Thuyết J.Piaget Về Sự Phát Triển Trí Tuệ Trẻ Em (Phần 2)
Có thể bạn quan tâm
3. Giai đoạn thao tác cụ thể (7- 11 hoặc 12 tuổi).
Giai đoạn này kéo dài từ khoảng 7 tuổi đến 11 hoặc 12 tuổi. Trẻ có thể hiểu được thế giới theo cách lý luận hơn là tri giác ngây thơ. Trẻ có được ý niệm rằng đối tượng còn duy trì định dạng của chúng mặc dù có sự thay đổi về bề ngoài. Mặc dầu có tính thực tế nhưng suy nghĩ của trẻ vẫn bị buộc chặt vào thực tế cụ thể và gắn với khái niệm “ở đây và bây giờ”. Nếu trong thời kì tiền thao tác (khoảng 5- 6 tuổi), trẻ em bắt đầu xuất hiện khả năng phân biệt cái bất biến và cái biến đổi. Tức là trẻ có khả năng bảo tồn một số thuộc tính của vật. Nhờ có khả năng này, trẻ hình thành các thao tác trí tuệ: phân loại, phân hạng và hình thành các khái niệm bảo tồn, trọng lượng và khối lượng.v.v...ở thời kì tiếp theo. Ngoài những thành tựu trên, trẻ đạt được các khái niệm về không gian và thời gian.v.v... Trong 1 thực nghiệm để phân biệt cái biến đổi và cái bất biến, J. Piaget dùng nhiều lọ thuỷ tinh có tiết diện khác nhau, có lọ miệng hẹp nhưng cao đặt ở cạnh những cái lọ khác miệng rộng hơn và chậu. Ông cho trẻ em múc nước vào một cốc đầy, cũng một cốc nước ấy lần lượt cho các em đổ vào những cái chậu và cái lọ khác nhau đó, mỗi lần đúng một cốc. Câu hỏi là: Lọ nào có nhiều nước hơn. Những em bé trước 6 -7 tuổi thường trả lời, nước ở trong cái lọ hẹp thân cao nhiều hơn ở lọ miệng rộng thân thấp và trong chậu. Trả lời của em bé xuất phát từ một trực giác tổng thể, trong đó nổi lên bề cao hay thấp của mức nước ở trong các lọ hay trong chậu. Đến 7- 8 tuổi, các em bé đã biết dứt khoát trả lời: cũng chừng ấy nước thôi! Khả năng này chứng tỏ: Em bé đã nhìn nhận ra trong các trường hợp khác nhau kia, có một yếu tố vẫn giữ nguyên vẹn, là khối lượng nước, với bất kỳ hình thức nào. Đó là nguyên tắc bảo toàn (conservation). Trong tư duy đã xuất hiện khả năng gọi là khả năng đảo ngược (réversibilité). Em bé biết rõ nếu lấy nước trong lọ hay trong chậu đổ lại vào trong cái cốc kia, thì bên nào cũng đúng đầy một cốc, hoặc lấy nước ở trong chậu đổ sang chiếc lọ cao thì mức nước cũng giống như lần đầu. Trên cơ sở nguyên tắc bảo toàn và khả năng đảo ngược, cấu tạo nên những cơ cấu thao tác mới: phân loại, xếp hạng, tính số. Phân loại là xếp vào một tổ hợp những đồ vật cùng chung một số thuộc tính. Muốn phân loại phải biết xác định nội dung những điều giống nhau và khác nhau giữa các sự vật (đồng dị) và phạm vi mở rộng của từng loại. Phải biết xuất phát từ những tổ hợp nhỏ tiến lên những tổ hợp lớn, hoặc từ những tổ hợp lớn chia thành những tổ hợp nhỏ. Tức là biết vận dụng mối liên quan cái này bao hàm cái kia. Có những phân loại đơn giản chỉ theo một tiêu chuẩn, gọi là phân loại lối cộng (classification additive); có những phân loại theo nhiều tiêu chuẩn khác nhau, gọi là phân loại lối nhân (classification multiplicative). Thí dụ như phân loại một số đồ vật chỉ theo một tiêu chuẩn là màu sắc hoặc theo hai tiêu chuẩn là màu sắc và hình thù. Thao tác thứ hai là xếp hạng, như bảo trẻ em lấy mười que dài ngắn khác nhau bảo xếp từ cái ngắn nhất đến cái dài nhất. Những em bé ít tuổi xếp lung tung, rồi chỉnh đi chỉnh lại, lần mò mãi mới ra. Đến khoảng 7 tuổi thường các em không cần lần mò nữa mà xếp đúng ngay từ đầu. Lúc ấy các em cũng có khả năng với hai loại đồ vật khác nhau, như một bên là một bó que, một bên là một số búp bê to nhỏ khác nhau, xếp thành hai hàng tương đương. Các em thường biết xếp hạng trước lúc biết phân loại. Trong những thao tác này, thấy rõ khả năng đảo ngược: gom lại và tách ra, xếp vị trí và dời vị trí, xếp theo một trật tự nhất định và theo trật tự ngược lại. Lẽ dĩ nhiên, trẻ em biết vận dụng những thao tác ấy một cách vô ý thức, nhưng dù sao thông qua hành động và ngôn ngữ chúng ta thấy đã xuất hiện khả năng phân tích quy nạp, nhận thức và trừu xuất (abstraire) những thuộc tính của sự vật để có thể so sánh, định nghĩa, phân loại. Khả năng phân loại và xếp hạng tạo ra khả năng đếm số. Những em nhỏ đã trực giác được những con số đầu tiên, nhưng phải đến 7, 8 tuổi mới vận dụng được hệ thống những con số với những thao tác cộng trừ nhân chia. Phân loại dựa trên những yếu tố giống nhau mà không đếm xỉa đến những gì khác nhau, ngược lại xếp hạng là để ý đến cái khác nhau mà không đếm xỉa đến những điểm giống nhau. Tính số là kết hợp cả hai thao tác. Mỗi con số có hai mặt: một là để chỉ số lượng ít nhiều, gọi là số từ (nombre cardinal) và mặt khác để chỉ rõ thứ tự (nombre ordinal). Vận dụng số từ bao hàm một sự phân loại còn vận dụng số thứ tự bao hàm một sự xếp hạng. Vì vậy khả năng phân loại, khả năng thấy rõ mối liên quan giữa các sự vật và khả năng tính số không thể tách rời với nhau về mặt tâm lý cũng như về mặt lôgic. Phân loại, xếp hạng để mà tính số là những thao tác cụ thể lôgic và toán học sơ đẳng cho phép đồng hoá sự vật vào cơ cấu trí khôn với khả năng hai mặt, một bên là định tính, một bên là định lượng. Có thể xem những thao tác trên kia là mặt hình thức vận động của trí khôn, còn về nội dung của sự vật, phải vận dụng một số cơ cấu thao tác khác. Jean Piaget lấy một cục đất sét cho trẻ em nhào nặn thành những hình thù khác nhau vo tròn, đập dẹt, vuốt dài ra như con rắn, cắt khúc con rắn ấy, và mỗi lần làm như vậy hỏi trẻ em những khối đất sét ấy nặng nhẹ, thể tích có như nhau không. Thông thường dưới 10, 11 tuổi các em thấy bánh dẹt to hơn, nặng hơn và thể tích lớn hơn; đến 10, 11 tuổi mới nhận ra là nặng như nhau, và 12 tuổi nhận ra thể tích như nhau. Jean Piaget lấy một miếng đường cho hoà tan vào một cốc nước. Trẻ em nhỏ cho rằng đường đã mất đi. Về sau mới nhận ra dù đường không thấy nữa, vẫn còn nguyên chất đấy với trọng lượng không thay đổi, thể tích cũng vậy. Như vậy đã nắm được nguyên tắc bảo toàn về nguyên chất, trọng lượng, thể tích. Trẻ em cho rằng miếng đường trong khi giữ nguyên những đặc tính trên đã hoá thành những hạt rất bé; như vậy đã có một quan niệm "nguyên tử" về vật chất. Đến đây thế giới vật chất được nhìn nhận qua một cấu tạo rõ nét, với những đồ vật cố định, những mối tương quan nhất định, với những thuộc tính khác nhau, với những yếu tố có thể đo lường được, khác với bức tranh hỗn hợp, biến động theo hứng thú và có ý đồ hành động của bản thân. Rồi đến những thao tác sắp xếp các đồ vật trong không gian mà Jean Piaget chia làm ba loại: - Xác định những quan hệ tiếp cận với nhau, tách rời, thứ tự, liên tục và gián đoạn, Jean Piaget gọi đây là những thao tác tô -pô. - Những thao tác xác định vị trí và khoảng cách đối chiếu với một quan điểm, một vị trí đứng nhìn nhất định, Jean Piaget gọi đây là những thao tác xạ ảnh (projectile). - Thao tác nắm được mối quan hệ giữa một đồ vật đang vận động và những vị trí kề nhau của vật ấy. Đến đây vào 9, 10 tuổi, khả năng đo lường xuất hiện, muộn hơn khả năng đếm số. Những thao tác này Jean Piaget gọi là thao tác mang tính ơclid. Cùng với phạm trù không gian hình thành phạm trù thời gian. Trước đó trẻ em chỉ có những cảm giác gắn liền với hành động, và mỗi hành động gắn liền với tình ý mong chờ, nôn nóng, nhưng mỗi khoảnh khắc ấy cứ biến theo các tình huống trong cuộc sống, không liên kết với nhau. Vì vậy, trẻ em chỉ sống trong hiện tại. Thông qua hành động với những vật thể vận động với tốc độ khác nhau, phạm trù thời gian dần dần hình thành. Đầu tiên giữa hai vật thể vận động nhanh chậm khác nhau, biết so sánh tốc độ của hai bên; sau đó với một vật thể nhận thức ra tốc độ, khoảng cách vận động và thời gian vận động, hiểu được công thức: V (vận tốc) = e (khoảng cách vận động)/ t (thời gian). Có thể thấy, ở giai đoạn này, trẻ em có khả năng thực hiện các thao tác tâm trí (mental operation) nhưng cũng chưa thể lý luận trừu tượng được. Mặc dầu các em biết vận dụng logic và suy luận để giải quyết các vấn đề cụ thể song các biểu tượng cho những đối tượng (vật thể và sự kiện) cụ thể chứ không phải là những sự trừu tượng. Các câu hỏi của các em ở độ tuổi này thường rất cụ thể.
4. Giai đoạn thao tác hình thức (11- 12 đến 14- 15 tuổi).
Giai đoạn này bắt đầu ở khoảng từ 12 tuổi cho đến 14 - 15 tuổi và tuổi trưởng thành. Trong thời kỳ này, trẻ có khả năng khái quát hoá các ý tưởng và cấu trúc các điều trừu tượng. Đặc trưng của giai đoạn này là các thao tác tư duy của trẻ không cần dựa vào vật cụ thể. Nó có thể suy luận dựa trên các mệnh đề, các giả thuyết. Chúng có Khả năng đưa ra kết luận từ những giả thuyết hơn là dựa hoàn toàn vào quan sát thực tế, được gọi là suy nghĩ suy luận - giả thuyết. Trí tuệ trẻ em đạt tới mức trưởng thành. Có thể quan sát thấy, vào 11, 12 tuổi, hệ thống thao tác cụ thể hình thành một cách hoàn chỉnh với hai đặc điểm lớn là khả năng đảo ngược và xuất hiện một yếu tố bất biến. Nhờ đó tư duy không bị chìm ngập trong luồng cảm giác và hành động của cuộc sống, mà sắp xếp lại luồng sống ấy trong một thế giới có phân loại, có những mối tương quan lôgic và toán học. Thế giới tư duy xây dựng trên cơ sở một quá trình khái niệm hoá và định lượng. Khái niệm và con số không phải là những yếu tố có sẵn mà là những sơ cấu được hình thành trong một quá trình hành động và cấu tạo lâu dài, đồng thời nằm trong cả một hệ thống thao tác và cơ cấu. Thế giới tư duy một mặt linh động hơn thế giới cụ thể, mặt khác cấu tạo một cách chặt chẽ hơn, có tính cố kết hơn. Hai yếu tố quan trọng đã thúc đẩy trẻ em dần dần thoát khỏi tính tự kỉ. Một là sự chống lại của sự vật với tình ý chủ quan, hai là sự hợp tác và mâu thuẫn với người khác. Tư duy được xã hội hoá. Trẻ em nhận rõ người khác có thể có quan điểm khác với mình, ví như đối với một người đứng trước mặt mình thì chính bên phải của mình lại là bên trái của người ấy và có thể thực hiện một thao tác đảo ngược lại. Những thao tác cụ thể được vận dụng với những biểu tượng phản ảnh những sự vật và hành động "có thực". Sau đó xuất hiện khả năng thao tác hình thức thoát li hẳn thế giới có thực để vận dụng những biểu tượng không nhất thiết có thực mà chỉ là "có thể". Tư duy thao tác hình thức bao gồm hai yếu tố, giả thiết và suy diễn. Tư duy không xuất phát từ sự việc và hành động cụ thể, mà từ chính những thao tác của tư duy, từ những mệnh đề vì vậy lôgic của lối tư duy này gọi là lôgic mệnh đề. Đây là thao tác trên thao tác, thao tác ở cấp 2. Nếu trong thao tác cụ thể, quan trọng là đúng hay sai, tức là ăn khớp hay không với sự vật và hành động có thực, thì trong thao tác hình thức, quan trọng là tính tất yếu, mà không cần / hoặc không thể kiểm tra, thử nghiệm bằng cách đối chiếu với thực tế. Tính tất yếu này nằm ngay trong cơ chế tư duy. Một thí nghiệm dễ thực hiện cho ta thấy sự khác biệt giữa hai lối tư duy. Lấy một đòn cân với điểm treo lên là O, ở đầu A treo một quả cân một kilô. Ở đầu B treo 2 kilôgam, cán cân nghiêng xuống, làm sao lấy lại thăng bằng. Những em bé dưới 5, 6 tuổi chỉ biết lấy tay mình giữ đòn cân lại, dùng bản thân can thiệp trực tiếp. Những em lớn hơn biết xịch đi xịch lại quả cân ở phía A cho đến lúc đòn cân nằm ngang lại và nếu treo thêm một vài quả cân nữa bên B cũng xịch đi xịch lại mà tìm ra giải pháp. Nhưng nếu ai hỏi một bên treo đến 100 hay 1000 kilôgam, mà bên kia chỉ có 1 kilôgam, thì làm sao. Không thể thử nghiệm cụ thể được nữa, em bé đành chịu. Mãi đến 13, 14 tuổi trở lên, lúc ấy, không cần lần mò, mà nhận ra ngay mối tương quan giữa sức nặng nhiều ít với cự li ngắn dài của hai khoảng cách OA và OB. Lúc đó, có thể giải đáp bất kì trường hợp nào. Từ giới hạn của thao tác cụ thể, đóng khung lại trong phạm vi "có thực", tiến lên hoạt động trong một phạm vi vô hạn của tất cả những trường hợp "có thể", khái niệm về tỉ lệ đã xuất hiện, được toán học biểu hiện thành công thức. Với sự vận dụng giả thiết và suy diễn, khả năng của tư duy được mở rộng rất nhiều: hết thời kì này tư duy đã có đầy đủ khả năng. Tư duy trừu tượng hình thành và phát triển. Phần lớn các thanh thiếu niên đã chín muồi tất cả những cấu trúc tâm trí cần thiết. Trẻ vị thành niên có thể đi bất cứ chỗ nào mà suy nghĩ dẫn dắt chúng đi. Chúng thảo luận, chúng viết, chúng suy ngẫm. Chúng có thể sáng tạo ra triết lý về cuộc đời và giải thích về vũ trụ. Chúng cũng có thể tự phê bình một cách đúng đắn bởi vì trẻ có khả năng phản ảnh và xem xét cẩn thận các ý tưởng của mình.. Các em có những câu hỏi sâu sắc về sự thật, về lẽ công bằng và về sự tồn tại. Các em có năng lực vận dụng các khái niệm trừu tượng để xử lý thông tin, đánh giá và vận dụng trong nhiều tình huống cụ thể. Với nhóm thanh thiếu niên, người ta nhận ra rằng, các bài phân tích ngắn, các bài báo về các vấn đề khoa học, thuật hùng biện… có thể đem đến cho các em những biến đổi sâu sắc trong nhận thức, thái độ và hành vi . Học thuyết của J. Piaget về sự phát triển trí tuệ trẻ em có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với tâm lý học phát triển và tâm lý học tư duy. Nó có giá trị ứng dụng cao đối với quá trình dạy và học cho trẻ tương ứng với các giai đoạn phát triển. Lý thuyết của Piaget có tác động sâu sắc đến các nhà ứng dụng tâm lý và nhà giáo dục trẻ em. Lý thuyết này ủng hộ việc cung cấp những cơ hội cho trẻ trải nghiệm về vật thể cũng như các hiện tượng tự nhiên trong cuộc sống. Mà trong đó, hoạt động chơi là hoạt động thiết yếu và an toàn nhất cho trẻ nhiều cơ hội vui thú để trải nghiệm và khám phá không ngừng, thúc đẩy liên tục sự phát triển trí tuệ của trẻ.
HuongPM Tài liệu tham khảo 1) Internet 2) Tâm lý học và Giáo dục học. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội 1985 3) Phan Trọng Ngọ (chủ biên), Tâm lý học trí tuệ, Hà nội 2001.
Từ khóa » Thuyết J
-
Thuyết J.Piaget Về Sự Phát Triển Trí Tuệ Trẻ Em (phần 1)
-
Thuyết Y – Wikipedia Tiếng Việt
-
Thuyết Z – Wikipedia Tiếng Việt
-
Lý Thuyết - Wiktionary Tiếng Việt
-
Lý Thuyết ưa Thích Thanh Khoản Là Gì? Nội Dung Và ý Nghĩa Của Lý Thuyết
-
Lý Thuyết Hành Vi Hoạch định Là Gì? Phân Tích Các Yếu Tố Cấu Thành?
-
Tìm Hiểu Học Thuyết Pháp Luật Tự Nhiên
-
Thuyết Trình Là Gì? Tầm Quan Trọng Của Kỹ Năng Thuyết Trình Trong ...
-
Nhận Diện “thuyết âm Mưu” - Báo Biên Phòng
-
Tâm Lý Học Hành Vi Và Học Thuyết Tâm Lý Học Hành Vi - Luật Minh Khuê
-
16. Vận Dụng Lí Thuyết Phát Sinh Nhận Thức Của J. Piaget Vào Việc Tổ ...
-
Thuyết Màu - J .W. Von Goethe
-
Lý Thuyết Dow Là Gì? 6 Nguyên Lý Cơ Bản & Những Hạn Chế