Tiếng Hà Nội Và Người Hà Nội - Một Cách Nhìn - 123doc

Tiếng Hà Nội và Người Hà Nội là hai khái niệm nhận được sự quan tâm không nhỏ của Phương ngữ học Việt Nam thời hiện đại. Cắt nghĩa khái niệm này hoàn toàn không phải là một điều đơn giản. Sự không đơn giản ấy thể hiện qua nhiều cuộc tranh luận của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam qua nhiều cuộc hội thảo rộ lên vào thập kỉ cuối cùng trước mốc kỉ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội do Hội Ngôn ngữ học Hà Nội và một số cơ sở đào tạo - nghiên cứu ngôn ngữ học phối hợp tổ chức. Bài viết này sẽ đưa ra một cái nhìn về tiếng hà Nội và người Hà Nội, mời bạn đọc tham khảo.

Trang 1

NGÔN NGỮ HỌC VÀ VIỆT NGỮ HỌC

TIẾNG HÀ NỘI VÀ NGƯỜI HÀ NỘI

-MỘT CÁCH NHÌN

HANOI DIALECT AND HANOI PEOPLE - A POINT OF VIEW

TRỊNH CẨM LAN (PGS.TS; Đại học KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội)

Abstract: Locate an area of Hanoi dialect and Hanoi people, the paper deals with a point

of view about two concepts of Hanoi dialect and Hanoi people by a discussion of another

points of view about these concepts, and brings out simultaneously an opinion in terms of

two variants of Hanoi dialect, those are urban Hanoi dialect and rural Hanoi dialect with

their typical features

Key words: Hanoi area; Hanoi dialect; Hanoi people; urban Hanoi dialect; rural Hanoi

dialect

1.Vài nét phác thảo về địa bàn Hà Nội

qua các mốc lịch sử

Tiếng Hà Nội và Người Hà Nội là hai khái

niệm nhận được sự quan tâm không nhỏ của

Phương ngữ học Việt Nam thời hiện đại Cắt

nghĩa khái niệm này hoàn toàn không phải là

một điều đơn giản Sự không đơn giản ấy thể

hiện qua nhiều cuộc tranh luận của các nhà

ngôn ngữ học Việt Nam qua nhiều cuộc hội

thảo rộ lên vào thập kỉ cuối cùng trước mốc kỉ

niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội do Hội

Ngôn ngữ học Hà Nội và một số cơ sở đào tạo

- nghiên cứu ngôn ngữ học phối hợp tổ chức

Tuy nhiên, những cuộc thảo luận, cho đến

nay, hình như cũng vẫn chưa đạt được một

thỏa thuận chung cuộc Để định hình hai khái

niệm trên đây, thiết nghĩ, trước hết phải định

hình không gian tồn tại cho hai khái niệm này

Không ai nghi ngờ rằng địa bàn Hà Nội

(theo nghĩa địa bàn hành chính) là một không

gian không ổn định qua các thời kì lịch sử

Những quá trình tách nhập khác nhau giữa

các thời kì đã tạo cho Hà Nội một không gian

hành chính linh hoạt và luôn thay đổi Tuy

nhiên, cũng có thể nói, dù hàng chục lần thay

đổi nhưng địa bàn Hà Nội luôn tồn tại một

vùng trung tâm ổn định qua các mốc lịch sử

Cái vùng trung tâm ấy vẫn tồn tại và giữ

nguyên vị thế của nó sau hàng thế kỉ mà

chúng ta vẫn quen gọi là phố phường Hà Nội.

Bao quanh vùng trung tâm này là các khu vực ngoại vi, hay người Hà Nội vẫn gọi là ngoại ô,

và đây chính là khu vực đầy biến động (Vũ

Kim Bảng 2010) Một sự phác thảo theo chiều lịch đại địa bàn Hà Nội qua các mốc lịch sử là một cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu tiếng Hà Nội hôm nay nói riêng và việc định

vị khái niệm tiếng Hà Nội và người Hà Nội nói chung

1.1 Địa bàn Hà Nội thời phong kiến

Mặc dù trước khi Thăng Long chính thức trở thành Kinh đô của nhà Lý, địa bàn Hà Nội bấy giờ đã có một chiều dài lịch sử Tuy vậy, vào thời đó, nước ta có tới 10 thế kỉ chịu sự thống trị của nhà nước phong kiến phương Bắc, Hà Nội bấy giờ chỉ là một vùng đất thuộc một quận của nhà nước này cho đến thế

kỉ thứ X Từ khi Ngô Quyền thắng quân Nam Hán rồi xưng vương, nước ta mới bắt đầu độc lập Trải ba triều đại phong kiến ngắn ngủi: Ngô (939-967), Đinh (968-980), Tiền Lê (981-1009), Hà Nội cũng vẫn chỉ là một vùng

đất ven sông Hồng nằm ở trung tâm châu thổ

Bắc Bộ và được biết đến với cái tên Đại La thành do Cao Biền - một tướng của nhà

Đường - xây dựng còn kinh đô của đất nước

vẫn tọa lạc ở vùng Hoa Lư (Trần Quốc

Vượng & Vũ Tuấn San 1975)

Mùa thu năm Canh Tuất, Lý Công Uẩn lên

ngôi và quyết định dời đô từ Hoa Lư về Đại

Trang 2

La, đổi tên thành Thăng Long Thăng Long

chính thức trở thành kinh đô của triều Lý và

kinh thành Thăng Long chính thức được xây

dựng Kinh thành được xây trên vùng đất do

ba con sông - sông Hồng, sông Tô Lịch và

sông Kim Ngưu - bao bọc Thăng Long bấy

giờ có 10 trang trại nội thành và 61 phường

ngoại thành Sang đời Trần, tổ chức hành

chính và địa giới Thăng Long về cơ bản vẫn

giữ như đời Lý Sang đến đời Lê, khu vực

ngoại thành rút xuống còn 36 phường Đến

khi nhà Lê chiến thắng quân Minh, Thăng

Long được giải phóng, kinh thành được mở

rộng ra phía đông (Trần Quốc Vượng & Vũ

Tuấn San 1975)

Đến đời Nguyễn, vua Gia Long định đô tại

Phú Xuân Thăng Long không còn là kinh đô

Gia Long cho phá Hoàng thành cũ, xây thành

mới nhỏ hơn và mọi sự bố trí bên trong cũng

thay đổi Vào thời Minh Mạng, vua xây dựng

một hệ thống quản lí mới gồm 26 tỉnh trải dài

từ biên giới phía bắc đến mũi Cà Mau, đặt tên

tỉnh có thành Thăng Long tọa lạc là Hà Nội

Từ đó (1831), Thăng Long mang tên Hà Nội

Địa giới Hà Nội thời Nguyễn bao gồm vùng

đất Thăng Long cũ và một số địa phương

thuộc Hà Tây cũ, kéo xuống phía nam đến tận

Lý Nhân (Hà Nam) Về mặt hành chính, tỉnh

Hà Nội khi đó có 4 phủ: phủ Hoài Đức (gồm

thành Thăng Long và Từ Liêm), phủ Ứng

Hòa, phủ Thường Tín và phủ Lý Nhân Phủ

Hoài Đức có hai huyện Vĩnh Thuận và Thọ

Xương Huyện Thọ Xương ở phía đông kinh

thành, trên đất của các quận Hoàn Kiếm, Hai

Bà Trưng, Đống Đa và một phần quận Ba

Đình gồm 8 tổng với 193 phường Huyện

Vĩnh Thuận ở phía tây kinh thành, trên đất

của một phần quận Ba Đình và các quận khác

là Tây Hồ, Đống Đa, Hoàng Mai và Thanh

Xuân ngày nay (Hoàng Đạo Thúy 1975, Trần

Huy Liệu 2000)

1.2 Địa bàn Hà Nội thời thuộc Pháp (từ

1858 đến 1945)

Năm 1888, tổng thống Pháp ra sắc lệnh

thành lập thành phố Hà Nội bao gồm hầu hết

không gian địa lí hai huyện Vĩnh Thuận và

Thọ Xương Cùng với việc thành lập thành phố Hà Nội, người Pháp quyết định trả phần

đất Ứng Hòa và Thường Tín về cho Hà Tây,

trả Lý Nhân về cho Hà Nam Năm 1889,

người Pháp thành lập khu vực ngoại thành Hà

Nội bao gồm những phần đất của hai huyện Vĩnh Thuận và Thọ Xương những nằm ngoài thành phố và một số xã, thôn thuộc hai huyện

Từ Liêm và Thanh Trì Đầu thế kỉ XX, vào khoảng từ 1904 đến 1915, người Pháp lại quyết định nhập khu vực ngoại thành Hà Nội thành một huyện trực thuộc tỉnh Hà Đông lấy tên là huyện Hoàn Long Năm 1942, họ lại thành lập một đại lí đặc biệt trực thuộc thành phố Hà Nội gồm huyện Hoàn Long và 22 xã thuộc phủ Hoài Đức (Trần Huy Liệu 2000)

1.3 Địa bàn Hà Nội từ 1945 đến 1954

Năm 1945, sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

ra đời, Hà Nội trở thành thủ đô của đất nước Ngày 30/8/1945, Bác Hồ ra sắc lệnh thành lập

Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Ngày

22/11/1945, một sắc lệnh khác quy định tổ chức hành chính của Hà Nội gồm 5 khu phố nội thành và 120 xã ngoại thành Ngay sau đó,

Hà Nội lại được cấu trúc lại thành 17 khu phố nội thành và 5 khu hành chính ngoại thành Tháng 11/1946, Hà Nội chính thức được công nhận là thủ đô của nước Việt Nam độc lập thông qua bản hiến pháp đầu tiên Theo đó, nội thành Hà Nội bấy giờ được chia thành 3 liên khu: Liên khu 1 nằm ở phía bắc bao gồm khu vực quận Hoàn Kiếm và một phần hai quận Ba Đình và Tây Hồ hiện nay; Liên khu 2 nằm ở phía nam bao gồm khu vực quận Hai

Bà Trưng, Hoàng Mai và một phần quận

Thanh Xuân hiện nay; Liên khu 3 nằm ở phía tây bao gồm khu vực quận Đống Đa, một phần quận Thanh Xuân và quận Cầu Giấy hiện nay

Vào thời tạm chiếm, người Pháp chia nội thành thành 36 khu phố và một đại lí trực thuộc mang tên Hoàn Long với 5 quận (Lã Minh Hằng 2001) Năm 1948, chính phủ bù

Trang 3

nhìn do Pháp thành lập đã sáp nhập Hà Nội và

Hà Đông thành một tỉnh gọi là Lưỡng Hà

Riêng Hà Nội chia thành 2 huyện là Trấn Tây

và Trấn Nam Tháng 2/1949, Trấn Tây và

Trấn Nam trở thành 2 liên khu phố, ngoại

thành chia làm 3 quận Một thời gian sau,

chính quyền lại đổi 2 liên khu phố nội thành

thành 2 quận I và II Tháng 11/1949, chia 2

quận nội thành thành 17 khu phố và 3 quận

ngoại thành thành 34 liên xã (Trần Quốc

Vượng 2006)

1.4 Địa bàn Hà Nội từ 1954 đến 1975

Tháng 11/1954, Ủy ban hành chính Hà Nội

được thành lập, Hà Nội được chia thành 4

quận nội thành với 34 khu phố và 4 quận

ngoại thành với 46 xã Năm 1958, 4 quận nội

thành được chia thành 12 khu phố rồi sau đó

lại được nhập lại thành 8 khu phố, còn phần

đất ngoại thành vẫn giữ nguyên là 4 quận (Tô

Hoài & Nguyễn Vinh Phúc 2000)

1.5 Địa bàn Hà Nội từ 1975 đến nay

a Giai đoạn 1975 - 2008: Sau khi đất

nước thống nhất, nội thành Hà Nội được cấu

trúc lại thành 4 khu phố là Ba Đình, Hoàn

Kiếm, Hai Bà Trưng và Đống Đa Ngoại

thành gồm 4 huyện Gia Lâm, Đông Anh,

Thanh Trì và Từ Liêm, tháng 12/1975 thêm 2

huyện Sóc Sơn và Mê Linh Năm 1980, Hà

Nội lại thay đổi gồm 4 khu phố nội thành như

cũ, 1 thị xã Sơn Tây và 10 huyện ngoại thành,

ngoài 6 huyện cũ, thêm 4 huyện của Hà Tây

lúc bấy giờ là Đan Phượng, Hoài Đức, Phúc

Thọ, Thạch Thất Năm 1981, 4 khu phố nội

thành đổi thành 4 quận Năm 1991, một số

huyện vốn thuộc Hà Tây và Vĩnh Phú được

trả lại cho hai tỉnh này Ngoại thành Hà Nội

chỉ còn 5 huyện là Gia Lâm, Đông Anh, Sóc

Sơn, Thanh Trì, Từ Liêm Năm 1995, cùng

với quá trình đô thị hóa, Hà Nội bắt đầu chủ

trương mở rộng nội thành với việc thành lập

thêm các quận trên cơ sở một số phường của

4 quận cũ với một số xã của các huyện ven

đô Tháng 12/1995, quận Tây Hồ được thành

lập trên cơ sở 3 phường của quận Ba Đình và

5 xã thuộc huyện Từ Liêm Tháng 9/1997,

quận Thanh Xuân được thành lập với 5

phường của quận Đống Đa, 1 xã thuộc Từ

Liêm là Nhân Chính và 1 xã thuộc Thanh Trì

là Khương Đình Tháng 9/1997, quận Cầu

Giấy được thành lập trên cơ sở 7 xã còn lại của huyện Từ Liêm Tháng 11/2003, quận

Hoàng Mai được thành lập trên cơ sở 5 phường phía nam của quận Hai Bà Trưng và 9

xã còn lại của huyện Thanh Trì Cùng thời

điểm này, quận Long Biên cũng được thành

lập trên cơ sở 3 thị trấn và 11 xã thuộc huyện

Gia Lâm Như vậy, địa bàn và tổ chức hành

chính của Hà Nội trước 2008 có 9 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành (Gia Lâm,

Đông Anh, Sóc Sơn, Thanh Trì, Từ Liêm)

(Dẫn theo Vũ Kim Bảng 2007)

b Giai đoạn 2008 đến nay: Từ ngày

1/8/2008, địa giới hành chính của Hà Nội được mở rộng trên cơ sở hợp nhất thành phố

Hà Nội với Hà Tây, huyện Mê Linh của Vĩnh Phúc và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn, Hòa Bình Đây là lần mở rộng lớn nhất trong lịch

sử Hà Nội Hà Nội trở thành một thủ đô với tổng diện tích là 3.300 km2với kích cỡ dân số trên 6 triệu người vào thời điểm đó

Tựu trung lại, từ thế kỉ XI, khi Lý Công Uẩn định đô ở Thăng Long, cho đến thời

điểm này, địa bàn hành chính Thăng Long

-Hà Nội đã có biết bao thay đổi cùng với những biến thiên thăng trầm của lịch sử dân tộc Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể, cho

dù địa giới khu vực ngoại vi có linh hoạt và

nhiều biến đổi qua các quá trình tách nhập thì khu vực trung tâm vẫn giữ được độ ổn định, vững bền bên trong, đó là khu vực nằm giữa

ba con sông (sông Hồng, sông Kim Ngưu và sông Tô Lịch) mà hạt nhân của nó chúng ta

vẫn quen gọi là 36 phố phường Hà Nội Đó là

khu tam giác cổ gồm 3 cạnh: cạnh thứ nhất giáp với sông Hồng, chạy từ Hàng Đậu tới Hàm Tử Quan, cạnh thứ 2 từ Hàng Đậu qua

Phùng Hưng xuống Cửa Nam và cạnh thứ 3

từ Cửa Nam dọc theo tuyến Hàng Bông, Hàng Gai, Cầu Gỗ, Lò Sũ đến Hàm Tử Quan (Dẫn theo Vũ Kim Bảng 2007)

Trang 4

2 Bàn luận về địa bàn Hà Nội và cặp

khái niệm liên quan: tiếng Hà Nội đô thị và

tiếng Hà Nội nông thôn

Có thể nói, để xác định không gian sinh

tồn của người Hà Nội và tiếng Hà Nội về mặt

địa lí, cần thiết phải dựa vào những phân tích,

luận giải về không gian địa lí Hà Nội Về điều

này, chúng tôi chia sẻ với Vũ Kim Bảng và

đồng sự ở chỗ không thể không đề cập đến ba

phạm vi không gian bao bọc lấy nhau Phạm

vi trong cùng, được xem là hạt nhân là khu

phố cổ hay khu 36 phố phường, tiếp đến là

một khu vực rộng hơn được bao bọc bởi 3 con

sông (sông Hồng, sông Kim Ngưu và sông Tô

Lịch), đây là hai phạm vi không gian ổn định,

vững bền qua các thời đại, là không gian của

khu phố phường Hà Nội thời cận hiện đại,

cũng là nơi tạo nên một thứ mà ông gọi là

tiếng Hà Nội đô thị (Vũ Kim Bảng và đồng sự

2010) Về mặt thuật ngữ, chúng tôi cũng chia

sẻ và sử dụng cách gọi này

Tuy nhiên, về phạm vi không gian thứ ba,

có một sự khác biệt giữa quan điểm của chúng

tôi với quan điểm của Vũ Kim Bảng và đồng

sự Đó là, theo Vũ Kim Bảng, phạm vi này

chỉ là ranh giới địa lí của hai huyện Từ Liêm

và Thanh Trì bởi theo tác giả thì đây vốn là

địa giới hành chính ngoại thành lâu nhất của

thủ đô trong suốt chiều dài 1000 năm lịch sử

và tạo nên tiếng Hà Nội nông thôn Như với

khái niệm tiếng Hà Nội đô thị, chúng tôi cũng

chia sẻ và sử dụng khái niệm tiếng Hà Nội

nông thôn Tuy nhiên, quan điểm của chúng

tôi về không gian tồn tại của tiếng Hà Nội

nông thôn thì khác.

Có lẽ chúng ta đều thừa nhận rằng tiếng

Hà Nội nông thôn chắc chắn phải là tiếng nói

của người Hà Nội cư trú ở khu vực nông thôn

Vậy nếu chỉ coi tiếng Hà Nội nông thôn là

tiếng nói của các cư dân cư trú ở hai huyện Từ

Liêm và Thanh Trì thì tiếng nói của cư dân

Hà Nội cư trú ở các khu vực nông thôn Hà

Nội khác (bao gồm các huyện Gia Lâm, Đông

Anh, Sóc Sơn, Mê Linh, toàn bộ tỉnh Hà Tây

cũ và các xã của Hòa Bình mới nhập vào Hà

Nội năm 2008) là tiếng gì? Đã đành, với toàn

bộ khu vực thuộc Hà Tây cũ, cộng đồng dân

cư trong không gian đó vẫn nói một thứ tiếng

mà truyền thống quen gọi là tiếng Hà Tây và

khái niệm này đã thành cố định, đi vào tiềm thức, trở thành tri thức của số đông và có thể bây giờ, dù muốn hay không, cái thực thể

được định danh là tiếng Hà Tây ấy vẫn tồn tại

và sức sống của nó là tự nhiên, có thể lâu bền, nằm ngoài ý chí của mỗi chúng ta cho dù chủ

nhân của nó hiện nay có thể được gọi là người

Hà Nội Nhưng, câu hỏi đặt ra là các cộng

đồng cư trú tại các vùng nông thôn Hà Nội

khác như các huyện Gia Lâm, Đông Anh, Sóc

Sơn, Mê Linh cũ4nói tiếng địa phương nào nếu không phải cũng là tiếng Hà Nội nông

thôn?

Với lập luận như vậy, chúng tôi cho rằng, cần thiết phải định hình lại cái phạm vi không

gian thứ ba - nơi tồn tại của tiếng Hà Nội

nông thôn - rộng hơn so với phạm vi mà Vũ

Kim Bảng và đồng sự đã định vị Phạm vi đó bao gồm ít nhất toàn bộ phần không gian địa

lí Hà Nội trước năm 2008 với một điều kiện là chấp nhận sự tồn tại lâu dài hơn của khái niệm

tiếng Hà Tây, bất chấp ý chí chủ quan của con

người thể hiện trên sự sáp nhập Hà Tây vào

Hà Nội về phương diện hành chính Còn nếu

không, phương án dung hòa hơn, tránh được

những kì thị, và có thể là hợp lí cho một cái nhìn nhất quán, đó là coi tiếng nói của toàn bộ không gian hành chính ngoại thành Hà Nội ở thời điểm hiện tại (bao gồm cả Hà Tây cũ và

các xã của Hòa Bình mới nhập) là tiếng Hà

Nội nông thôn Và theo đó, nếu tiếng Hà Nội

đô thị là một thực thể thuần nhất, ổn định và bất biến một cách tương đối thì tiếng Hà Nội

nông thôn là một thực thể linh hoạt và đa sắc

hơn Tính đa sắc ấy thể hiện ở sự tồn tại đa

dạng của nhiều loại biến thể địa lí và xã hội ở nhiều không gian địa lí và xã hội khác nhau

mà nét đặc biệt hơn cả là sự tồn tại đan xen

4 Chúng tôi gọi là "cũ" bởi trong những lần mở rộng gần đây, đã có một phần, thậm chí phần lớn của một vài huyện trong số đó trở

Trang 5

của những đảo thổ ngữ được biết đến suốt

chiều dài lịch sử phương ngữ học Việt Nam

như Cổ Nhuế, Triều Khúc, Sơn Tây, Thạch

Thất

Dù sao, hai vấn đề còn lại vẫn là không

gian tồn tại của tiếng Hà Nội nông thôn là ở

đâu? Còn hay không khái niệm tiếng Hà Tây

trong thời hiện đại? Biết rằng điều này là tối

kị nhưng đây sẽ là hai vấn đề mà chúng tôi

vẫn quyết định để ngỏ trong khuôn khổ bài

viết này Kết luận vẫn đang còn ở phía trước

Chỉ có điều, vượt lên trên sự chưa rõ ràng ấy,

cặp khái niệm tiếng Hà Nội nông thôn và

tiếng Hà Nội đô thị sẽ là hai khái niệm mà dù

thế nào thì chúng vẫn tồn tại và chúng tôi sẽ

sử dụng chúng ở một số bình diện khảo sát

tiếng Hà Nội trong tương lai

3 Tiếng Hà Nội và Người Hà Nội

3.1 Về các cách gọi: tiếng Hà Nội, giọng

Hà Nội, phương ngữ Hà Nội, thổ ngữ Hà

Nội

Xưa nay, khi chọn một biểu thức ngôn ngữ

để định danh cho tiếng nói của một vùng đất

nào đó, người ta, ngay cả giới nghiên cứu,

thường băn khoăn khi lựa chọn phương ngữ

hay thổ ngữ, tiếng hay giọng ? Điều này còn

cần phải lưu tâm hơn khi chọn một từ để định

danh cho tiếng nói thủ đô Trên thực tế, chúng

ta đã gặp một số cách gọi khác nhau, chẳng

hạn phương ngữ Hà Nội, giọng Hà Nội (Vũ

Bá Hùng 2001), thổ ngữ Hà Nội (Hoàng Văn

Hành 2001), và hơn cả, một cách gọi phổ biến

nhất là tiếng Hà Nội (Hoàng Văn Hành 2001,

Nguyễn Văn Khang 2001, Vũ Bá Hùng 2000,

Đinh Văn Đức 2001, Lê Quang Thiêm 2007

và nhiều người khác)

Từ góc nhìn phương ngữ học, giới Việt

ngữ thường dùng hai từ tiếng địa phương và

giọng địa phương Theo Nguyễn Văn Khang,

với tư cách là biến thể của một ngôn ngữ,

tiếng địa phương nên được hiểu là một chỉnh

thể trong đó bao gồm các yếu tố của cấu trúc

-hệ thống ngôn ngữ như các yếu tố ngữ âm, từ

vựng, ngữ pháp và phong cách hay cách diễn

đạt (Nguyễn Văn Khang 2001) Có thể nói,

trong trạng thái hành chức của mình với tư cách là một phương tiện giao tiếp, cái gọi là ngôn ngữ như chúng ta thường gọi và biết

đến, chẳng hạn, tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng

Hán chỉ tồn tại dưới dạng các biến thể Xét

về mặt địa lí, loại biến thể tồn tại trong một phạm vi không gian thường được xem là các

tiếng địa phương Chúng ta có thể nói Nghệ sĩ

Như Quỳnh nói tiếng Hà Nội, Bà Tôn Nữ Thị

Ninh nói tiếng Huế, biên tập viên Hoài Anh nói tiếng Sài Gòn, v.v Và ngay cả khi các

phát thanh viên Đài tiếng nói Việt Nam hay

Đài truyền hình Việt Nam nói một thứ tiếng

mà một số người vẫn gọi là tiếng phổ thông,

tiếng Việt toàn dân thì cái thứ tiếng siêu

phương ngữ ấy cũng vẫn có cơ sở từ một thứ

tiếng, một phương ngữ hay tiểu phương ngữ

nhất định - thường được xem là tiếng Hà Nội,

trung tâm của Phương ngữ Bắc, cơ sở của

tiếng Việt toàn dân Cái gọi là tiếng ở đây có

thể xem là một phương ngữ địa lí Tuy nhiên, với một cái nhìn rộng hơn, cũng có thể hiểu theo cách của Nguyễn Văn Khang và xem cái thực thể ấy là một thứ phương ngữ địa lí - xã

hội Lập luận mà tác giả đưa ra là " trong

một đất nước Việt Nam thống nhất, đa dân tộc, đa ngôn ngữ và mỗi ngôn ngữ nói chung

và tiếng Việt nói riêng lại hành chức dưới dạng một ngôn ngữ - đa phương ngữ thì sự biệt lập giữa các ngôn ngữ và giữa các

phương ngữ của một ngôn ngữ là điều không

xảy ra." (Nguyễn Văn Khang 2001) Mặc dù

tác giả không lập luận một cách hiển ngôn

nhưng theo suy luận của chúng tôi thì hàm ý

mà tác giả muốn nói ở đây là: cái được gọi là

tiếng, tồn tại một cách không biệt lập, nghĩa là

trong sự tiếp xúc ấy, phải được xem là một

phương ngữ địa lí - xã hội bởi chính sự tiếp xúc đã mang đến cho nó cái đặc trưng xã hội

mà tác giả đã tích hợp vào khái niệm (chúng tôi suy luận)

Nếu khi nói tiếng địa phương là nói đến

loại biến thể như một chỉnh thể toàn vẹn của

hệ thống ngôn ngữ thì khi nói giọng địa phương, người ta thường chỉ muốn nói đến

Trang 6

mặt ngữ âm (phát âm) của cái tiếng địa

phương ấy, chẳng hạn "Cô ấy nói tiếng Việt

giọng Hà Nội, ca sĩ Mỹ Tâm nói giọng Quảng

Nam" là muốn nói đến cách phát âm Hà Nội

hay cách phát âm Quảng Nam của các chủ

thể Theo Hoàng Tuệ, giọng ở đây "không

phải là một yếu tố ngữ âm đơn lẻ mà là một

tập hợp các yếu tố ngữ âm khác nhau đồng

thời xuất hiện khi phát âm và đồng thời được

tiếp nhận khi nghe" (Hoàng Tuệ 1999).

Chúng tôi hoàn toàn chia sẻ với quan điểm

này

Liên quan đến tiếng địa phương Hà Nội,

theo những cách gọi trên đây thì khi nói tiếng

Hà Nội, với tư cách là biến thể của tiếng Việt,

là nói đến một chỉnh thể với tất cả các yếu tố

của hệ thống ngôn ngữ của tiếng Việt như ngữ

âm, từ vựng, ngữ pháp, cách diễn đạt Còn

nếu dùng giọng Hà Nội là chỉ đề cập đến mặt

phát âm của tiếng Hà Nội trong quá trình

hành chức của nó mà thôi

Bên cạnh hai cách gọi trên, đây đó, tuy

không nhiều nhưng chúng ta có thể gặp các

cách dùng khác như phương ngữ Hà Nội, thổ

ngữ Hà Nội Để hiểu, trước hết cần bắt đầu từ

hai khái niệm phương ngữ và thổ ngữ.

Phương ngữ thường được các nhà ngôn ngữ

học xem là biến thể địa phương của một ngôn

ngữ Đó là cách hiểu trước đây, và theo nghĩa

hẹp Theo cách hiểu này, phương ngữ tồn tại

như một chỉnh thể bao gồm tất cả các mặt

biểu hiện của hệ thống ngôn ngữ Để làm rõ

khái niệm này, tất cả các nhà ngôn ngữ học

thường đều dùng một dấu gạch ngang để nối

các khái niệm: phương ngữ phương ngôn

-tiếng địa phương Các khái niệm này là đồng

nghĩa và các cách diễn giải về chúng, tựu

trung lại, cũng là để chỉ biến thể địa phương

của một ngôn ngữ bất kì Và vì vậy, nếu gọi

phương ngữ Hà Nội (Đinh Văn Đức 2001)

hay tiếng Hà Nội thì về bản chất cũng chỉ là

một Tuy nhiên, cách gọi phương ngữ Hà Nội

là cách gọi hiếm gặp bởi sự va chạm giữa nó

với cách gọi một vùng phương ngữ lớn hơn

mà nó thuộc về - phương ngữ Bắc Nếu coi

phương ngữ Bắc là một trong ba phương ngữ

lớn của tiếng Việt (cùng với phương ngữ

Trung và phương ngữ Nam) thì phương ngữ

Hà Nội chỉ là một vùng nhỏ thuộc phương ngữ Bắc, hay chính xác hơn, chỉ là một tiểu

phương ngữ của phương ngữ Bắc (cách dùng

của Nguyễn Văn Khang 2012) Vì sự va chạm

đó mà cách gọi tiếng Hà Nội tỏ ra thích dụng

hơn

Còn về khái niệm thổ ngữ, một số nhà

nghiên cứu giải thích rằng đây là biến thể của

hệ thống ngôn ngữ thường tồn tại trong một phạm vi không gian hẹp (có thể là huyện, xã, thậm chí là làng ) và có những đặc trưng đặc biệt so với cái phương ngữ lớn bao quanh nó hoặc cái ngôn ngữ mà nó là biến thể Những

đặc trưng này thường thể hiện ở việc phát âm mang tính đặc thù riêng cho một địa phương

nhỏ, còn gọi là thổ âm (Nguyễn Văn Khang

2012), và có thể có một số từ ngữ riêng, cũng

có thể khác xa hơn so với cái biến thể được

coi là phổ dụng Chẳng hạn, có thể gọi thổ

ngữ Nghi Lộc (huyện, thuộc Hà Tĩnh), thổ ngữ Cổ Nhuế (xã, thuộc Hà Nội), thổ ngữ Triều Khúc (làng, thuộc Hà Nội), Với cách

hiểu như vậy, có lẽ việc dùng thổ ngữ Hà Nội

sẽ là không hợp lí do tiếng Hà Nội không mang trong nó những đặc điểm mà người ta vẫn thường thấy ở các thổ ngữ Tuy nhiên,

ngay trên địa bàn Hà Nội, có thể thấy sự tồn

tại khá điển hình của một số thổ ngữ như Cổ Nhuế (xã, thuộc Từ Liêm), Sơn Tây (thị xã, thuộc Hà Tây cũ), Bát Tràng (xã, thuộc Gia Lâm), Triều Khúc (xã, thuộc Từ Liêm),

Thượng Cốc (xã, thuộc Hà Tây cũ)

Tựu trung lại, với tất cả những luận giải

trên đây, chúng tôi chọn một cách gọi phổ

dụng hơn cả, dễ chấp nhận hơn cả để định danh cho cái biến thể của tiếng Việt được sử dụng trong cộng đồng cư dân Hà Nội - đó là

tiếng Hà Nội.

3.2 Về hai khái niệm: tiếng Hà Nội và

người Hà Nội

Nếu nhìn tiếng Hà Nội như một phương

ngữ địa - xã hội, chúng ta sẽ thấy không có

Trang 7

một thứ tiếng Hà Nội nào chung chung mà chỉ

có một thứ tiếng Hà Nội gắn liền với địa bàn

và cũng gắn liền với dân cư Hà Nội/hay người

Hà Nội Thực tế đã tồn tại ba xu hướng khác

nhau trong quan niệm về tiếng Hà Nội.

Xu hướng thứ nhất quan niệm tiếng Hà

Nội chỉ là tiếng nói của cư dân gốc nội thành

Hà Nội Với tư cách là một thành phố, một

thủ đô, Hà Nội có nội thành và có ngoại

thành Theo truyền thống thì nội thành chỉ

giới hạn ở khu vực 36 phố phường Nhà văn

Tô Hoài, một người vốn sinh trưởng ở Hà

Nội, cho rằng cần phân biệt rất rõ giữa "tiếng

bờ hồ Hoàn Kiếm và chợ Đồng Xuân" với

tiếng ở các vùng ngoại ô bởi sự hình thành và

nguồn gốc tạo nên tiếng nói làm cho giọng

nói hai vùng này hoàn toàn khác nhau Ông

cho rằng "Tiếng bờ hồ Hoàn Kiếm là tiếng Hà

Nội còn tiếng ngoại ô là tiếng các làng" (Tô

Hoài 2001) Theo ông, tiếng Hà Nội là tiếng

nói của khu vực 36 phố phường, là tiếng Kẻ

Chợ mà vùng Kẻ Chợ chỉ là khu vực thương

mại sầm uất xung quanh hồ Gươm, vùng ven

bờ sông Hồng mà thôi

Chia sẻ với quan điểm này là ý kiến của

Lưu Hữu Phước với sự phân biệt cách nói

(chủ yếu là cách phát âm) ở trong thành phố

Hà Nội và vùng ngoại ô cũ Bên cạnh việc

phân tích những khác biệt trong cách phát âm

một số âm đầu, về thanh điệu, ông nhấn mạnh

"Trong thành phố Hà Nội và ngoại ô cũ, ngay

một số làng phía tây bắc, cách đây vài mươi

năm, còn phát âm dấu sắc, dấu huyền không

giống ở bờ hồ Hoàn Kiếm và chợ Đồng

Xuân" (Dẫn theo Tô Hoài 2001) Nguyễn Kim

Thản cũng cho rằng "một số điểm thuộc ngoại

thành ngày nay, bà con có giọng nói khác với

giọng ở nội thành" (Nguyễn Kim Thản 1982)

và chỉ có giọng nội thành, theo tác giả, mới

thực sự là tiếng Hà Nội

Xu hướng thứ hai xem tiếng Hà Nội là sự

hội tụ của bốn phương, hay là sự tiếp xúc giữa

các vùng phương ngữ Đây là một cách nhìn

động, linh hoạt, có sự tương hợp với quan

niệm với địa bàn Hà Nội và theo đó là quan

niệm về dân cư Hà Nội hay người Hà Nội theo thời gian - lịch sử Quan niệm được một

số nhà ngôn ngữ học chia sẻ

Nguyễn Văn Khang đi tìm câu trả lời cho

câu hỏi "Liệu có tồn tại khái niệm tiếng Hà

Nội trong thời hiện đại hay không?" Và để trả

lời câu hỏi này, tác giả đã đặt cái gọi là tiếng

Hà Nội trong hàng loạt các mối quan hệ.

Trong quan hệ với các phương ngữ Bắc

-Trung - Nam thì tiếng Hà Nội rất gần, gần đến

mức gần như đồng nhất với tiếng Bắc

(phương ngữ Bắc) Trong quan hệ với các tiểu phương ngữ thuộc phương ngữ Bắc, theo tác

giả, tiếng Hà Nội là một thứ tiếng mà ở đó

vắng bóng những biến thể ngữ âm đặc thù ở một số địa phương Bắc Bộ kiểu: phát âm thanh huyền cao hơn 1 bậc và có sự gần gũi giữa thanh nặng với thanh huyền (tiếng Sơn Tây); hay có sự lẫn lộn [l] với [n], phát âm [ε] thành [iε] (các vùng Bắc Ninh, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định ) Trong quan hệ với tiếng Việt toàn dân, tác giả có xu

hướng thiên về việc đồng nhất hai khái niệm

này Bằng chứng mà tác giả đưa ra là trong cố gắng để xây dựng một thứ tiếng Việt siêu

phương ngữ, hay tiếng Việt chuẩn mực, nhiều người đã đưa vào tiếng Hà Nội một số nét tích

cực của các phương ngữ khác nhưng không thành Kết quả là, thứ tiếng Việt được coi là

"chuẩn" nhất, tức là thứ tiếng Việt trên Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Phát thành Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Hà Nội

được nói giống nhau và giống với tiếng Hà

Nội, nghĩa là không dung nạp những yếu tố

"tích cực" được đưa vào nhằm xây dựng một thứ tiếng Việt chuẩn với cách phát âm giống với chính tả của tiếng Việt hiện đại Mối quan

hệ cuối cùng, mà chúng tôi cho là mối quan

hệ quan trọng nhất làm nên quan điểm của tác

giả về tiếng Hà Nội là quan hệ giữa tiếng Hà

Nội với địa lí - dân cư Hà Nội Trong mối

quan hệ này, tác giả cho rằng "tiếng Hà Nội

phải gắn với địa lí - dân cư Hà Nội theo phân

kì lịch sử" (Nguyễn Văn Khang 2001) Chúng

tôi hiểu điều đó có nghĩa là, tiếng Hà Nội

Trang 8

ngày nay phải gắn với địa lí - dân cư Hà Nội

ngày nay, là tiếng nói của cư dân Hà Nội ngày

nay Mà địa lí - dân cư Hà Nội, theo tác giả là

cả "những vùng đất mới với những con người

mới ở vùng mở rộng Hà Nội", là cả "những cư

dân mới từ các nơi khác (cả trong nước và

nước ngoài) đến sống và làm việc lâu dài hay

tạm thời tại Hà Nội" (Nguyễn Văn Khang

2012) Xét một cách tổng thể thì ở đây, tác giả

có đôi chút tự mâu thuẫn khi trước đó, trong

mối quan hệ giữa tiếng Hà Nội với các tiểu

phương ngữ của phương ngữ Bắc, đã cho rằng

trong tiếng Hà Nội không có những biến thể

ngữ âm đặc thù địa phương như kiểu "phát

âm thanh huyền cao hơn 1 bậc và có sự gần

gũi giữa thanh nặng với thanh huyền" trong

tiếng Sơn Tây (đã dẫn ở trên) trong khi Sơn

Tây hiện thuộc Hà Nội, và người Sơn Tây,

theo cách lập luận trên đây, là người Hà Nội ở

"vùng mở rộng" (từ mà tác giả dùng) Tuy

nhiên, chúng tôi hiểu điều mấu chốt mà tác

giả muốn thể hiện ở đây là tính chất mở trong

quan điểm của mình, đó là coi tiếng Hà Nội là

tiếng Việt của cộng đồng cư dân Hà Nội ngày

nay, là kết quả của quá trình cộng cư và tiếp

xúc

Có thể thấy, hai xu hướng trên đây tồn tại

như hai trạng thái rất khác biệt Xu hướng thứ

nhất thì chặt chẽ và có phần cực đoan theo

kiểu hồi cố Xu hướng thứ hai thì thoáng, mở

và động hơn Theo đó, "những vùng đất mới

với những con người mới ở vùng mở rộng Hà

Nội, hay những cư dân mới từ các nơi khác

(cả trong nước và nước ngoài) đến sống và

làm việc lâu dài hay tạm thời tại Hà Nội" đều

là người Hà Nội và tiếng nói của họ đều là

tiếng Hà Nội (Nguyễn Văn Khang 2012).

Như vậy, chẳng hạn, tiếng Sơn Tây, trước

2008 là tiếng Sơn Tây, sau 2008 là một biến

thể của tiếng Hà Nội Cũng vậy, một người

Nghệ, người Huế hay người Nam Bộ đến sinh

sống ở Hà Nội, có thể mới đến hay đến đã lâu,

đều có thể coi là người Hà Nội, và theo

nguyên lí bắc cầu thì tiếng nói của họ cũng có

thể gọi là tiếng Hà Nội, hay chính xác hơn là

một biến thể của tiếng Hà Nội Hi vọng sự suy diễn này không đi quá xa khỏi những phân tích và hàm ý của tác giả Và rất có thể, chính

điều này đã gây ra sự tự mâu thuẫn mà chúng tôi đã phỏng đoán trên đây

Lập luận này khiến chúng tôi thấy cần tìm

đến một xu hướng dung hòa hơn, như một

chiếc cầu nối hai xu hướng đóng và mở, tĩnh

và động, hồi cố và hướng tương lai nói trên

Không ủng hộ sự hồi cố về một thứ tiếng Hà

Nội của ngày xưa, cũng không thiên hẳn về

cách nghĩ cho tiếng Hà Nội là tiếng nói của tất

cả những ai hiện đang sinh sống ở Hà Nội,

trên địa phận Hà Nội được xác định ranh giới

lần cuối cách đây ít năm (2008) tính đến thời

điểm hiện tại, xu hướng trung dung này có điểm tựa là một quan sát trường hợp của Đinh Văn Đức tại hai xóm nhỏ mà ông đã ở Tác

giả cho rằng có một thứ tiếng nói Hà Nội "cũ" thuộc thế hệ thứ nhất và thứ hai với đặc trưng

là "phát âm rất nhẹ, khoan thai, các thanh có

độ trầm bổng rất rõ " và một thứ tiếng Hà

Nội "mới" của các thế hệ thứ ba và thứ tư (kể

cả con em của các gia đình mà bố mẹ chúng

đến Hà Nội từ các vùng phương ngữ khác)

Cái tiếng Hà Nội "mới" ấy "trong khi kế thừa

rất tốt cái phương ngữ Hà Nội vốn có, đã lặng lẽ có những biến đổi tinh tế trong giọng nói và lối nói tạo nên một thứ tiếng Hà Nội thời nay" kế thừa và chuyển tiếp từ tiếng Hà

Nội cũ (Đinh Văn Đức 2001) Hai thứ tiếng

ấy giống và khác nhau trong một sự liên tục Điểm mấu chốt, và sẽ là cảm hứng cơ bản cho

quan niệm về tiếng Hà Nội của chúng tôi thể

hiện qua bài viết này, là ở quan sát của tác giả

đối với tiếng nói của thế hệ thứ ba và thứ tư

tại cả hai xóm mà ông đã ở (xin xem thêm

Đinh Văn Đức 2001) Theo đó, có một thực tế

khách quan tồn tại bên ngoài ý chí chủ quan của con người, không chịu tác động của bao

nhiêu thăng trầm, bao nhiêu xáo trộn trong cơ

cấu cư dân Hà Nội, đó là tất cả các thế hệ đã

"sinh ra, lớn lên, đến trường và thành người

lớn" ở Hà Nội thì đều nói cùng một thứ tiếng

giống nhau mà chỉ thoạt nghe, bằng cảm thức

Trang 9

của người bản ngữ, ai cũng nhận ra ngay đó là

tiếng Hà Nội Ngay cả khi những bậc sinh

thành của những thế hệ ấy sinh ra và lớn lên ở

Hà Nội hay ở bất kì một địa phương nào khác

Nghĩa là trẻ con, dù có bố mẹ đến Hà Nội từ

mọi miền đất nước nhưng khi chúng đã sinh

ra và trưởng thành ở Hà Nội thì chúng sẽ

không nói tiếng của cha mẹ chúng mà nói

tiếng Hà Nội Theo tác giả "Đời sống của

ngôn ngữ xã hội Hà Nội mạnh mẽ đã tạo ra

một áp lực trong giao tiếp khiến cho mọi

thành viên thuộc thế hệ thứ ba và thứ tư này

được cuốn hút vào đó và chính sự tham gia

của họ sẽ tăng cường thêm tính ổn định và

bền vững của tiếng Hà Nội mới".

Chia sẻ với quan sát trên đây, theo quan

điểm của Vũ Bá Hùng, trải qua nhiều biến

động của lịch sử tiếp xúc và hội tụ cư dân,

tiếng Hà Nội vẫn giữ được sắc thái riêng và

"trong các gia đình cán bộ từ các miền đất

nước đến thủ đô, thế hệ thứ hai đều nói tiếng

Hà Nội Các cháu được sinh ra và lớn lên ở

Hà Nội Từ tuổi mầm non đến tuổi học đường,

môi trường giáo dục nhà trường và giao tiếp

xã hội đã tạo cho giọng nói của các cháu

khác với giọng nói của bố mẹ Đó là giọng nói

người Hà Nội, mặc dù sự giao tiếp trong

sinh hoạt gia đình vẫn diễn ra một cách bình

thường và tự nhiên" (Vũ Bá Hùng 2001).

Theo quan sát, cảm nhận và đặc biệt là

những trải nghiệm của chúng tôi, sự khẳng

định trên đây phản ánh một thực tế khách

quan, phổ biến, và dường như không có ngoại

lệ Thực tế này cũng cho thấy môi trường giao

tiếp trong cộng đồng cư dân Hà Nội đã tạo

cho tất cả những ai sinh ra và lớn lên ở Hà

Nội một thứ tiếng nói chung, đặc trưng cho

mảnh đất này, đó là tiếng Hà Nội, bất kể họ

sinh ra vào thời điểm nào, cách đây nhiều thế

kỉ, nhiều thập kỉ hay chỉ mới vài năm, bất luận

cha mẹ họ là ai, từ đâu đến, nói tiếng địa

phương nào Và theo cách nhìn ấy, hai khái

niệm tiếng Hà Nội và người Hà Nội đã xác

định lẫn nhau, tạo nội hàm cho nhau và cùng

tồn tại Đó cũng là lí do vì sao ban đầu chúng

tôi định đặt hai khái niệm này ở hai mục riêng nhưng rồi thực tế quan sát, cảm nhận, có cả sự

sẻ chia cùng những người đi trước đã như một lực hút kéo chúng lại với nhau và buộc chúng tôi phải chấp nhận việc thao tác hóa khái niệm một cách hơi thiếu rạch ròi

4 Thay cho kết luận

Trở lên, chúng tôi đã trình bày một số vấn

đề, có thể là hơi ngược về trình tự, nhưng lí do

của nó liên quan đến mạch tư duy và mối quan hệ liên đới giữa các vấn đề, các khái niệm với nhau Chẳng hạn, sẽ là ngược với

logic thông thường nếu chưa nói về tiếng Hà Nội mà đã nói về tiếng Hà Nội đô thị và tiếng

Hà Nội nông thôn Tuy vậy, để nói về tiếng

Hà Nội, trước hết phải nói về không gian định

vị khái niệm này - đó là địa bàn Hà Nội

Nhưng, liên quan đến địa bàn Hà Nội và

những bàn luận không thể không đề cập về vấn đề này là việc định vị hai loại không gian

đặc thù của nó là nội đô (nội thành - đô thị) và

ngoại ô (ngoại thành - nông thôn) Như đã trình bày, đây là hai không gian dung chứa hai dạng biến thể của tiếng Hà Nội theo nghĩa

rộng của khái niệm này, đó là tiếng Hà Nội đô

thị và tiếng Hà Nội nông thôn.

Trở lại với vấn đề mấu chốt mà bài viết

này đặt ra để thảo luận, cũng là câu trả lời

ngắn gọn cho câu hỏi: Người Hà Nội là ai? Tiếng Hà Nội là thứ tiếng như thế nào? Câu trả lời chung cuộc (cho quan điểm của chúng

tôi) sẽ là: Người Hà Nội là tất cả những ai đã

sinh ra và lớn lên ở Hà Nội (Hà Nội theo nghĩa bao gồm toàn bộ không gian hành chính của nó cho đến hôm nay) Và, tiếng nói của

người Hà Nội sẽ là tiếng Hà Nội Đến lượt

mình, tiếng nói của người Hà Nội ở khu vực phố phường Hà Nội, tương ứng tương đối với

khu vực nội thành hiện nay, là tiếng Hà Nội

đô thị Và, tiếng nói của người Hà Nội ở khu

vực nông thôn, tương ứng tương đối với khu vực nông thôn Hà Nội hiện nay5, là tiếng Hà

5 Chúng tôi dùng cụm từ "tương ứng tương đối" bởi một lẽ, nhìn một cách lịch đại thì không gian đô thị Hà Nội có một cái lõi ổn

Trang 10

Nội nông thôn Nếu tiếng Hà Nội đô thị là

một thực thể khá thuần nhất và ổn định thì

tiếng Hà Nội nông thôn là một thực thể đa

dạng, linh hoạt, đầy biến động và cũng đầy

màu sắc Chúng luôn tồn tại bên nhau, ảnh

hưởng, tác động lẫn nhau và có thể có những

biến đổi qua thời gian theo những quy luật

vận động khách quan của ngôn ngữ gắn liền

với cái xã hội và cái không gian tồn tại của

chúng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Vũ Kim Bảng (2007), Tên gọi địa lí

hành chính và không gian địa lí thủ đô Hà Nội

theo dòng lịch sử, trong "Ngôn ngữ văn hóa Hà

Nội", Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội

2 Vũ Kim Bảng và đồng sự (2010), Khảo

sát ngữ âm tiếng Hà Nội, Đề tài KHCN cấp Bộ,

Viện Ngôn ngữ học, Viện Hàn lâm Khoa học

Xã hội Việt Nam

3 Nguyễn Bắc & Nguyễn Vinh Phúc

(2000), Hà Nội - phố, làng - biên niên sử, Nxb

Hà Nội, Hà Nội

xét về "tiếng Hà Nội" qua hai xóm mà tôi đã ở,

Ngôn ngữ và văn hóa 990 năm Thăng Long

-Hà Nội, Nxb Văn hóa Thông tin, -Hà Nội

- sự hội tụ của bốn phương, tinh hoa của một

nền văn hóa, Ngôn ngữ và văn hóa 990 năm

Thăng Long - Hà Nội, Nxb Văn hóa Thông tin,

Hà Nội

6 Hoàng Văn Hành (2004), Tiếng Hà Nội

từ góc nhìn ngôn ngữ - văn hóa học, Tiếng Hà

Nội trong mối quan hệ với tiếng Việt và văn hóa

Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội

này bền vững qua nhiều thời đại Hạt nhân này gần như tương ứng

với 4 quận nội thành cũ Tuy nhiên, trong quá trình mở rộng, Hà

Nội đã thành lập thêm một số quận mới là sự tích hợp một số

phường thuộc các quận cũ với một số xã thuộc các huyện ven đô.

Về mặt hành chính, các quận mới đó cũng có thể coi là các quận

nội thành nhưng nếu nói tiếng nói của cư dân các quận đó là tiếng

Hà Nội đô thị thì hình như không dễ dàng được chấp nhận ngay.

Chẳng hạn, sẽ là hơi lạ tai nếu tiếng nói của cư dân quận Long

Biên (huyện Gia Lâm cũ), quận Cầu Giấy (những vùng thuộc

huyện Từ Liêm cũ) là tiếng Hà Nội đô thị Với điểm nhìn phương

ngữ học, chúng tôi cho rằng các vùng này giống như những vùng

chuyển tiếp giữa tiếng Hà Nội nông thôn và tiếng Hà Nội đô thị, ở

đó, có những vùng thuộc cái lõi ổn định cũ và có những vùng mới

nhập về sau, nhưng hiện tại, về mặt hành chính, không thể tách

7 Lã Minh Hằng (2001), Tìm về địa danh

Hoàn Long, Ngôn ngữ và văn hóa 990 năm

Thăng Long - Hà Nội, Nxb Văn hóa Thông tin,

Hà Nội

8 Tô Hoài & Nguyễn Vinh Phúc (2000),

Hỏi đáp 1000 năm Thăng Long Hà Nội, Nxb

Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh

9 Tô Hoài (2001), Tiếng Hà Nội, Ngôn

ngữ và văn hóa 990 năm Thăng Long - Hà Nội,

Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội

10 Vũ Bá Hùng (2001), Bản sắc và tính

chắt lọc trong giọng nói của người Hà Nội,

Ngôn ngữ và văn hóa 990 năm Thăng Long

-Hà Nội, Nxb Văn hóa Thông tin, -Hà Nội

11 Nguyễn Văn Khang (2001), Về khái

niệm "tiếng Hà Nội", Ngôn ngữ và văn hóa 990

năm Thăng Long - Hà Nội, Nxb Văn hóa Thông

tin, Hà Nội

12 Nguyễn Văn Khang (2012), Ngôn ngữ

học xã hội, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

13 Trịnh Cẩm Lan (2007), Sự biến đổi

ngôn từ của các cộng đồng chuyển cư đến thủ

đô (Nghiên cứu trường hợp cộng đồng Nghệ

Tĩnh tại Hà Nội), Nxb KHXH, Hà Nội.

14 Trần Huy Liệu (2000), Lịch sử thủ đô

Hà Hội, Nxb Hà Nội, Hà Nội.

15 Nguyễn Thị Kim Loan (2012), Sự biến động của ngôn ngữ ở đô thị Việt Nam, Luận án

Tiến sĩ Ngôn ngữ học, Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội

16 Nguyễn Kim Thản (1982), Lời ăn tiếng

nói của người Hà Nội, Nxb Hà Nội, Hà Nội.

17 Lê Quang Thiêm (2007), Tiếp tục đẩy

tới việc nghiên cứu tiếng Hà Nội, trong "Ngôn

ngữ và văn hóa Hà Nội", Hội Ngôn ngữ học Hà Nội, Hà Nội

18 Hoàng Đạo Thúy (1975), Phố phường

Hà Nội xưa, Nxb Thăng Long, Hà Nội.

19 Hoàng Tuệ (1999), Những vấn đề phát

âm tiếng Việt, Ngôn ngữ phương tiện thông tin

đại chúng, TP Hồ Chí Minh

20 Trần Quốc Vượng & Vũ Tuấn San

(1975), Hà Nội nghìn xưa, Sở Văn hóa &

Thông tin Hà Nội, Hà Nội

21 Trần Quốc Vượng (2006), Thăng Long

- Hà Nội, tìm tòi và suy ngẫm, Nxb Văn hóa

Thông tin, Hà Nội

Từ khóa » Nguồn Gốc Tiếng Nói Người Hà Nội