Thủy Quân Lục Chiến VNCH - NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HÒA
Có thể bạn quan tâm

Lực lượng Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa có nguồn gốc từ thời kỳ Pháp thuộc. Năm 1949, theo Thỏa ước Pháp-Việt, lực lượng vũ trang của chính phủ Quốc gia Việt Nam sẽ bao gồm lực lượng hải quân, với tổ chức và huấn luyện do phía hải quân Pháp đảm nhiệm. Năm 1951, Pháp đề nghị phương án phát triển Hải quân Việt Nam, theo đó sẽ thành lập hai sư đoàn hải quân, do Pháp chỉ huy. Tháng 3 năm 1952, Sắc lệnh số 2 của Đế chế Pháp chính thức xác lập hải quân Việt Nam. Tới năm sau, hai sư đoàn hải quân được thiết lập.[1]
Năm 1953, chính phủ Pháp và Việt Nam đồng ý tăng Lục quân lên 57 tiểu đoàn khinh bộ binh, đảm nhận nhiệm vụ tấn công. Các chiến dịch này mở rộng ra cả vùng duyên hải của Việt Nam, nên việc mở rộng hải quân cũng được xét đến. Trong khi việc các đội giang thuyền nên nằm dưới sự chỉ huy của Lục quân hay Hải quân còn chưa được định đoạt, thì phó Đô đốc Pháp Auboyneau đề xuất việc thành lập 1 quân đoàn Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam. Năm 1954, khi người Pháp bắt đầu rút khỏi Việt Nam, thì Quân đoàn Thủy Quân Lục Chiến đã bao gồm một bộ chỉ huy, bốn đại đội đường sông, một tiểu đoàn đổ bộ.[2] Hình thành và phát triển Quân kỳ
Sư đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến Việt Nam được thành lập ngày 1/10/1954 tại Nha Trang với danh xưng ban đầu là Bộ binh Hải quân (Sắc lệnh số 99/SL ngày 13/10/1954 của Phủ Thủ tướng) do Trung tá Lê Quang Trọng Chỉ huy trưởng đầu tiên nhưng trước đó, Con Cọp Biển đàn anh của cả Sư đoàn, Tiểu đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến, danh hiệu là Quái Điểu đã được thành lập tại Nha Trang tháng 8/1954.
Bộ Chỉ Huy đặt tại Bộ Tổng tham mưu ở đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn. Tháng 6/1955, Bộ Chỉ Huy dời về căn cứ Cửu Long, Thị Nghè, Sài Gòn.
Tháng 4/1956, Bộ Binh Hải Quân cải danh thành Thuỷ Quân Lục Chiến, trực thuộc Hải Quân và đặt dưới quyền động của Bộ Tư lệnh Hải Quân. Cũng trong năm này, Tiểu đoàn 2 Trâu Điên nổi tiếng được thành lập tại Rạch Dừa, sau đó chuyển về Cam Ranh, tiểu khu Khánh Hòa.
Năm 1957, Tiểu đoàn 3 Sói Biển được thành lập, Tiểu đoàn được Việt Nam Cộng hòa ghi nhận tành tích sau trận Đông Hà trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, với sự kiện 700 tay súng của Tiểu đoàn đã tham gia cùng các đơn vị khác ngăn cản thành công đà tiến của QĐNDVN có xe tăng và pháo tầm xa yểm trợ suốt thời gian trách nhiệm cho đến khi Tiểu đoàn có lệnh bàn giao vùng trách nhiệm cho đơn vị bạn.
Cùng năm, Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến được nâng cấp thành Liên đoàn Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng hòa với quân số 2.300 quân nhân do Thiếu tá Lê Nguyên Khang chỉ huy.
Năm 1961, Tiểu đoàn 4 Kình Ngư được thành lập tại thị xã Vũng Tàu và đặt hậu cứ ở trong thị xã, khi vừa mới thành lập, Tiểu đoàn đã cùng với Hải Quân mở ngay chiến dịch truy quét tiểu đoàn U Minh tại vùng rừng U Minh.
Từ năm 1960 cho đến khi tan hàng vào năm 1975, ngoại trừ Tiểu đoàn 4 đóng ở Vũng Tàu, Bộ Tư lệnh cùng vài đơn vị yểm trợ đóng ở Thị Nghè, Sài Gòn thì toàn bộ phần còn lại của Sư đoàn đều đóng ở căn cứ Sóng Thần, Rừng Cấm, quận Thủ Đức.
Năm 1962, để yểm trợ cho các tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến, tiểu đoàn 1 Pháo Binh Lôi Hỏa được thành lập gồm 2 pháo đội 75mm và 1 pháo đội 105mm.
Lúc này Liên đoàn đã có quân số là 3.300 quân gồm 1 Bộ Chỉ Huy Liên đoàn, 4 Tiểu đoàn tác chiến và 1 Tiểu đoàn pháo binh cơ hữu cùng với các đơn vị yểm trợ.
Năm 1963, Tiểu đoàn 2 Trâu Điên đã đánh trận Đầm Dơi ở tiểu khu An Xuyên. Cũng trong năm này, toàn bộ Liên đoàn đã mở 2 cuộc hành quân Sóng Tình Thương và Mật khu Đỗ Xá tuy nhiên không có xảy ra giao tranh.
Năm 1964, Liên đoàn thành lập Tiểu đoàn 5 Hắc Long. Đây cũng là năm đen tối của Thủy Quân Lục Chiến khi Tiểu đoàn 4 Kình Ngư lọt vào ổ phục kích của Trung đoàn 27 Bình Giã ở vùng rừng cao su Bình Giã thuộc tiểu khu Phước Tuy. Tuy Tiểu đoàn đã đánh thiệt hại nặng trung đoàn này nhưng chịu thiệt hại cũng không nhỏ, Tiểu đoàn thương vong hơn 60% quân số, tiểu đoàn trưởng lẫn tiểu đoàn phó đều tử trận.
Năm 1965, Liên đoàn Thủy Quân Lục Chiến được cải danh thành Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam bao gồm 1 Bộ Chỉ Huy Lữ đoàn, 5 Tiểu đoàn tác chiến, 1 Tiểu đoàn Pháo Binh, Yểm Trợ Thủy Bộ, Quân Y, Công Binh, Viễn Thám, Huấn luyện mỗi loại 1 Đại đội. Do nhu cầu chiến thuật tăng phái đi từng khu chiến thuật nên Lữ đoàn chia thành 2 Chiến Đoàn A và B Thủy Quân Lục Chiến. Chiến Đoàn A hay còn gọi là Chiến Đoàn An Dương Vương, Chiến Đoàn B hay còn gọi là Chiến Đoàn Bắc Bình Vương.
Cũng trong năm này, Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến chính thức tách khỏi Hải Quân và được đặt dưới quyền điều động trực tiếp của Bộ Tổng Tham mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Cùng với Sư đoàn Nhẩy Dù Việt Nam và các Liên đoàn Biệt Động Quân, Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến trở thành lực lượng Tổng Trừ Bị chiến lược bên cạnh các đơn vị bạn.
Ngày 08/4/1965, Tiểu đoàn 2 Trâu Điên được tăng phái cho Sư đoàn 22 Bộ Binh đã đánh tan hoàn toàn 1 trung đoàn thuộc Sư đoàn 3 Sao Vàng tại Phụng Dư, tiểu khu Bình Định.
Năm 1966, Tiểu đoàn 2 Trâu Điên được tăng phái dưới quyền sử dụng của Sư đoàn 1 Bộ Binh do Đại tá Ngô Quang Trưởng làm tư lệnh từ An Hòa (Huế) di chuyển ra Quảng Trị và bị phục kích tại Phong Điền, Thừa Thiên. Tuy nhiên, Tiểu đoàn đã phản phục kích và tiêu diệt hoàn toàn Trung đoàn đối phương tại đây nhưng mất Trâu Điên Trưởng Lê Hằng Minh cùng với 42 quân nhân khác tử trận, gần 100 người bị thương trong đó có Trung úy Nguyễn Xuân Phúc.
Năm này cũng là năm Tư lệnh Thủy Quân Lục Chiến, Thiếu tướng Lê Nguyên Khang được thăng cấp lên Trung tướng.
Thời kì năm 1966 – 1967, Lữ đoàn vinh dự tiếp nhận thêm 2 Tiểu đoàn mới nữa là Tiểu đoàn 6 Thần Ưng và Tiểu đoàn 7 Hùng Xám.
Năm 1968 là năm thành công của Thủy Quân Lục Chiến khi tất cả Tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến đều lập chiến công trong các cuộc hành quân giải tỏa Biệt khu Thủ Đô – Sài Gòn, Chiến Đoàn A Thủy Quân Lục Chiến hành quân giải tỏa Huế trong dịp Tết Mậu Thân 1968.
Giữa năm 1968, Lữ đoàn được cải danh thành Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam, Chiến Đoàn A và B được cải danh thành Lữ đoàn 147 và Lữ đoàn 258 Thủy Quân Lục Chiến. Các đơn vị yểm trợ như Quân Y, Truyền Tin, Công Binh, Viễn Thám, Huấn luyện được tăng cấp thành Tiểu đoàn.
Năm 1969, Tiểu đoàn 8 Ó Biển và Tiểu đoàn 9 Mãnh Hổ cùng với Tiểu đoàn 2 Pháo Binh Thần Tiễn được thành lập. Quân số của Sư đoàn lúc này đạt mức 9.300 quân nhân.
Đầu năm 1970, Tiểu đoàn 3 Pháo Binh Nỏ Thần và Bệnh viện Lê Hữu Sanh thuộc Tiểu đoàn Quân y được thành lập. Cùng lúc đó, Lữ đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến ra đời.
Cho đến khi nổ ra các cuộc hành quân tiến sang Cam Bốt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Sư đoàn đã hoàn chỉnh gồm Bộ Chỉ Huy Sư đoàn, 3 Lữ đoàn tác chiến và các đơn vị yểm trợ, Tiểu đoàn Thiết giáp Thủy-Bộ (xe thiết giáp lưỡng cư), Tiểu đoàn Huấn luyện, Khối Bổ Sung, Bệnh viện Lê Hữu Sanh. Tổng quân số của toàn Sư đoàn là 16.000 quân nhân.
Năm 1971, Sư đoàn được trực thăng vận đến Khe Sanh tham gia Chiến dịch Lam Sơn 719, các Lữ đoàn làm nút chận cho quân bạn là Sư đoàn Dù, Sư đoàn 1 Bộ Binh, Lữ đoàn 1 Kỵ Binh và Liên đoàn 1 Biệt Động Quân rút lui. Lữ đoàn 147 gồm các tiểu đoàn 2, 4, 7 Thủy Quân Lục Chiến chịu thiệt hại nặng, mất hơn 70% quân số khi Quân đội Nhân dân Việt Nam mở cuộc tấn công vào phòng tuyến của Lữ đoàn. Đây được coi là chiến dịch thất bại nặng nề nhất của Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến tính đến thời điểm đó.
Sau Chiến dịch Lam Sơn 719, Tiểu đoàn 9 được tăng phái cho Sư đoàn 1 Bộ Binh giải tỏa Động A Tây, thu hồi 100 thi hài quân bạn.
Mùa hè Đỏ Lửa năm 1972, cả 3 Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến cùng với Sư đoàn 3 Bộ Binh thay phiên nhau chống đỡ cuộc tấn công dữ dội và thần tốc của Quân đội Nhân dân Việt Nam và sau khi Quảng Trị mất, Lữ đoàn 258 và Lữ đoàn 369 nhận lệnh trấn đóng tuyến đầu của Quân đoàn I chặn đối phương tại tuyến sông Mỹ Chánh để Lữ đoàn 147 mở các cuộc tấn công giới hạn qua bên kia sông nhằm phá hủy các nỗ lực tiếp liệu và tuyến tiếp vận của đối phương, sau đó cùng với Sư đoàn Dù mở cuộc phản công tái chiếm Cổ Thành Đinh Công Tráng với phần lớn sức tấn công là từ yểm trợ không quân của Mỹ. Thực tế cho thấy đa số thương vong của QĐNDVN là do các cuộc không kích của không lực Hoa Kỳ, số thương vong gây ra bởi vũ khí cá nhân của bộ binh đối phương là khá nhỏ, ngược lại quân Việt Nam Cộng Hòa đã chịu thương vong lớn từ hỏa lực pháo binh cũng như súng bộ binh của Giải phóng quân. QĐNDVN đã trụ vững tại thành cổ suốt 81 ngày đêm, làm phá sản kế hoạch chiếm thành cổ trong 2 tuần của Ngô Quang Trưởng và Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Giải phóng quân chỉ bắt đầu rút từ đêm ngày 14/9 đến cuối ngày 15 do nước lũ dâng cao không thể tiếp tục chi viện và tiếp tế cho các tuyến phòng thủ trong thành. Tuy phải rút nhưng họ đã giành được lợi thế về mặt chiến lược, giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam có lợi thế lớn trên bàn đàm phán Paris, đồng thời làm phá sản ý đồ tái chiếm bờ bắc sông Thạch Hãn của đối phương. Ngày 16/9/1972, lính của 2 Tiểu đoàn 3 và 6 Thủy Quân Lục Chiến đã kéo cờ lên Thành Cổ. Để tái chiếm được Cổ Thành, hơn 3.500 lính Mũ Xanh bỏ mạng và hàng ngàn lính khác bị thương. Đây cũng là lần cuối cùng mà các Tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến dành chiến thắng về mặt chiến thuật (dù kết quả này có được là nhờ sự giúp sức rất lớn của Mỹ) trước khi Hiệp Định Paris được ký kết.
Cuối năm 1972 đầu năm 1973, Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến tham gia các cuộc hành quân “Sóng Thần” nhằm tái chiếm các vùng khác của tỉnh Quảng Trị, nhưng đều bị quân Giải phóng đánh lui. Đến cuối tháng 1/1973, khi Hiệp định Paris được ký, Sư đoàn cũng đã kiệt sức do tổn thất quá lớn.
Từ cuối năm 1973 đến giữa năm 1974, thành lập Biệt đội Sóng Thần với quân số hơn 100 tay súng, sau đó giải tán và sát nhập vào Tiểu đoàn 2 Trâu Điên.
Đầu năm 1975, Sư đoàn thành lập thêm Lữ đoàn 468 Thủy Quân Lục Chiến do Đại tá Ngô Quang Định – Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 258 làm tư lệnh gồm 3 tiểu đoàn 14, 16, 18 Thủy Quân Lục Chiến và Tiểu đoàn 4 Pháo Binh. Lữ đoàn mới này tiếp nhận hậu cứ Sóng Thần và được tăng phái hành quân thanh tảo Long An, sau đó ra Vùng I gia nhập các cuộc hành quân chung của Sư đoàn. Quân số lúc này của Sư đoàn là 20.000 quân nhân. Là 1 trong 2 sư đoàn có quân số cao nhất trong tổng số các đại đơn vị thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (Sư đoàn còn lại là Sư đoàn Nhẩy Dù).
Tháng 3 năm 1975, Sư đoàn nhận lệnh bỏ tuyến phòng ngự phía nam sông Thạch Hãn rút về phòng ngự Đà Nẵng, nhưng do mệnh lệnh lung tung và phối hợp không đồng nhất nên Lữ đoàn 147 gồm 1 Chi đoàn Kỵ Binh, các Tiểu đoàn 3, 4, 5, 7 và Tiểu đoàn 1 Pháo Binh đang chờ tại cửa Thuận An (Huế) để tàu Hải Quân vào đón với quân số hơn 4.000 quân bị Quân đội nhân dân Việt Nam bao vây tấn công, chỉ có hơn 200 sĩ quan và binh sĩ được tàu Hải Quân vào đón, số còn lại chống cự cho đến khi hết đạn hoặc bỏ vũ khí và tan rã, phần còn lại của Lữ đoàn bị bắt, Lữ đoàn chính thức tan hàng tại đây. Lữ đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến gồm các Tiểu đoàn 2, 6, 9 và Tiểu đoàn 3 Pháo Binh đóng tại Đại Lộc, tiểu khu Quảng Nam được lệnh rút về Đà Nẵng thì Trung tá Nguyễn Xuân Phúc, Lữ đoàn trưởng và Lữ đoàn phó mất tích hoàn toàn (đến nay vẫn chưa tìm thấy tin tức – được xem như đã tử trận) khi đang điều động các đơn vị chiến đấu. Lữ đoàn tự tháo chạy và tan hàng.
Khác với số phận của 2 Lữ đoàn trên, Lữ đoàn 258 và Lữ đoàn 468 đang đóng tại đèo Hải Vân may mắn được tàu Hải Quân vào đón nên còn nguyên vẹn quân số rút về Vũng Tàu.
Vào những ngày cuối tháng Tư, Lữ đoàn 258 đặt dưới quyền điều động của Quân đoàn III, Lữ đoàn 468 phòng ngự ở Tổng kho Long Bình, còn Lữ đoàn 147 và 369 phải tái bổ sung tổn thất tại Vũng Tàu. Các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến đầu hàng toàn bộ khi Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng ngày 30/4/1975. Riêng Tiểu đoàn 2 Trâu Điên đang đóng tại Thủ Đức vẫn còn chống cự tới gần 17h chiều ngày 30/4/1975 mới chịu đầu hàng. Họ chào cờ lần cuối và bàn giao vũ khí cho quân Giải phóng trong trật tự.
Sư đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến là đơn vị Tổng Trừ Bị, cực kì lưu động và được coi là thiện chiến nhất trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Sư đoàn được thành lập theo đà phát triển của chiến tranh, đồng thời chia sẻ gánh nặng với các đơn vị bạn, Sư đoàn được đánh giá là 1 trong những đơn vị chiến đấu tốt nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, lời nhận xét này được đưa ra từ phía Đồng Minh, đặc biệt là Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Tất cả các quân nhân trong Sư đoàn, từ sĩ quan cho đến binh sĩ đều là tình nguyện. Sư đoàn đã lập được rất nhiều thành tích, mặt trận nào cũng tham dự, từ rừng rậm hay núi non hiểm trở đến duyên hải và đồng bằng sình lầy. Với những thành tích đạt được, Quân kỳ Sư đoàn được tặng thưởng dây biểu chương mầu Tam Hợp. Các chiến trận tham gia Chiến thắng Đầm Dơi (An Xuyên) Các cuộc hành quân giải tỏa tại Sài Gòn và Huế trong dịp Tết Mậu Thân 1968 Chiến dịch Lam Sơn 719 Trận tái chiếm Cổ thành Đinh Công Tráng Quảng Trị Đơn vị trực thuộc *Từ Bộ chỉ huy Tổng hành dinh đến Bộ chỉ huy Pháo binh là các đơn vị yểm trợ TT Đơn vị Chú thích TT Đơn vị Chú thích 1 Lữ đoàn 147 Tiểu đoàn 1 Quái Điểu Tiểu đoàn 4 Kình Ngư Tiểu đoàn 7 Hùm Xám
11 Tiểu đoàn Yểm trợ đổ bộ Phân đội 147 Phân đội 258 Phân đội 369 Phân đội 468 Phối thuộc 4 Lữ đoàn 2
Lữ đoàn 258 Tiểu đoàn 2 Trâu Điên Tiểu đoàn 5 Hắc Long Tiểu đoàn 8 Ó Biển 12 Tiểu đoàn Quân y 3 Lữ đoàn 369 Tiểu đoàn 3 Sói Biển Tiểu đoàn 6 Thần Ưng Tiểu đoàn 9 Mãnh Hổ 13 Tiểu đoàn Truyền tin 4 Lữ đoàn 468 Tân lập Tiểu đoàn 14 Tiểu đoàn 16 Tiểu đoàn 18 14 Tiểu đoàn Công binh 5 Đại đội Viễn thám Đại đội 147 Đại đội 258 Đại đội 369 Đại đội 468 Phối thuộc 4 Lữ đoàn 15 Trung tâm huấn luyện Sư đoàn Toạ lạc cạnh Căn cứ Sóng Thần 6 Bộ chỉ huy* Tổng hành dinh 16 Tiểu đoàn Huấn luyện Rừng Cấm, Thủ Đức 7 Đại đội Trinh sát Dưới quyền điều động trực tiếp của Tư lệnh Sư đoàn 17 Khối Bổ sung Sư đoàn 8 Đại đội Quân cảnh 202 18 Bệnh viện Lê Hữu Sanh 9 Biệt đội Tác chiến Điện tử 19 Bộ chỉ huy Pháo binh Tiểu đoàn 1 Lôi Hoả Tiểu đoàn 2 Thần Tiễn Tiểu đoàn 3 Nỏ Thần Tiểu đoàn 4 tân lập Phối thuộc 4 Lữ đoàn 10 Đại đội diệt tăng Bộ Tư lệnh Sư đoàn & Các Lữ đoàn tháng 4/1975 Chức danh Chỉ huy & Tham mưu sau cùng: TT Cấp bậc Họ & Tên Chức vụ Chú thích 1 Thiếu tướng Bùi Thế Lân Sĩ quan Thủ Đức K4 Tư lệnh 2 Đại tá Nguyễn Thành Trí Sĩ quan Thủ Đức K5 Tư lệnh phó 3 nt Lê Đình Quế Sĩ quan Thủ Đức K4 Tham mưu trưởng Cấp bậc Tiểu đoàn trưởng 4 nt Nguyễn Thế Lương Sĩ quan Thủ Đức K4 Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 147 Thiếu tá Thiếu tá Thiếu tá Dương Văn Hưng Tiểu đoàn 1 Đinh Long Thành Tiểu đoàn 4 Phạm Cang Tiểu đoàn 7 5 nt Nguyễn Năng Bảo Địa phương Bắc Việt nt Lữ đoàn 258 Thiếu tá Thiếu tá Trung tá Trần văn Hợp(Đà Lạt K19) Tiểu đoàn 2 Phạm Văn Tiền Tiểu đoàn 5 Nguyễn Đăng Hoà(Đồng Đế K2) Tiểu đoàn 8 6 Trung tá Nguyễn Xuân Phúc Võ bị Đà Lạt K16 nt Lữ đoàn 369 Thiếu tá Trung tá Thiếu tá Nguyễn Văn Sử Tiểu đoàn 3 Lê Bá Bình(Thủ Đức K12) Tiểu đoàn 6 Lâm Tài Thạnh Tiểu đoàn 9 7 Đại tá Ngô Văn Định Võ bị Đà Lạt K4 nt Lữ đoàn 468 Trung tá Thiếu tá Thiếu tá Nguyễn Văn Cảnh Tiểu đoàn 14 Đinh Xuân Lãm Tiểu đoàn 16 Trần Ngọc Toàn(Đà Lạt K16) Tiểu đoàn 18 8 Trung tá Đặng Bá Đạt Chỉ huy trưởng Pháo binh Thiếu tá Thiếu tá Thiếu tá Thiếu tá Nguyễn Hữu Lạc(Đà lạt K13) Tiểu đoàn 1 Võ Đằng Phương Tiểu đoàn 2 Nguyễn Tấn Lộc Tiểu đoàn 3 Hà Tiến Chương Tiểu đoàn 4 Chỉ huy Lữ đoàn qua các thời kỳ *Cấp bậc khi nhậm chức TT Đơn vị Họ & Tên Cấp bậc* Tại chức Chú thích Lữ đoàn 147 Năm 1965, được thành lập với danh xưng ban đầu là Chiến đoàn A. Năm 1968 Binh chủng Thuỷ quân Lục chiến được nâng lên cấp Sư đoàn. Chiến đoàn được đổi tên thành Lữ đoàn 147. 1 Hoàng Tích Thông Sĩ quan Thủ Đức K4 Trung tá 1965-1971 Sau cùng là Đại tá 2 Nguyễn Năng Bảo Địa phương Bắc Việt nt 1971-1974 Sau cùng là Đại tá 3 Nguyễn Thế Lương Sĩ quan Thủ Đức K4 Đại tá 1974-1975 4 Phạm Cang Thiếu tá 1/1975-4/1975 Xử lý thường vụ chức vụ Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 258 Năm 1965 được thành lập với danh xưng ban đầu là Chiến đoàn B. Năm 1968 được đổi tên thành Lữ đoàn 258 1 Tôn Thất Soạn Sĩ quan Thủ Đức K4 Trung tá 1965-1970 Sau cùng là Đại tá Tỉnh trưởng tỉnh Hậu Nghĩa 2 Nguyễn Thành Trí Sĩ quan Thủ Đức K5 nt 1970-1971 Sau cùng là Đại tá Tư lệnh phó Sư đoàn Thuỷ quân Lục chiến 3 Ngô Văn Định Võ bị Đà Lạt K4 nt 1971-1974 4 Nguyễn Năng Bảo Đại tá 1974-1975 Lữ đoàn 369 Được thành lập năm 1969 1 Ngô Văn Định Trung tá 1969-1970 2 Phạm Văn Chung Võ bị Đà Lạt K4 nt 1970-1972 Sau cùng là Đại tá Tỉnh trưởng tỉnh Quảng Nam 3 Nguyễn Thế Lương nt 1972-1974 4 Nguyễn Xuân Phúc Võ bị Đà Lạt K16 nt 1974-1975 Lữ đoàn 468 Thành lập vào thượng tuần tháng 4/1975 1 Ngô Văn Định Đại tá Tư lệnh qua các thời kỳ Từ năm 1954-1962, được gọi là Chỉ huy trưởng *Cấp bậc khi nhậm chức TT Cấp bậc* Họ & Tên Tại chức Chú thích 1 Trung tá Lê Quang Trọng Võ bị Huế K2 10/1954-06/1956 Thuỷ quân Lục chiến khi mới thành lập (1954) danh xưng là: Bộ binh Hải quân. Trung tá Trọng giải ngũ ở cấp Đại tá 2 Thiếu tá Phạm Văn Liễu
Võ bị Đà Lạt K5 06/1956-08/1956 Tháng 4/1956, Bộ binh Hải quân đổi tên thành Thuỷ quân Lục chiến. Thiếu tá Liễu, sau cùng là Đại tá Tham vấn Hoà đàm Paris 3 Đại úy Bùi Phó Chí 08/1956-10/1956 Giải ngũ ở cấp Đại úy. Là Nhạc phụ của Trung tướng ‘Phan Trọng Chinh 4 Thiếu tá Lê Như Hùng Võ bị Huế K1 10/1955-04/1960 Năm 1957, đổi tên thành Liên đoàn Thuỷ quân Lục chiến. Thiếu tá Hùng, sau làm Tỉnh trưởng Kiến Hoà, giải ngũ ở cấp Trung tá 5 nt Lê Nguyên Khang Sĩ quan Nam Định 04/1960-11/1963 Đầu năm 1962, Liên đoàn TQLC đổi tên thành Lữ đoàn. Thiếu tá Khang Tư lệnh lần thứ 1 6 Trung tá Nguyễn Bá Liên Võ bị Đà Lạt K9p 11/1963-02/1964 Sau cùng là Đại tá Phụ tá Tư lệnh Quân đoàn II kiêm Tư lệnh Biệt khu 24 (Kontum-Pleiku). Năm 1969 tử trận được truy thăng Chuẩn tướng 7 Đại tá Lê Nguyên Khang Sĩ quan Nam Định 02/1964-05/1972 Tư lệnh lần thứ 2. Sau cùng là Trung tướng Phụ tá Tổng tham mưu trưởng đặc trách Hành quân 8 nt Bùi Thế Lân Sĩ quan Thủ Đức K4 05/1972-04/1975 Cuối tháng 5/1972 thăng Chuẩn tướng, đầu tháng 4/1975 thăng Thiếu tướng. Tư lệnh sau cùng Tướng lãnh xuất thân từ binh chủng TT Họ & Tên Cấp bậc Thời gian phục vụ Chú thích 1 Lê Nguyên Khang Trung tướng 1952-1972 Thiểu uý, Trung úy: Lực lượng Bổ bộ Hải quân (1952-1955). Đại úy, Thiếu tá: Tiểu đoàn trưởng TQLC (1955-1960). Thiếu tá, Trung tá, Đại tá: Liên đoàn trưởng TQLC (1960-1964). Chuẩn tướng: Tư lệnh Lữ đoàn TQLC (1964). Thiếu tướng, Trung tướng: Tư lệnh Sư đoàn Thuỷ quân Lục chiến (1964-1972) 2 Bùi Thế Lân Thiếu tướng 1954-1975 Thiếu úy, Trung úy, Đại úy: Đại trưởng, Tiểu đoàn trưởng TQLC (1954-1964). Thiếu tá, Trung tá, Đại tá: Tham mưu trưởng Lữ đoàn, Tư lệnh phó Sư đoàn TQLC (1964-1972). Chuẩn tướng, Thiếu tướng: Tư lệnh Sư đoàn Thuỷ quân Lục chiến (1972-1975) 3 Nguyễn Bá Liên Chuẩn tướng Truy thăng 1956-1964 Năm 1956 đang là sĩ quan cơ hữu ở Quân trường Đồng Đế, tình nguyện sang binh chủng TQLC. Thiếu úy, Trung úy Đại đội trưởng TQLC (1956-1958). Đại úy: Trưởng phòng 1 Tiểu đoàn, Tiểu đoàn trưởng, Liên đoàn phó TQLC (1958-1963). Thiếu tá, Trung tá: Liên đoàn phó, Chỉ huy trưởng Liên đoàn Thuỷ quân Lục chiến (1963-1964).
Sau chuyển sang bộ binh. Năm 1969, đang là Đại tá phụ tá Tư lệnh Quân đoàn II kiêm Tư lệnh Biệt khu 24 Kontum, tử trận tại chiến trường Benhet, được truy thăng Chuẩn tướng.
Share this:
- X
Từ khóa » Thủy Quân Lục Chiến Vnch
-
Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ – Wikipedia Tiếng Việt
-
TQLC Index
-
Tiểu Đoàn 9 Thủy Quân Lục Chiến Và Rừng Núi Barbara (Full)
-
THỦY QUÂN LỤC CHIẾN HÀNH KHÚC - YouTube
-
Trung Sĩ Nhất Thủy Quân Lục Chiến VNCH Sa Cơ Kiếm Miếng Ăn ...
-
Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến: Sử Sách Mãi Ghi Chiến Công Của ...
-
Thuỷ Quân Lục Chiến - QLVNCH - Facebook
-
Thuy Quan Luc Chien QLVNCH
-
Tiểu Đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến - TQLC
-
Sài Gòn Xưa - CÂU CHUYỆN VỀ BỨC TƯỢNG THỦY QUÂN LỤC ...
-
Đơn Vị Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đầu Tiên đổ Bộ Vào Đà Nẵng (8-3-1965)
-
Nón Beret Thủy Quân Lục Chiến Xanh | Shopee Việt Nam