin - Avelox | Pharmog
Có thể bạn quan tâm
Thuốc AVELOX là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc AVELOX (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
1. Tên hoạt chất và biệt dược:Hoạt chất : Moxifloxacin
Phân loại: Thuốc Kháng sinh nhóm quinolon. Fluoroquinolon thế hệ 3.
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): J01MA14, S01AE07.
Brand name: AVELOX.
Hãng sản xuất : Bayer Pharma AG
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:Dạng thuốc và hàm lượng
Viên nén bao phim: hộp 1 vỉ x 5 viên.
Dung dịch tiêm truyền: hộp 1 chai 250mL.
Mỗi viên/Mỗi 250mL dung dịch: Moxifloxacin 400mg (dạng hydrocloride).
Thuốc tham khảo:
| AVELOX INFUSION SOLUTION 400MG/250ML | ||
| Mỗi chai dung dịch truyền 250ml có chứa: | ||
| Moxifloxacin | …………………………. | 400 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

| AVELOX | ||
| Mỗi viên nén có chứa: | ||
| Moxifloxacin | …………………………. | 400 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |
3. Video by Pharmog: [VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:4.1. Chỉ định:
Thuốc viên
Avelox 400mg viên nén bao phim được chỉ định trong điều trị bệnh nhiễm khuẩn do những dòng vi khuẩn nhạy cảm gây ra trong các trường hợp liệt kê dưới đây:
Nhiễm khuẩn đường hô hấp: Viêm phổi mắc phải trong cộng đồng (với mức độ từ nhẹ đến trung bình) do Streptococcus pneumoniae, Haemophilus influenzae, Mycoplasma pneumoniae, Chlamydia pneumoniae hoặc Moraxella catarrhalis gây ra.
Viêm da và tổ chức dưới da không có biến chứng do Staphylococcus aureus hoặc Streptpcoccus pyogenes gây ra.
Nhiễm trùng da và tổ chức dưới da có biến chứng (bao gồm cả nhiễm trùng bàn chân do bệnh đái tháo đường).
Nhiễm trùng ổ bụng có biến chứng bao gồm cả các trường hợp nhiễm trùng do nhiều loại vi khuẩn gây ra như áp xe.
Điều trị các bệnh viêm vùng chậu mức độ nhẹ đến trung bình (ví dụ: nhiễm trùng đường sinh dục trên của nữ, bao gồm viêm vòi trứng và viêm nội mạc tử cung) mà không có áp xe vòi trứng hoặc hố chậu. Viên nén bao phim Avelox 400mg không khuyến cáo sử dụng đơn trị liệu bệnh lý viêm vùng chậu mà nên phối hợp thuốc với một kháng sinh diệt khuẩn thích hợp khác (như cephalosporin) do tăng sự kháng thuốc với moxifloxacin của Neisseria gonorrhoeae trừ khi có thể loại trừ Neisseria gonorrhoeae kháng moxifloxacin.
Viêm xoang cấp do vi khuẩn Streptococcus pneumoniae, Haemophilus influenzae hoặc Moraxella catarrhalis gây ra. Do kháng sinh fluoroquinolon, trong đó có Avelox liên quan đến phản ứng có hại nghiêm trọng (xem mục Cảnh báo) và viêm xoang cấp tính do vi khuẩn ở một số bệnh nhân có thể tự khỏi, chỉ nên sử dụng Avelox cho những bệnh nhân không có lựa chọn điều trị khác thay thế.
Đợt cấp của viêm phế quản mạn do vi khuẩn Streptococcus pneumoniae, Haemophilus influenzae, Haemophilus parainfluenzae, Klebsiella pneumoniae, Staphylococcus aureus hoặc Moraxella catarrhalis gây ra. Do kháng sinh fluoroquinolon, trong đó có Avelox liên quan đến phản ứng có hại nghiêm trọng (xem mục Cảnh báo) và đợt nhiễm khuẩn cấp của viêm phế quản mạn tính ở một số bệnh nhân có thể tự khỏi, chỉ nên sử dụng Avelox cho những bệnh nhân không có lựa chọn điều trị khác thay thế.
Nên xem xét cẩn thận các chỉ dẫn chính thức về sử dụng thích hợp các kháng sinh.
Thuốc tiêm
Dung dịch Avelox tiêm truyền tĩnh mạch được chỉ định trong điều trị bệnh viêm phổi mắc phải từ cộng đồng do những chủng vi khuẩn nhạy cảm.
Nhiễm trùng da và tổ chức dưới da phức tạp (bao gồm nhiễm trùng bàn chân do bệnh đái tháo đường).
Nhiễm trùng ổ bụng phức tạp (bao gồm cả các trường hợp nhiễm trùng do nhiều loại vi khuẩn như áp xe).
Nên xem xét cẩn thận các chỉ dẫn chính thức về sử dụng thích hợp các kháng sinh.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Dạng viên: Nuốt nguyên cả viên thuốc với một lượng nước vừa đủ, nên uống thuốc ngoài bữa ăn.
Dạng truyền:
Truyền thuốc theo đường tĩnh mạch với thời gian trên 60 phút.
Dòng chữ “thời gian truyền trên 60 phút” phải được lưu ý trên bao bì sản phẩm.
Có thể truyền thuốc trực tiếp hoặc qua ống chữ T cùng với các dung dịch tiêm truyền tương thích.
Các dung dịch cùng tiêm truyền dưới đây cho thấy khi pha với dung dịch Avelox có thể tạo thành hỗn hợp ổn định trên 24 giờ ở nhiệt độ phòng, do đó có thể coi là tương thích với dung dịch Avelox để tiêm truyền:
Nước cất pha tiêm
Natri Clorid 0.9%
Natri Clorid 1 M
Glucose 5%
Glucose 10%
Glucose 40%
Xylit 20%
Dung dịch Ringer
Dung dịch Lactated Ringer
Nếu dung dịch tiêm truyền Avelox được cho cùng với một thuốc khác, thì mỗi thuốc phải được truyền riêng rẽ (xem mục “Tương kỵ”).
Chỉ sử dụng dung dịch còn trong suốt.
Liều dùng:
Liều dùng (người lớn): Liều khuyên dùng cho Avelox là 400 mg (1 viên nén bao phim hoặc 250 mL dung dịch tiêm truyền, tương ứng) một lần mỗi ngày cho các chỉ định nêu trên và không được dùng quá liều.
Thời gian điều trị
Nên xác định thời gian điều trị tùy theo mức độ nặng của chỉ định hay đáp ứng lâm sàng.
Thuốc viên
Có thể sử dụng theo khuyến cáo chung dưới đây:
Viêm phổi mắc phải trong cộng đồng: 10 ngày
Nhiễm trùng da và tổ chức dưới da không có biến chứng: 7 ngày
Nhiễm trùng da và tổ chức dưới da có biến chứng tổng thời gian điều trị nối tiếp (truyền tĩnh mạch trước sau đó chuyển sang dùng đường uống): 7-21 ngày.
Nhiễm trùng ổ bụng có biến chứng tổng thời gian điều trị nối tiếp (truyền tĩnh mạch trước sau đó chuyển sang dùng đường uống): 5-14 ngày.
Nhiễm trùng hố chậu mức độ nhẹ đến vừa: 14 ngày
Đợt cấp của viêm phế quản mạn: 5 ngày
Viêm xoang cấp: 7 ngày
Viên Avelox 400mg đã được nghiên cứu trong những thử nghiệm lâm sàng kéo dài đến 21 ngày điều trị (trong điều trị nhiễm trùng da và tổ chức dưới da có biến chứng).
Cách sử dụng: Nuốt nguyên cả viên thuốc với một lượng nước vừa đủ có thể uống thuốc trong hay ngoài bữa ăn.
Thông tin bổ sung cho các dân số đặc biệt
Người già: Không cần phải chỉnh liều ở người già.
Trẻ em và thanh thiếu niên: Hiệu quả và độ an toàn của Avelox ở trẻ em và thanh thiếu niên chưa được xác định (xem thêm phần Chống chỉ định).
Các chủng tộc khác nhau: Không cần chỉnh liều trong các nhóm dân tộc.
Suy gan: Không cần phải chỉnh liều ở bệnh nhân suy chức năng gan (xem thêm phần Cảnh báo khi sử dụng cho những bệnh nhân xơ gan).
Suy thận: Không cần phải chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận ở bất kỳ mức độ nào (kể cả khi độ thanh thải creatinine ≤ 30ml/phút/1,73m2) và trên bệnh nhân phải lọc máu kéo dài như chạy thận nhân tạo hoặc bệnh nhân ngoại trú thẩm phân phúc mạc liên tục.
Thuốc tiêm
Liều thường khuyên dùng dưới đây là cho điều trị nhiễm trùng đường hô hấp trên và dưới:
Có thể khởi đầu đợt điều trị với tiêm truyền tĩnh mạch sau đó chuyển sang dùng viên uống khi có chỉ định trên lâm sàng.
Tổng thời gian điều trị khuyên dùng trong trường hợp điều trị nối tiếp viêm phổi cộng đồng (khởi đầu bằng truyền tĩnh mạch sau đó chuyển sang uống) là từ 7 đến 14 ngày.
Tổng thời gian điều trị nối tiếp cho nhiễm trùng da và tổ chức dưới da phức tạp (khởi đầu bằng truyền tĩnh mạch sau đó chuyển sang uống): 7-21 ngày.
Tổng thời gian điều trị nối tiếp cho nhiễm trùng ổ bụng phức tạp (khởi đầu bằng truyền tĩnh mạch sau đó chuyển sang uống): 5-14 ngày.
Không nên kéo dài quá thời gian điều trị được khuyến cáo.
Dung dịch tiêm truyền Avelox 400mg đã được nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng kéo dài đến 21 ngày điều trị (nhiễm trùng da và tổ chức dưới da phức tạp).
Thông tin bổ sung cho các bệnh nhân đặc biệt
Bệnh nhi: Hiệu quả của moxifloxacin ở trẻ em và thanh thiếu niên chưa được xác định. Dữ liệu hiện có được trình bày trong các mục Tác dụng ngoại ý, Dược động học và Dược lực học. Không có khuyến cáo về liều lượng sử dụng.
Độ an toàn của Avelox ở trẻ dưới 6 tuổi chưa được xác định. Dữ liệu hiện có được trình bày trong các mục Tác dụng ngoại ý, Đặc tính Dược động học và Đặc tính Dược lực học và Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng.
Người lớn tuổi: Không cần phải chỉnh liều ở người lớn tuổi.
Các chủng tộc khác nhau: Không cần chỉnh liều trong các nhóm chủng tộc.
Suy gan: Không cần phải chỉnh liều ở bệnh nhân có tổn thương chức năng gan (xem phần Cảnh báo khi sử dụng cho bệnh nhân bị xơ gan).
Suy thận: Không cần phải chỉnh liều trên bệnh nhân suy thận ở bất kỳ mức độ nào (kể cả khi độ thanh thải creatinine ≤ 30mL/phút/1,73m2) và trên bệnh nhân đang phải lọc máu kéo dài như thẩm tách máu và bệnh nhân thẩm phân phúc mạc liên tục ngoại trú.
4.3. Chống chỉ định:
Mẫn cảm với moxifloxacin hoặc các quinolon khác hoặc bất kỳ thành phần tá dược của thuốc
Phụ nữ có thai và cho con bú.
Thuốc viên
Bệnh nhân dưới 18 tuổi.
Thuốc tiêm
Bệnh nhân có khoảng QT kéo dài
Bệnh nhân có hạ kali máu chưa được điều chỉnh
Bệnh nhân đang điều trị bằng các thuốc chống loạn nhịp nhóm IA (như quinidin, procainamid) hoặc nhóm III (như amiodaron, sotalol)
Bệnh nhân có bệnh sử bệnh gân cơ.
4.4 Thận trọng:
Các kháng sinh nhóm fluoroquinolon bao gồm Avelox có liên quan đến các phản ứng có hại nghiêm trọng có khả năng gây tàn tật và không hồi phục trên các hệ cơ quan khác nhau của cơ thể. Các phản ứng này có thể xuất hiện đồng thời trên cùng bệnh nhân. Các phản ứng có hại thường được ghi nhận gồm viêm gân, đứt gân, đau khớp, đau cơ, bệnh lý thần kinh ngoại vi và các tác dụng bất lợi trên hệ thống thần kinh trung ương (ảo giác, lo âu, trầm cảm, mất ngủ, đau đầu nặng và lú lẫn). Các phản ứng này có thể xảy ra trong vòng vài giờ đến vài tuần sau khi sử dụng thuốc Avelox. Bệnh nhân ở bất kỳ tuổi nào hoặc không có yếu tố nguy cơ tồn tại từ trước đều có thể gặp những phản ứng có hại trên.
Ngừng sử dụng thuốc Avelox ngay khi có dấu hiệu hoặc triệu chứng đầu tiên của bất kỳ phản ứng có hại nghiêm trọng nào. Thêm vào đó, tránh sử dụng các kháng sinh nhóm fluoroquinolon cho các bệnh nhân đã từng gặp các phản ứng nghiêm trọng liên quan đến fluoroquinolon.
Trong một số trường hợp, phản ứng quá mẫn hoặc phản ứng dị ứng xảy ra sau lần dùng thuốc đầu tiên và phải thông báo cho bác sĩ biết ngay lập tức.
Phản ứng phản vệ trong một số rất hiếm trường hợp có thể dẫn đến tình trạng shock gây nguy hiểm đến tính mạng, trong một số trường hợp có thể xảy ra sau lần dùng thuốc đầu tiên. Trong những trường hợp này, phải ngưng sử dụng Avelox và cần có điều trị nội khoa (ví dụ điều trị shock).
Avelox đã được chứng minh làm kéo dài khoảng QT trên điện tâm đồ ở một số bệnh nhân.
Vì phụ nữ có khuynh hướng có khoảng QT lúc ban đầu dài hơn so với nam giới, do đó phụ nữ có thể nhạy cảm hơn với các thuốc gây kéo dài khoảng QT.
Người già có thể nhạy cảm hơn đối với những tác dụng lên khoảng QT có liên quan đến thuốc.
Do độ rộng của khoảng QT kéo dài có thể tăng lên theo nồng độ gia tăng của thuốc. Không nên vượt quá liều sử dụng và tốc độ truyền đã được khuyến cáo (400mg trong thời gian 60 phút). Tuy nhiên đối với những bệnh nhân viêm phổi, người ta không thấy có sự tương quan giữa nồng độ của moxifloxacin trong huyết tương và kéo dài khoảng QTc. Sự kéo dài khoảng QT có thể dẫn tới tăng nguy cơ loạn nhịp thất bao gồm xoắn đỉnh. Không có trường hợp bệnh hoặc tử vong tim mạch có thể quy cho sự kéo dài khoảng QT khi điều trị với Avelox trong các nghiên cứu lâm sàng trên hơn 9.000 bệnh nhân, tuy nhiên một số bệnh có bản chất dễ mắc phải có thể làm tăng nguy cơ loạn nhịp thất.
Do đó nên tránh sử dụng Avelox do thiếu kinh nghiệm lâm sàng sử dụng thuốc trên những nhóm bệnh nhân sau:
– Trên các bệnh nhân có khoảng QT kéo dài
– Các bệnh nhân có hạ kali máu chưa được điều trị
– Các bệnh nhân đang điều trị bằng các thuốc chống loạn nhịp nhóm IA (như quinidine, procainamide) hoặc nhóm III (như amiodarone, sotalol).
Nên sử dụng thận trọng Avelox cho những bệnh nhân sau do không loại trừ được tác dụng hiệp đồng làm kéo dài khoảng QT của moxifloxacin:
– Bệnh nhân được điều trị đồng thời với các thuốc làm kéo dài khoảng QT như cisaprid, erythromycin, thuốc chống loạn thần hoặc các chống trầm cảm 3 vòng.
– Bệnh nhân đang có tình trạng tiền loạn nhịp tim như nhịp chậm rõ trên lâm sàng hoặc thiếu máu cục bộ cơ tim cấp tính.
– Ở những bệnh nhân xơ gan do không thể loại trừ khả năng những bệnh nhân này đã có trước khoảng QT kéo dài.
– Phụ nữ và người già có thể nhạy cảm hơn với các thuốc kéo dài khoảng QT.
Đã có những báo cáo về các trường hợp viêm gan tối cấp có thể dẫn đến suy gan (bao gồm các trường hợp tử vong) với Avelox (xem mục “Tác dụng ngoại ý”). Bệnh nhân cần được khuyến cáo liên hệ ngay với bác sỹ trước khi tiếp tục điều trị nếu xuất hiện các triệu chứng liên quan đến suy gan.
Đã có những báo cáo về các phản ứng da bỏng rộp như hội chứng Stevens-Johnson hoặc hoại tử biểu bì do nhiễm độc với Avelox (xem mục “Tác dụng ngoại ý”). Bệnh nhân phải được khuyến cáo liên hệ ngay với bác sỹ trước khi tiếp tục điều trị nếu xuất hiện các phản ứng da và/hoặc niêm mạc.
Các cơn động kinh cũng có thể xảy ra khi điều trị với quinolon. Nên sử dụng thận trọng trên những bệnh nhân đã có hoặc nghi ngờ có các rối loạn của hệ thần kinh trung ương có thể dẫn tới cơn động kinh hoặc làm giảm ngưỡng của cơn động kinh.
Viêm đại tràng do sử dụng thuốc kháng sinh đã được báo cáo khi sử dụng những kháng sinh phổ rộng, bao gồm cả Avelox; do đó, điều quan trọng là phải nghĩ tới chẩn đoán này ở những bệnh nhân bị tiêu chảy nghiêm trọng đi kèm với sử dụng Avelox. Trong tình huống lâm sàng này, nên tiến hành ngay các biện pháp điều trị phù hợp. Chống chỉ định dùng các thuốc ức chế nhu động ruột trên những bệnh nhân tiêu chảy nghiêm trọng.
Cần thận trọng khi sử dụng Avelox cho bệnh nhân bị nhược cơ nặng vì có thể làm cho các triệu chứng của bệnh trầm trọng hơn.
Viêm gân và đứt gân có thể xảy ra khi điều trị bằng quinolon bao gồm cả Avelox, đặc biệt trên bệnh nhân lớn tuổi và những người đang điều trị đồng thời với corticosteroids, đã có báo cáo về các trường hợp xảy ra sau khi kết thúc điều trị vài tháng. Khi có những dấu hiệu đầu tiên của đau hay viêm, bệnh nhân cần ngưng thuốc và để chi bị ảnh hưởng nghỉ ngơi.
Quinolon cho thấy có thể làm bệnh nhân tăng nhạy cảm với ánh sáng. Tuy nhiên, chưa thấy rõ tính nhạy cảm với ánh sáng trong các thử nghiệm tiền lâm sàng và lâm sàng với Avelox. Ngoài ra, kể từ khi bắt đầu sử dụng cho đến nay chưa thấy các bằng chứng lâm sàng cho thấy Avelox gây các phản ứng nhạy cảm với ánh sáng. Mặc dù vậy, nên khuyên bệnh nhân tránh tiếp xúc nhiều với tia cực tím hoặc ánh sáng mặt trời.
Đối với bệnh nhân có bệnh viêm/ nhiễm trùng vùng hố chậu phức tạp/ có biến chứng (ví dụ liên quan đến áp xe vòi trứng-buồng trứng hay áp xe vùng hố chậu) cần xem xét đến điều trị tiêm truyền tĩnh mạch, không khuyến cáo viên nén bao phim Avelox 400mg.
Không khuyến cáo sử dụng moxifloxacin để điều trị nhiễm khuẩn do MRSA. Trong trường hợp nghi ngờ hoặc đã xác định nhiễm khuẩn gây ra bởi MRSA, nên bắt đầu điều trị bằng kháng sinh phù hợp (xem mục “Đặc tính dược lực học”).
Hoạt tính của moxifloxacin in vitro có thể làm ảnh hưởng đến xét nghiệm nuôi cấy Mycobacterium spp. do ức chế sự phát triển của vi khuẩn Mycobacteria, gây ra kết quả âm tính giả trên mẫu bệnh phẩm lấy từ bệnh nhân đang dùng Avelox.
Đã có báo cáo về các trường hợp bệnh đa dây thần kinh cảm giác hay vận động cảm giác, dẫn đến dị cảm, tăng/ giảm cảm giác, rối loạn cảm giác hoặc yếu cơ ở bệnh nhân đang dùng kháng sinh nhóm quinolon, bao gồm cả Avelox. Nên khuyến cáo bệnh nhân đang điều trị Avelox thông báo cho bác sĩ trước khi tiếp tục điều trị nếu xảy ra các triệu chứng của bệnh dây thần kinh như đau, nóng bỏng, ngứa ran, tê hoặc tình trạng yếu cơ (xem mục “Tác dụng ngoại ý”).
Các phản ứng tâm thần có thể xảy ra thậm chí sau lần đầu tiên sử dụng kháng sinh nhóm fluoroquinolon, bao gồm cả moxifloxacin. Rất hiếm gặp các trường hợp trầm cảm hoặc phản ứng loạn thần dẫn đến ý nghĩ tử tự và hành vi tự gây thương tích cho bản thân như cố gắng tử tự (xem mục “Tác dụng ngoại ý”). Trong trường hợp bệnh nhân mắc phải các phản ứng này, nên ngừng sử dụng Avelox và được thay thế bằng các biện pháp thích hợp. Nên thận trọng khi sử dụng Avelox ở các bệnh nhân loạn thần hoặc bệnh nhân có bệnh sử mắc bệnh tâm thần.
Do tần suất nhiễm Neisseria gonorrhoeae đề kháng fluoroquinolon lan rộng và đang tăng lên, nên tránh sử dụng moxifloxacin đơn trị liệu ở bệnh nhân có bệnh viêm vùng chậu, ngoại trừ có thể loại trừ được N. gonorrhoeae đề kháng fluoroquinolon. Nếu không loại trừ được N. gonorrhoeae đề kháng fluoroquinolon, nên cân nhắc phối hợp thêm một kháng sinh thích hợp thường có hoạt tính chống lại N. gonorrhoeae (như kháng sinh cephalosporin) vào phác đồ moxifloxacin theo kinh nghiệm.
Rối loạn đường huyết: Cũng như tất cả các fluoroquinolone, sự rối loạn đường huyết, bao gồm cả tăng và giảm đường huyết đã được báo cáo với Avelox. Ở bệnh nhân điều trị bằng Avelox, rối loạn đường huyết xảy ra chủ yếu ở bệnh nhân đái tháo đường lớn tuổi đang điều trị đồng thời với một thuốc hạ đường huyết dạng uống (v.d. sulfonylurea) hoặc với insulin. Ở bệnh nhân đái tháo đường, cần theo dõi chặt chẽ nồng độ đường huyết (xem mục “Tác dụng ngoại ý”).
Thông tin về tá dược: Đối với những bệnh nhân cần hạn chế lượng natri đưa vào cơ thể (bệnh nhân suy tim xung huyết, suy thận, hội chứng thận hư v.v.) cần tính thêm đến tải lượng natri của dung dịch tiêm truyền.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Tác dụng trên khả năng lái xe và vận hành máy móc: Các fluoroquinolone bao gồm cả moxifloxacin có thể gây ảnh hưởng đến khả năng lái xe hoặc vận hành máy móc do các phản ứng của hệ thần kinh trung ương và rối loạn về thị lực (xem phần “Tác dụng ngoại ý”).
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: B3
US FDA pregnancy category: C
Thời kỳ mang thai:
Tính an toàn của Avelox khi sử dụng cho phụ nữ có thai chưa được nghiên cứu. Tổn thương khớp có phục hồi đã được mô tả ở những trẻ có sử dụng một vài loại quinolone, tuy nhiên, tác dụng này chưa được báo cáo là có xảy ra đối với bào thai có phơi nhiễm với thuốc. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy thuốc có độc tính cho hệ sinh sản. Khả năng nguy cơ đối với con người chưa được biết.
Do vậy, chống chỉ định sử dụng Avelox cho phụ nữ mang thai.
Thời kỳ cho con bú:
Cũng giống như các quinolone khác, Avelox cho thấy có khả năng gây nên những thương tổn ở sụn đối với những khớp gánh chịu lực ở những động vật chưa trưởng thành. Các bằng chứng tiền lâm sàng cho thấy một lượng nhỏ moxifloxacin có thể được tiết vào trong sữa người. Chưa có những dữ liệu đối với sự tiết sữa hay phụ nữ cho con bú. Do vậy, chống chỉ định sử dụng Avelox cho những bà mẹ đang cho con bú.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Bảng liệt kê các tác dụng có hại/ phản ứng bất lợi
Các tác dụng/ phản ứng ngoại ý của thuốc (ADR) dựa trên tất cả các nghiên cứu lâm sàng với moxifloxacin 400mg (chỉ dùng uống và nối tiếp [IV/uống]/tiêm tĩnh mạch) sắp xếp theo CIOMS III về các loại thường gặp (tổng quát n=17.951 trường hợp trong đó có 4.583 trường hợp từ các nghiên cứu trị liệu nối tiếp/tiêm tĩnh mạch, cho đến thời điểm tháng 5/2010) được liệt kê trong bảng 10:
Các ADR được liệt kê ở mức “hay gặp” được quan sát với tần suất < 3% ngoại trừ triệu chứng nôn và tiêu chảy.
Các ADR ghi nhận được từ các báo cáo sau khi đưa thuốc ra thị trường (cho đến thời điểm tháng 5/2010) được in đậm và nghiêng trong bảng 10.
Trong mỗi nhóm phân loại theo tần suất, các tác dụng không mong muốn được sắp xếp theo thứ tự mức độ nghiêm trọng giảm dần. Các nhóm phân loại tần suất được quy ước/ định nghĩa như sau: Hay gặp (≥1/100 tới <1/10), Ít gặp (≥1/1.000 tới <1/100), Hiếm gặp (≥1/10.000 tới <1/1.000), Rất hiếm gặp (<1/10.000).
– xem Bảng 10.

Những tác dụng không mong muốn sau đây thường xảy ra ở tần suất cao hơn trong nhóm bệnh nhân điều trị nối tiếp tiêm truyền tĩnh mạch/uống:
Thường gặp: tăng men Gamma-Glutamyl-Transferase
Không thường gặp: Nhịp nhanh thất, hạ huyết áp, phù, giãn mạch, viêm đại tràng liên quan đến kháng sinh (trong một số rất hiếm trường hợp có thể gây biến chứng nguy hiểm đến tính mạng), lên cơn động kinh với các biểu hiện lâm sàng khác nhau (bao gồm những cơn động kinh cơn lớn), ảo giác, tổn thương chức năng thận (trong một số trường hợp do mất nước dẫn đến suy thận chức năng, đặc biệt ở những bệnh nhân lớn tuổi đã có rối loạn chức năng thận trước đó).
Thông tin bổ sung về các đối tượng bệnh nhân đặc biệt
Bệnh nhi
Các biến cố bất lợi ở trẻ (>3 tháng đến < 18 tuổi) được trích dẫn từ một nghiên cứu lâm sàng trên bệnh nhi bị nhiễm khuẩn trong ổ bụng phức tạp. Dữ liệu đã được thu thập từ tổng số 301 bệnh nhi điều trị bằng moxifloxacin để phân tích độ an toàn, trong đó có 15 bệnh nhân dưới 6 tuổi và 286 bệnh nhân tuổi từ 6-18.
Tổn thương sụn của các khớp chịu lực ở động vật chưa trưởng thành được biết là một ảnh hưởng của nhóm fluoroquinolones. Do đó, các biến cố cơ xương được theo dõi cẩn thận và theo dõi hơn 1 năm sau nghiên cứu. Các biến cố bất lợi liên quan đến cơ xương quan sát được trong nghiên cứu hầu như được đánh giá ở mức độ nhẹ, và được phân phối như nhau giữa nhóm moxifloxacin và các nhóm so sánh. Không có biến cố cho thấy bệnh sụn.
Moxifloxacin cho thấy có làm kéo dài khoảng QT trên điện tâm đồ ở một số bệnh nhân (xem mục Cảnh báo). Phân tích ECG ở bệnh nhi cho thấy kéo dài khoảng QT là phổ biến. Không có tử vong hay bệnh tim mạch có thể quy cho là do kéo dài QTc xảy ra khi điều trị bằng moxifloxacin trong các nghiên cứu trên bệnh nhi. Đối với các cảnh báo và thận trọng đặc biệt khi sử dụng liên quan đến kéo dài khoảng QT, xem mục Cảnh báo.
Tần số, loại và mức độ nặng của các phản ứng bất lợi ở trẻ em được cho là tương tự như ở người lớn. Phân tích dưới nhóm theo các nhóm tuổi không cho thấy bất kỳ các ngoại lệ liên quan đến tuổi. Tuy nhiên, số lượng trẻ em dưới 6 tuổi ít làm hạn chế sự phân tích các phản ứng bất lợi ở trẻ nhỏ.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Cần ngừng ngay moxifloxacin khi: Có bất kỳ dấu hiệu nào của phản ứng quá mẫn; có dấu hiệu tác dụng không mong muốn lên thần kinh (như co giật, trầm cảm, lú lẫn, ảo giác, run rẩy, có ý nghĩ tự sát); đau, viêm hoặc bong gân.
Các biểu hiện rối loan tiêu hoá như buồn nôn, nôn, đau bụng, rối loạn vị giác thường ờ mức độ nhẹ không cần can thiệp điều trị. Nếu có dáu hiệu viêm đại tràng màng giả, cần theo dõi mức độ la chảy, nếu nặng phải điều trị bằng kháng sinh khác thích hợp.
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Các thuốc sau đây đã được chứng minh là không có các tương tác trên lâm sàng với Avelox: atenolol, ranitidin, các chế phẩm bổ sung canxi, theophyllin, cyclosporine, thuốc uống tránh thai, glibenclamid, itraconazol, digoxin, morphin, probenecid. Không cần phải điều chỉnh liều đối với những thuốc này.
Các thuốc kháng acid, muối khoáng và vitamin: Sử dụng đồng thời Avelox với các thuốc trung hòa acid, muối khoáng và vitamin có thể làm giảm hấp thu của thuốc do sự hình thành các phức hợp chelat với những cation đa hóa trị có trong chế phẩm. Điều này có thể dẫn đến nồng độ của thuốc trong huyết tương thấp hơn đáng kể so với mong muốn. Do vậy, các thuốc trung hòa acid, thuốc kháng retrovirut (như didanosin) và những chế phẩm khác chứa magnesium hay nhôm, sucralfate và những thuốc chứa sắt hay kẽm nên được sử dụng ít nhất 4 giờ trước hoặc 2 giờ sau khi uống moxifloxacin.
Warfarin
Không ghi nhận có tương tác thuốc trong thời gian điều trị đồng thời với warfarin trên dược lực học, thời gian prothrombin và các thông số về đông máu khác.
Thay đổi về INR (International Normalized Ratio): Các trường hợp tăng hoạt tính chống đông đã được báo cáo ở những bệnh nhân sử dụng các thuốc chống đông đồng thời với thuốc kháng sinh, bao gồm cả Avelox. Bệnh nhiễm trùng (và quá trình viêm kèm theo), tuổi tác và tổng trạng của bệnh nhân là các yếu tố nguy cơ. Mặc dù sự tương tác giữa Avelox và warfarin chưa được chứng minh trong các thử nghiệm lâm sàng, tuy nhiên nên tiến hành theo dõi INR và nếu cần thiết, nên điều chỉnh liều lượng của các loại thuốc uống chống đông máu cho phù hợp.
Digoxin: Dược động học của digoxin không bị ảnh hưởng đáng kể bởi moxifloxacin (và ngược lại). Sau khi dùng liều nhắc lại ở người tình nguyện khoẻ mạnh, moxifloxacin làm tăng nồng độ tối đa (Cmax) của digoxin lên xấp xỉ 30% ở tình trạng ổn định và không làm ảnh hưởng đến diện tích dưới đường cong (AUC) hoặc nồng độ thấp nhất.
Than hoạt: Sử dụng đồng thời than hoạt với Avelox liều uống 400mg làm giảm tính khả dụng toàn thân của moxifloxacin đến 80% do nó ngăn cản quá trình hấp thu thuốc trong in vivo. Sử dụng than hoạt trong giai đoạn hấp thu sớm ngăn cản sự tăng lên của mức độ phơi nhiễm toàn thân trong các trường hợp dùng quá liều.
Sau khi dùng thuốc theo đường tĩnh mạch, các thuốc có chứa carbon chỉ làm giảm nhẹ mức độ phơi nhiễm toàn thân của thuốc (khoảng 20%).
Thức ăn và các sản phẩm từ sữa: Sự hấp thu của Avelox không bị ảnh hưởng bởi thức ăn (kể cả các sản phẩm từ sữa). Do đó, có thể uống Moxifloxacin không phụ thuộc vào bữa ăn.
4.9 Quá liều và xử trí:
Khi đã uống quá liều moxifloxacin không cỏ thuốc đặc hiệu để điều trị, chủ yếu là điều trị triệu chứng và điều trị hỗ trợ: gây nôn và rửa dạ dày để làm giảm hấp thu thuốc, lợi niệu để tâng thải thuốc. Theo dồi điện tâm đồ ít nhát trong vòng 24 giờ vì có thể khoảng QT kéo dài hoặc loạn nhịp tim. Bù đủ dịch cho người bệnh.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc:5.1. Dược lực học:
Đặc điểm dược lực học
Nhóm tác dụng dược lý: Kháng sinh nhóm quinolon, fluoroquinolon
Mã ATC: J01MA 14
Tác dụng lên quần thể vi khuẩn đường tiêu hoá ở người: Trong 2 nghiên cứu trên người tình nguyện, thấy có các thay đổi của chủng vi khuẩn thường trú ở ruột dưới đây sau khi uống moxifloxacin: E.Coli, Bacillus spp., Bacteroides vulgatus, Enterococci và Klebsiella spp bị giảm đi cũng như các vi khuẩn kỵ khí khác như Bifidobacterium, Eubacterium và Peptostreptococcus. Các thay đổi này trở về bình thường trong vòng 2 tuần. Không tìm thấy độc tính của Clostridium difficile.
Dữ liệu nhạy cảm với thuốc trên in vitro
– xem Bảng 1, 2, 3 & 4.




Tần suất kháng thuốc mắc phải có thể thay đổi theo vùng địa lý và theo thời gian đối với một số chủng vi khuẩn. Thông tin về kháng thuốc tại các địa phương cần được chú ý, đặc biệt là khi điều trị cho các nhiễm trùng nặng. Các thông tin ở trên là chỉ dẫn về khả năng vi khuẩn có thể nhạy cảm đối với moxifloxacin.
So sánh các chỉ số đại diện Dược động học/Dược lực học cho sử dụng moxifloxacin theo đường tiêm truyền và đường uống với liều đơn 400mg Avelox.
Đối với những bệnh nhân phải nằm viện, các thông số AUC/MIC90 thường lớn hơn 125 và Cmax/MIC90 nằm trong khoảng 8-10 được dự báo cho chữa khỏi về lâm sàng (theo Schentag). Đối với những bệnh nhân điều trị ngoại trú, các thông số đại diện này thường nhỏ hơn, ví dụ như AUC/MIC90 lớn hơn 30-40 (theo Dudley và Ambrose).
Bảng 5 cung cấp các chỉ số đại diện Dược động học/Dược lực học lần lượt cho sử dụng theo đường tiêm truyền tĩnh mạch và đường uống 400mg Moxifloxacin tính theo dữ liệu cho liều đơn.
– xem Bảng 5.

Nhóm đối tượng bệnh nhân đặc biệt
Bệnh nhi
Nghiên cứu lâm sàng ở bệnh nhiễm khuẩn ổ bụng phức tạp (cIAI):
Độ an toàn của moxifloxacin ở bệnh nhi 3 tháng đến < 18 tuổi (tuổi trung bình 12±4 năm) đã được nghiên cứu trong một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng với thuốc có hoạt tính trong cIAI bao gồm viêm ruột thừa bị thủng, áp xe và viêm phúc mạc. Hiệu quả là mục tiêu nghiên cứu phụ. Các bệnh nhân được sử dụng nối tiếp moxifloxacin tiêm tĩnh mạch/ uống hoặc ertapenem tiêm tĩnh mạch sau đó uống amoxicillin/ clavulanate trong 5-14 ngày (trung bình 9 ngày với khoảng giới hạn từ 1-24 ngày) được trình bày trong bảng 6.
– xem Bảng 6.

Mục tiêu chính của thử nghiệm này là đánh giá độ an toàn của moxifloxacin tập trung vào độ an toàn cho tim và cơ xương. Nghiên cứu này thu nhận 458 bệnh nhân, 301 bệnh nhân trong số đó đã được điều trị với moxifloxacin, 150 bệnh nhân điều trị đối chứng với thuốc có hoạt tính và 7 bệnh nhân không điều trị với thuốc nghiên cứu.
Các biến cố bất lợi được báo cáo trên hơn một nửa số bệnh nhân ở cả hai nhóm điều trị. Tỷ lệ (incidence) bệnh nhân có ít nhất một biến cố bất lợi tương tự giữa các nhóm điều trị. Các biến cố bất lợi thường xảy ra với moxifloxacin là kéo dài khoảng QT, tiêu chảy và viêm tĩnh mạch. Không có bệnh tim mạch hoặc tử vong có thể quy cho là do kéo dài khoảng QT xảy ra với moxifloxacin. Ngừng thuốc nghiên cứu do một biến cố bất lợi được báo cáo 5,3% (16/301) của bệnh nhân điều trị với moxifloxacin so với 1,3% (2/150) của bệnh nhân so sánh. Đặc điểm các biến cố bất lợi của moxifloxacin hoặc thuốc so sánh là như nhau trên tất cả các nhóm tuổi được nghiên cứu.
Tỉ lệ các biến cố bất lợi trên cơ xương là 4,3% (13/301) trong nhóm điều trị bằng moxifloxacin so với 3,3% (5/150) ở những bệnh nhân được điều trị bằng thuốc so sánh. Phần lớn các biến cố bất lợi trên cơ xương được báo cáo từ 12 đến 53 tuần sau khi bắt đầu điều trị, và tất cả các biến cố đã được xử trí (hết các các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng) lúc kết thúc nghiên cứu.
Tiêu chí đánh giá phụ của thử nghiệm là đánh giá đáp ứng lâm sàng và vi khuẩn trong lần khám thử nghiệm chữa khỏi (test-of-cure). Các đáp ứng lâm sàng và vi khuẩn ở trẻ em được điều trị với moxifloxacin đều nằm trong phạm vi các quan sát thấy ở người lớn với cIAI (xem mục Liều lượng và Cách dùng).
Phân tích mô tả của sự thành công lâm sàng tổng thể ở lần khám thử nghiệm chữa khỏi (28-42 ngày sau khi kết thúc điều trị) trên tất cả các bệnh nhân được điều trị với thuốc nghiên cứu (dân số về an toàn) được thể hiện trong bảng 7.
– xem Bảng 7.

Độ an toàn của moxifloxacin sau khi sử dụng một liều đơn
Tính an toàn và dung nạp của moxifloxacin được nghiên cứu ở bệnh nhi từ 3 tháng đến ≤ 14 tuổi (tuổi trung bình của 5±4 tuổi) trong một thử nghiệm không ngẫu nhiên, không mù, không đối chứng, đa trung tâm.
Nghiên cứu được thiết kế để đánh giá dược động học của moxifloxacin. Tổng cộng có 31 bệnh nhân sử dụng moxifloxacin truyền tĩnh mạch 1 giờ ở liều lượng khác nhau như thể hiện trong bảng 8.
– xem Bảng 8.

Về kết quả dược động học, xem mục Đặc tính dược động học.
Các biến cố bất lợi được báo cáo trong hơn một nửa tổng số bệnh nhân. Tỷ lệ bệnh nhân có ít nhất một biến cố bất lợi (liên quan và không liên quan đến thuốc) cao hơn ở trẻ nhỏ và trẻ mới biết đi so với trẻ em và thanh thiếu niên. Các biến cố bất lợi thường gặp nhất phân loại theo cơ quan MedDRA là Rối loạn chung và các phản ứng tại chỗ dùng thuốc, Rối loạn tiêu hóa, và các Rối loạn da và mô dưới da. Không có sự gia tăng các biến cố bất lợi liên quan đến thuốc khi sử dụng liều cao hơn của moxifloxacin. Không có bệnh tim mạch hoặc tử vong có thể quy cho là do kéo dài khoảng QT. Không có biến cố trên cơ xương được báo cáo đến 3 tháng tái khám.
Cơ chế tác dụng:
Moxifloxacin là một 8-methoxyl-fluoroquinolon có phổ hoạt tính rộng và tác dụng diệt khuẩn. Moxifloxacin có phổ hoạt tính in vitro rộng chống lại các vi khuẩn Gram dương và âm, vi khuẩn kỵ khí, vi khuẩn bền vững với acid, vi khuẩn không điển hình như Mycoplasma spp, Chlammydia spp và Legionella spp.
Tác động diệt khuẩn là do can thiệp vào men topoisomerase II và IV. Các Topoisomera là các men cần thiết kiểm soát hình học (topology) của DNA và giúp nhân đôi sao chép và sửa chữa DNA.
Tác dụng diệt khuẩn của moxifloxacin phụ thuộc vào nồng độ thuốc. Nồng độ diệt khuẩn tối thiểu thông thường tương đương với nồng độ ức chế vi khuẩn tối thiểu.
Moxifloxacin có tác dụng chống lại các vi khuẩn kháng beta-lactam và macrolide. Các nghiên cứu trên mô hình nhiễm trùng động vật cho thấy thuốc có hoạt tính cao trong in vivo.
Kháng thuốc/ sự đề kháng
Những cơ chế kháng thuốc làm bất hoạt các penicillin, cephalosporin, aminoglycosid, macrolid và tetracyclin không ảnh hưởng tới hoạt tính diệt khuẩn của moxifloxacin. Không có đề kháng chéo giữa moxifloxacin và những thuốc này. Không thấy kháng thuốc qua trung gian plasmid cho đến nay.
Người ta nhận thấy phân nửa C8-Methoxyl góp phần vào tăng hoạt tính và giảm chọn lọc của các đột biến kháng thuốc của các vi khuẩn Gram dương thấp hơn so với phân nửa C8-H. Sự có mặt của chất thay thế bicycloamine to lớn tại vị trí C7 ngăn cản sự bơm ra (efflux) chủ động, một cơ chế đề kháng với fluoroquinolone.
Các nghiên cứu trên in vitro đã chứng minh sự đề kháng với moxifloxacin phát triển chậm do đột biến nhiều bước. Chỉ một tỷ lệ kháng thuốc rất thấp được chứng minh (10-7-10-10). Khi vi trùng tiếp xúc nhiều lần với moxifloxacin ở nồng độ dưới MIC cho thấy chỉ làm tăng nhẹ các giá trị MIC.
Sự kháng thuốc chéo giữa các quinolone cũng đã được theo dõi. Tuy nhiên, một số vi khuẩn gram dương và vi khuẩn kỵ khí kháng các quinolone khác vẫn còn nhạy cảm với moxifloxacin.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Hấp thu và sinh khả dụng
Sau khi uống, moxifloxacin dạng viên nén được hấp thu một cách nhanh chóng và gần như hoàn toàn. Sinh khả dụng tuyệt đối của thuốc đạt khoảng 91%.
Dược động học của thuốc tuyến tính trong giới hạn sử dụng một liều duy nhất từ 50-1200 mg cho đến liều 600 mg một lần/ngày trong 10 ngày. Nồng độ ổn định đạt được trong vòng 3 ngày. Sau khi uống liều 400 mg, nồng độ đỉnh ở mức 3,1mg/L đạt được trong trong 0,5-4 giờ. Nồng độ cao nhất và thấp nhất trong huyết tương (khi uống 1 liều 400 mg mỗi ngày) tương ứng là 3,2 và 0,6 mg/L.
Uống đồng thời moxifloxacin cùng với thức ăn làm kéo dài thời gian đạt tới nồng độ đỉnh trong xấp xỉ 2 giờ và làm giảm nhẹ nồng độ đỉnh trong huyết tương khoảng 16%. Mức độ hấp thu vẫn không thay đổi. Vì tỷ lệ AUC/MIC dự đoán nhiều nhất cho hiệu quả diệt khuẩn của quinolon, tuy nhiên tác dụng này lại không có liên quan về mặt lâm sàng. Vì vậy, Avelox có thể uống độc lập với bữa ăn.
Sau khi dùng một liều đơn 400 mg truyền tĩnh mạch trong vòng 1 giờ, nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được vào khoảng 4,1 mg/L vào lúc kết thúc thời gian truyền, tương ứng với tăng trung bình xấp xỉ 26% so với khi uống. Sự phơi nhiễm của thuốc, xét về chỉ số AUC ở giá trị xấp xỉ 39 mg*giờ/L sau khi truyền tĩnh mạch chỉ cao hơn một chút so với 35 mg*giờ/L sau khi uống, trong điều kiện thuốc được hấp thu gần như hoàn toàn và phù hợp với tính sinh khả dụng tuyệt đối xấp xỉ 91%.
Sau khi tiêm tĩnh mạch liều nhắc lại (/nhiều lần) (truyền tĩnh mạch trong 1 giờ) với liều 400 mg một lần/ngày, nồng độ đỉnh và đáy trong huyết tương ở tình trạng ổn định tương ứng ở vào khoảng 4,1 đến 5,9 và 0,43 đến 0,84 mg/L. Ở tình trạng ổn định, sự phân bố của thuốc trong khoảng thời gian giữa 2 liều là xấp xỉ 30% cao hơn sau khi dùng liều đầu tiên. Trên bệnh nhân, nồng độ ổn định trung bình là 4,4 mg/L đạt được (/quan sát được) ngay sau (/vào lúc kết thúc) truyền tĩnh mạch trong vòng 1 giờ.
Phân bố
Moxifloxacin được phân bố nhanh chóng đến các khoang ngoại bào. Sự phơi nhiễm thuốc, dựa vào chỉ số AUC (AUCnorm = 6kg*giờ/L) là khá cao với thể tích phân bố ở tình trạng ổn định (Vss) xấp xỉ là 2L/kg. Nồng độ đỉnh trong tuyến nước bọt cao hơn nồng độ trong huyết tương có thể đạt được. Trong các thực nghiệm in vitro và ngoài cơ thể sống (ex vivo), trong khoảng từ 0,02 đến 2 mg/L, người ta xác định được là một protein gắn kết với xấp xỉ 45%, không phụ thuộc vào nồng độ của thuốc. Moxifloxacin chủ yếu gắn kết vào albumin huyết thanh. Do tỷ lệ gắn kết với protein thấp nên người ta quan sát thấy nồng độ đỉnh ở dạng tự do ở mức cao >10 lần nồng độ MIC.
Moxifloxacin đạt được nồng độ cao tại các mô như phổi (dịch biểu mô, đại thực bào phế nang, mô sinh học), các xoang (xoang hàm và xoang sàng, polip mũi) và các tổ chức (/tổn thương viêm) (dịch nốt phỏng), tại đó tổng nồng độ của thuốc vượt quá nồng độ trong huyết tương. Một lượng lớn thuốc (/nồng độ thuốc cao) ở dạng tự do được tìm thấy (/đo được) trong các cơ quan chứa nhiều dịch (/dịch kẽ của cơ thể) (tuyến nước bọt, trong cơ, mô dưới da). Bên cạnh đó, nồng độ thuốc cao cũng phát hiện thấy tại các mô và dịch trong ổ bụng và đường sinh dục của nữ.
Các nồng độ đỉnh và các tỷ số giữa nồng độ tại chỗ so với nồng độ huyết tương cho các mô đích rất khác nhau đã mang lại các kết quả có thể so sánh cho cả hai cách sử dụng thuốc theo đường uống hay tiêm truyền tĩnh mạch sau một liều duy nhất 400 mg moxifloxacin.
Chuyển hoá
Moxifloxacin trải qua chuyển hóa sinh học pha II và được đào thải qua con đường thận và mật/phân dưới dạng thuốc không chuyển hoá cũng như dạng phức hợp sulfo (M1) và glucuronid (M2). M1 và M2 là chất chuyển hóa có ý nghĩa (/duy nhất) liên quan với người, cả hai đều là chất bất hoạt vi khuẩn (/không có hoạt tính về mặt vi sinh học). Không quan sát thấy các tương tác về chuyển hóa dược động học với các thuốc khác đang ở giai đoạn chuyển hóa sinh học liên quan đến các enzyme cytochrome P-450. Không phụ thuộc vào đường dùng thuốc, cả 2 chất chuyển hóa M1 và M2 đều được tìm thấy trong huyết tương ở nồng độ thấp hơn so với nồng độ thuốc ban đầu. Các nghiên cứu tiền lâm sàng thích ứng được tiến hành với cả 2 chất chuyển hoá, vì thế loại trừ các khả năng gợi ý đến tính an toàn và tính dung nạp.
Thải trừ
Moxifloxacin được bài xuất từ huyết tương với thời gian bán huỷ trung bình xấp xỉ 12 giờ. Tổng thanh thải trung bình toàn thân sau khi dùng liều 400 mg vào khoảng 179 đến 246 mL/phút. Độ thanh thải của thận được đo vào khoảng 24-53 mL/phút, gợi ý các ống thận đã tái hấp thu một phần thuốc tại thận. Sử dụng đồng thời với ranitidin và probenecid không làm thay đổi độ thanh thải thuốc ở thận.
Sự cân bằng giữa lượng thuốc đưa vào ban đầu và các chất chuyển hoá Pha II của moxifloxacin đã khôi phục lại gần như hoàn toàn, xấp xỉ 96-98% không phụ thuộc vào đường dùng và không có dấu hiệu của chuyển hoá do oxi hoá.
Người lớn tuổi: Dược động học của moxifloxacin không bị ảnh hưởng theo tuổi.
Giới tính: Có khoảng 33% có sự khác biệt về dược động học (AUC, Cmax) của moxifloxacin giữa nam giới và nữ giới. Sự hấp thu thuốc không bị ảnh hưởng theo giới tính. Sự khác biệt này đối với AUC và Cmax có thể quy cho các khác biệt về cân nặng cơ thể hơn là về giới tính. Điều này không được xem là có liên quan lâm sàng.
Sự khác biệt về chủng tộc: Có thể có sự khác biệt về chủng tộc khi thử nghiệm trên người da trắng, Nhật bản, da đen và các nhóm chủng tộc khác. Không phát hiện thấy có sự khác biệt về dược động học liên quan giữa chủng tộc về mặt lâm sàng.
Bệnh nhi: Dược động học của moxifloxacin được nghiên cứu sau khi sử dụng một liều đơn tiêm tĩnh mạch (i.v.), sử dụng (truyền 1 giờ) ở bệnh nhi tuổi từ 3 tháng đến < 14 tuổi. Thông số dược động học tương ứng được tổng hợp trong bảng 9.
– xem Bảng 9.

Những dữ liệu này được sử dụng để tính phác đồ liều uống và truyền tĩnh mạch cho một nghiên cứu lâm sàng Phase III ở bệnh nhi như được mô tả trong mục Đặc tính dược lực học. Phân tích dược động học trên dân số từ các dữ liệu Phase III với điều trị bằng truyền tĩnh mạch và chuyển tiếp truyền tĩnh mạch sang đường uống khẳng định phác đồ liều dẫn đến phơi nhiễm moxifloxacin tòan thân có thể so sánh với mức phơi nhiễm ở bệnh nhân người lớn. Điều này vẫn trong phạm vi hiệu quả của điều trị kháng sinh dựa trên những đặc tính Dược động học/Dược lực học (AUC/MIC). Đối với bệnh nhân nhi < 12 tuổi và nặng < 45kg sự chuyển đổi từ liều dùng ngày một lần sang liều ngày hai lần là phù hợp để tránh nồng độ đỉnh quá cao. Sinh khả dụng tuyệt đối của moxifloxacin được ước tính khoảng 86%.
Tổn thương chức năng thận: Dược động học của moxifloxacin không bị thay đổi đáng kể ở những bệnh nhân có tổn thương chức năng thận (kể cả khi độ thanh thải creatinine < 30ml/phút/1,73m2 diện tích cơ thể) và ở những bệnh nhân phải lọc máu mạn tính như thẩm tách máu và lọc màng bụng ngoại trú liên tục.
Tổn thương chức năng gan: Nồng độ của moxifloxacin trong huyết tương ở những bệnh nhân suy chức năng gan ở mức độ nhẹ đến nặng (Child Pugh A đến C) không thấy có các khác biệt liên quan đến lâm sàng khi so với những người tình nguyện khoẻ mạnh hay bệnh nhân có chức năng gan bình thường, tương ứng.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:6.1. Danh mục tá dược:
Viên nén:
Tablet-core: Microcrystalline cellulose, Croscarmellose sodium, Lactose monohydrate, Magnesium stearate.
Film-coat: Hypromellose, Macrogol 4000, Ferric oxide (E172), Titanium dioxide (E171)
Dạng tiêm:
Nước cất pha tiêm
6.2. Tương kỵ :
Những dung dịch sau cho thấy có tương kỵ với dung dịch Avelox: NaCl 10%; NaCl 20%; NaHCO3 4,2% và NaHCO3 8.4%.
6.3. Bảo quản:
Không bảo quản thuốc trên 30oC. Không giữ thuốc trong tủ lạnh và tủ đá (trong điều kiện nhiệt độ lạnh (< 15oC), thuốc có thể bị kết tủa, nó sẽ tan ra ở nhiệt độ phòng (15-25oC)). Giữ thuốc nguyên trong hộp.
6.4. Thông tin khác :
Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng
Trong một nghiên cứu về tính dung nạp tại chỗ tiến hành trên chó cho thấy không có dấu hiệu của bất dung nạp tại chỗ khi tiêm theo đường tĩnh mạch. Sau khi tiêm vào động mạch, người ta nhận thấy có các thay đổi về viêm ở các mô quanh động mạch, gợi ý nên tránh tiêm moxifloxacin vào động mạch.
Khả năng sinh ung thư, gây đột biến: Mặc dù các nghiên cứu lâu dài theo quy ước để xác định khả năng gây ung thư của moxifloxacin chưa được thực hiện nhưng thuốc đã được kiểm tra về độc tính gen trong giới hạn in vitro và in vivo. Ngoài ra, thử nghiệm sinh học gia tốc đối với sinh ung thư trên người (thử nghiệm khởi đầu/thúc đẩy) đã được thực hiện trên chuột. Test Ames đã cho kết quả âm tính trên 4 chủng, trong thử nghiệm đột biến HPRT trên tế bào buồng trứng của giống chuột đồng Trung quốc và trên thử nghiệm UDS trên tế bào gan nguyên phát của chuột. Giống như với các quinolone khác, test Ames với TA 102 cho kết quả dương tính và test in vitro trên các tế bào v79 của chuột đồng Trung quốc cho các bất thường về nhiễm sắc thể ở các nồng độ cao (300mcg/mL). Tuy nhiên, thử nghiệm trên nhân nhỏ in vivo ở chuột đã cho kết quả âm tính. Bên cạnh thử nghiệm in vivo, thì thử nghiệm chủ yếu gây chết trên chuột cũng cho kết quả âm tính. Điều này đưa đến kết luận rằng các kết quả âm tính trong in vivo phản ánh đầy đủ tình trạng về độc tính gen trên in vivo. Không tìm thấy bằng chứng của tính sinh ung trong thử nghiệm khởi đầu/thúc đẩy trên chuột.
Trên điện tim: Ở nồng độ cao, moxifloxacin là một chất ức chế làm chậm chỉnh lưu dòng Kali ở tim, do đó có thể làm kéo dài khoảng QT. Các nghiên cứu về độc tính của thuốc tiến hành trên chó sử dụng liều uống ≥ 90 mg/kg cân nặng dẫn đến nồng độ trong huyết tương cao ≥16 mg/L gây kéo dài khoảng QT nhưng không gây rối loạn nhịp tim. Chỉ sau khi có một nồng độ tích luỹ quá cao gấp hơn 50 lần so với liều dùng ở người (>300 mg/kg) sau khi truyền tĩnh mạch, dẫn đến nồng độ trong huyết tương cao ≥200 mg/L (cao hơn 30 lần so với nồng độ có tác dụng điều trị sau khi truyền tĩnh mạch), đã thấy rối loạn nhịp thất có khả năng hồi phục và không gây tử vong.
Nhiễm độc ở khớp: Quinolone được biết là gây nên những thương tổn trên sụn ở những khớp nối hai xương lớn trên những động vật chưa trưởng thành. Liều uống thấp nhất của moxifloxacin gây độc tính ở khớp của chó chưa trưởng thành cao gấp 4 lần so với liều điều trị tối đa được khuyến cáo (400 mg ở người 50kg) tính theo mg/kg, với nồng độ trong huyết tương cao gấp 2 đến 3 lần nồng độ khi dùng liều điều trị được khuyến cáo.
Độc tính trên cơ quan sinh sản: Các nghiên cứu trên cơ quan sinh sản được tiến hành trên chuột, thỏ và khỉ cho thấy có sự vận chuyển qua nhau thai của moxifloxacin. Các nghiên cứu trên chuột (theo đường uống và truyền tĩnh mạch) và trên khỉ (theo đường uống) không cho thấy bằng chứng gây quái thai hoặc làm giảm khả năng sinh sản sau khi sử dụng moxifloxacin. Những bất thường về hệ xương khớp được quan sát trên thỏ được điều trị với liều 20mg/kg cân nặng theo đường tĩnh mạch. Kết quả của nghiên cứu này phù hợp với những tác dụng đã biết của quinolone trên sự phát triển của hệ xương khớp. Tần suất xảy thai ở khỉ và thỏ tăng lên khi dùng với liều điều trị trên người. Ở chuột, giảm cân nặng của thai nhi, tăng nguy cơ trước khi sinh, kéo dài thời gian mang thai, và tăng các hoạt động tự phát của những con đực và con cái đã được ghi nhận khi sử dụng liều cao gấp 63 lần liều khuyến cáo tính theo mg/kg với nồng độ thuốc trong huyết tương trong khoảng giới hạn liều điều trị ở người.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
Hoặc HDSD Thuốc.
7. Người đăng tải /Tác giả:Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM
Từ khóa » Moxifloxacin Thuốc Gì
-
Moxifloxacin Là Thuốc Gì? Công Dụng & Liều Dùng Hello Bacsi
-
Sử Dụng Thuốc Kháng Sinh Moxifloxacin (Avelox) để Không Bị đề ...
-
Thuốc Moxifloxacin (Uống, Tiêm) | Vinmec
-
Thuốc Kháng Sinh Moxifloxacin: Công Dụng, Liều Dùng & Thận Trọng
-
Moxifloxacin
-
Moxifloxacin: Kháng Sinh Tổng Hợp Nhóm Fluoroquinolon
-
Moxifloxacin - Dược Thư
-
Moxifloxacin Là Thuốc Gì? Công Dụng, Liều Dùng
-
Moxifloxacin: Công Dụng, Liều Dùng Và Hướng Dẫn Sử Dụng - Docosan
-
Hướng Dẫn Về Cách Sử Dụng Thuốc Moxifloxacin An Toàn
-
Moxifloxacin - Thuốc điều Trị Nhiễm Khuẩn ở Người Lớn Hiệu Quả
-
Moxifloxacin Là Thuốc Gì? Công Dụng Và Liều Dùng - AloBacsi
-
Thuốc Kháng Sinh Savi Moxifloxacin 400mg Hộp 14 Viên
-
Thuốc Avelox Dung Dịch Truyền: Tác Dụng, Cách Dùng Và Lưu ý