TIỂU KINH SƯ TỬ HỐNG - Bhik Samādhipuñño Định Phúc

11193382_10152964802978386_8353036276407129740_n

  1. GIỚI THIỆU

Như tiếng rống của sư tử trong rừng sâu khiến muôn thú run rẩy, im lặng; Cũng vậy, giáo lý Phật giáo nói lên sự thật khiến ngoại đạo run rẩy, im lặng.

Có khi đức Phật khuyên các vị Tỷ-kheo rống tiếng rống con sư tử trong khi thuyết pháp, tức đức Phật muốn nhấn mạnh một vấn đề mà các ngoại đạo đều hoảng hốt, lông tóc dựng ngược. Đấy là nội dung được đề cập trong bản kinh số 11 này.

  1. TOÁT YẾU BÀI KINH

Đức Phật tuyên bố rằng: chỉ trong Giáo pháp mà Ngài thuyết giảng mới có thể tìm thấy bốn cấp bậc Thánh chúng, tức là đệ nhất sa-môn, đệ nhị sa-môn, đệ tam sa-môn và đệ tứ sa-môn. Sau đó, Ngài giải thích giáo lý mà Ngài thuyết giảng khác với các tôn giáo khác ở chỗ độc đáo phủ nhận tất cả kiến chấp về bản ngã như thế nào.

  1. GIẢI THÍCH TỪ NGỮ

1. Sāvatthi (Xá-vệ): Kinh thành của vương quốc Kosala, và là một trong sáu kinh thành lớn ở Ấn Độ vào thời đức Phật.

Sāvatthi được mang tên như vậy vì trong kinh thành có Hiền giả Savattha an trú.  Truyền thuyết khác nói rằng trước đó tại đây có một chỗ trọ qua đêm cho các đoàn xe đi buôn; lúc gặp nhau các thương buôn thường hỏi nhau họ có cái gì “Kiṃ bhandaṃ atthi?” – “Sabbaṃ atthi” – và tên của thành phố được gọi dựa trên câu trả lời.

Thế Tôn thường an trú tại Sāvatthi như là một nơi hoằng Pháp chính của Ngài.  Trưởng giả Anāthapiṇḍika là người thỉnh Ngài đến đây lần đầu tiên. Sau đó Ngài an cư kiết hạ 25 lần tại Sāvatthi, 19 mùa trong Jetavana và 6 mùa trong Pubbārāma do tín nữ Visākhā kiến tạo và cúng dường.

Theo một thống kê, có 871 bài kinh được thuyết tại Sāvatthi, trong đó:

  • 844 trong Jetavana,
  • 23 trong Pubbārāma,
  • và 4 ở ngoại thành Sāvatthi;

Bao gồm:

  • 6 kinh thuộc Trường Bộ,
  • 75 kinh thuộc Trung Bộ,
  • 736 kinh thuộc Tương Ưng,
  • và 54 kinh thuộc Tăng Chi.
  1. Jetavana (Kỳ viên hay Kỳ-đà lâm) do Trưởng giả Anāthapiṇḍika mua lại từ khu vườn của Thái Tử Jeta gần thành Sāvatthi dâng cho đức Phật. Tại đây Ngài đã nhập hạ 19 lần và nhiều bài Kinh quan trọng đã được Thế Tôn thuyết ra.

Vì Trưởng giả Anāthapiṇḍika đã dùng vàng lót trên mặt đất để mua cho được khu vườn theo lời thách của Thái Tử Jeta, nên chùa này còn được gọi là Bố Kim Tự (chùa trải vàng).

Được biết Trưởng giả Anāthapiṇḍika trả 180 triệu cho khu vườn và Jeta dùng hết số tiền này để xây cổng rồi cúng dường lại cho Jetavana. Còn Anāthapiṇḍika chi tất cả 540 triệu cho việc trải vàng mua đất và xây cất.

  1. Sa-môn thứ nhất, tức là bậc Dự Lưu, Nhập Lưu, cũng gọi là Tu-đà-huờn (Sotāpanna).
  2. Sa-môn thứ hai, tức là bậc Nhất Lai, cũng gọi là Tư-đà-hàm (Sakadāgāmi).
  3. Sa-môn thứ ba, tức là bậc Bất Lai, cũng gọi là A-na-hàm (Anāgāmi).
  4. Sa-môn thứ tư, tức là bậc Ứng Cúng, cũng gọi là A-la-hán (Arahanta).
  5. Pháp hữu (Sahadhamīkā), chỉ cho các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, các vị tập sự, Sa-di, Sa-di-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ.
  6. Cứu cánh (niṭṭhā), mục tiêu tối hậu. Cứu cánh đa diện của ngoại đạo như Brahmaloka (Phạm thiên giới) là cứu cánh của Bà-la-môn, Ābhassārā(Quang âm thiên) cho các vị tu khổ hạnh,  Subhakiṇhā(Biến tịnh thiên) cho các du sĩ, nhưng trong giáo pháp này, cứu cánh là A-la-hán.
  7. Chấp thủ (upādāna), là sự thích thú một cách khắn khít, chặt chẽ; chấp nê một mù quáng.
  8. Thuận ứng (anuruddha), chịu áp lực bởi tham ái.
  9. Nghịch ứng (paṭiviruddha), chịu chi phối bởi sân hận.
  10. Ưa hý luận, thích hý luận (papañcārāmassa papañcaratino), là đồng nghĩa với tham dục, tà kiến và kiêu mạn.
  11. Hữu kiến (bhavadiṭṭhi), chấp vào cái có, còn gọi là thường kiến, tức là ý kiến tin rằng chẳng có sự thay đổi, hễ đã là người rồi thì chết đi, lại sanh ra làm người nữa.
  12. Phi hữu kiến (vibhavadiṭṭhi), chấp vào cái không, còn gọi là đoạn kiến, tức là ý kiến tin rằng con người sau khi chết là không có linh hồn tồn tại đời sau, nghĩa là mất hẳn.
  13. PHÂN TÍCH CHI PHÁP
  • Bốn hạng sa-môn
  • Bốn pháp quyết định
  • Hai loại tà kiến
  • Những điều cần biết về các pháp
  • Sự khác biệt giữa Phật giáo và các tôn giáo khác
  • Bốn sự chấp thủ
  • Tập khởi của sự chấp thủ

4.1. Bốn hạng sa-môn

  1. Sa-môn thứ nhất, tức là bậc Dự Lưu, Nhập Lưu, cũng gọi là Tu-đà-huờn (Sotāpanna). Tức là vị đã đắc sơ quả, tuyệt trừ ba kiết sử: Thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ.

Bậc thánh Nhập lưu không còn tái sinh trong 4 cõi ác giới: địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sanh.

Chỉ còn phải tái sinh làm người hoặc làm chư thiên cõi trời dục giới nhiều nhất 7 kiếp nữa. Đến kiếp thứ 7, thì chắc chắn sẽ chứng đắc A-la-hán, rồi tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt sự tử sinh luân hồi trong tam giới.

  1. Sa-môn thứ hai, tức là bậc Nhất Lai, cũng gọi là Tư-đà-hàm (Sakadāgāmi), tức cácvị đã đắc nhị quả, đã giảm trừ hai kiết sử là dục ái và sân.

Các ngài chỉ còn tái sinh làm người hoặc làm chư thiên 1 kiếp nữa. Ngay trong kiếp ấy sẽ chứng đắc A-la-hán, rồi tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt sự tử sinh luân hồi trong tam giới.

  1. Sa-môn thứ ba, tức là bậc Bất Lai, cũng gọi là A-na-hàm (Anāgāmi), tức cácvị đã đắc tam quả, tuyệt trừ hẳn hai kiết sử dục ái và sân.

Bậc Thánh Bất lai không còn tái sinh trở lại cõi dục giới, chỉ tái sinh lên cõi sắc giới (hoặc cõi vô sắc giới) rồi sẽ trở thành bậc Thánh A-la-hán tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt tử sinh luân hồi trong ba giới bốn loài.

  1. Sa-môn thứ tư, tức là bậc Ứng Cúng, cũng gọi là A-la-hán (Arahanta), tức cácvị đã đắc tứ quả, tuyệt trừ năm kiết sử còn lại là ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật và vô minh; một bậc thánh hoàn toàn thanh tịnh, đoạn diệt tất cả phiền não dù thô hay tế, vị đã đặt xuống mọi gánh nặng, không còn sự luân hồi sanh tử. “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.”

4.2. BỐN PHÁP QUYẾT ĐỊNH

  1. Lòng tín thành đối với bậc Đạo sư – satthari pasādo.
  2. Lòng tín thành đối với Pháp – dhamme pasādo.
  3. Sự thành tựu viên mãn trong các giới luật – sīlesu paripūrakārino.
  4. Và những pháp hữu khả ái, khả ý, tại gia và xuất gia kính mến – sahadhammikā piyā manāpā gahaṭṭhā ceva pabbajitā ca.

Saddhā là niềm tin, sự tin tưởng; Pasāda là lòng tịnh tín, sự tín thành.

Saddhā có hai nghĩa: Một là tất cả niềm tin nào ở trong đời, chỉ cần mình có niềm tin thôi. Chữ Saddhā này từ cái chữ tiếng Pāli là saddahati là sự tin tưởng.

Còn chữ Pasāda có nhiều nghĩa là niềm tịnh tín, chữ Pasāda có nghĩa là trong sạch, làm cho tin tưởng, nó từ chữ Pāli là pasādeti có nghĩa là chọn ra để mà tin.

Người Phật tử tin rằng Đức Phật là bậc giác ngộ hoàn toàn về ba phương diện: tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, có trí tuệ và phương tiện thiện xảo, Đức Phật có thể dìu dắt chúng sinh ra khỏi vòng vô minh lầm lạc, đạt đến an lạc, cứu cánh Niết bàn.

Người Phật tử tin rằng Phật pháp là chân lý mà Đức Phật đã thân chứng, là phương pháp diệt khổ, là con đường đưa đến an lạc giải thoát

Chánh pháp mà Đức Phật đã giác ngộ, Ngài có khả năng đặc biệt chế định ra ngôn ngữ để giáo huấn chúng sinh cho hiểu biết rõ và thực hành đúng theo lời dạy của Ngài; để đem lại sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an lạc trong kiếp hiện tại, những kiếp vị lai và đặc biệt đạt đến cứu cánh Niết Bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam giới..

4.3. Hai loại tà kiến

“Micchā passatīti = diṭṭthi: Thấy sai lệch (với chân pháp), gọi là (tà) kiến.”

Tà kiến là nhìn thấy các pháp ấy trái ngược lại, như vô thường cho là thường, khổ cho là lạc, vô ngã cho là ngã, không trong sạch cho là trong sạch.

Hữu kiến (bhavadiṭṭhi), chấp vào cái có, còn gọi là thường kiến – sassatadiṭṭhi, cho rằng: Có một thực thể thường hằng không thay đổi, không biến hoại”.

“Con người có một linh hồn (tự ngã) luôn luôn tồn tại, nếu kiếp này là người thì kiếp sau cũng là người, linh hồn này không bị hoại diệt…”

Thường kiến còn được gọi là “nắm giữ cái có” (chấp hữu), thông thường chúng sanh cho rằng “có một cái thức thường hằng”.

Chữ sassata = sa + sata. Sata là suy nghĩ, chú tâm, sassata là “có (một) cái thức”. Tức là cho thức không hề biến đổi, hay “có một cái thức” là chủ tể (nātho) của thân xác này, thức ấy không hề bị hoại diệt.

Từ ý nghĩ “có một thực thể thường hằng”, nảy sinh quan điểm: “Có vị Thượng đế thường hằng” hay “có một tự ngã (atta) thường hằng”.

Nói cách khác, thường kiến là tin tưởng “có một thực thể (nào đó) không hề thay đổi (thực thể ở đây nên hiểu là pháp hữu vi)”.

Phi hữu kiến (vibhavadiṭṭhi), chấp vào cái không, còn gọi là đoạn kiến – ucchedadiṭṭhi, cho rằng: “Chúng sanh sau khi mệnh chung là hoại diệt, không còn lại cái chi cả”.

Có ba loại đoạn kiến:

– Vô hành kiến (akiriyadiṭṭhi). – Vô nhân kiến (ahetukadiṭṭhi). – Vô hữu kiến (natthidiṭṭhi).

– Vô hành kiến (akiriyadiṭṭhi) cho rằng mọi hành động tốt xấu đều không để lại hậu quả.

“Chúng sanh và thế giới này ngẫu nhiên hình thành, không có nguyên nhân nào tạo ra cả”.

“Sự thành công hay thất bại là do năng lực trong hiện tại, không do nhân của nghiệp nào trong quá khứ hay trong đời này cả”.

Chúng sanh sau khi chết thì hoại diệt”, nên những hành động trong kiếp sống này chỉ là “một sinh hoạt đơn thuần”, tức là bất kỳ hành động nào của thân, ngữ hay ý đều không có tính chất “tội hay phước”. Tội hay phước chỉ là quan niệm của thế tục, kết quả của “tội” hay “phước” chỉ có giá trị trong kiếp sống hiện tại theo qui định của thế gian.

– Vô nhân kiến (ahetukadiṭṭhi) – cho rằng mọi thứ ngẫu nhiên mà có .

“Chúng sanh và thế giới này ngẫu nhiên hình thành, không có nguyên nhân nào tạo ra cả”.

“Sự thành công hay thất bại là do năng lực trong hiện tại, không do nhân của nghiệp nào trong quá khứ hay trong đời này cả”.

– Vô hữu kiến (natthidiṭṭhi) – phủ nhận mọi thứ mình không thấy được.

“Không có nhân, không có quả nghiệp chi cả”.

Bố thí không có phước. Không có nghiệp, không có quả dị thục của nghiệp. Không có cha mẹ. Đời này cũng không có. Đời sau cũng không có. Không có chúng sanh là hạng Hóa sanh như Chư thiên, ngạ quỷ… Không có hạng Sa-môn, Bà-la-môn đắc chứng pháp chi cả, không có ai biết được đời trước hay đời sau.

Lý vô ngã (anatta) chỉ xuất hiện trong thời có Giáo pháp của Đức Phật qua trí tuệ của vị Chánh đẳng giác, cái sự sống (tồn tại) được Đức Phật minh giải qua lý duyên khởi. Tức là sự sống ấy vốn có, nhưng nó không thường cũng không đoạn, nó hiện hữu nhờ có nhân duyên, khi hết nhân duyên thì nó diệt, nhường bước cho sự sống khác sinh lên.

Ví như ngọn lửa cháy nhờ có nhiên liệu, nhiên liệu còn, ngọn lửa còn, thay đổi nhiên liệu thì ngọn lửa thay đổi, khi nhiên liệu hết, ngọn lửa tắt. Nhiên liệu ví như nhân duyên, ngọn lửa ví như sự sống.

Đã là chân lý thì chỉ có một. Giữa khi ngoại đạo chủ trương hữu kiến (chấp thường), hoặc phi hữu kiến (chấp đoạn) thì Phật giáo vượt ra khỏi thường đoạn (không chấp hữu, không chấp vô) mà tuyên bố sự thật là “Trung đạo”, hay Duyên khởi.

Ngoại đạo do vì vướng vào chấp thường, đoạn mà không thể có tuệ tri về sự tập khởi và sự đoạn diệt của hai loại tri kiến ấy. Họ cũng không thể tuệ tri vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi các tri kiến nọ.

4.5. NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ CÁC PHÁP

Về sự tập khởi – samudaya – của hai loại kiến chấp, Sớ giải kể ra tám yếu tố làm nhân duyên: năm uẩn, vô minh, xúc, tưởng, tư, phi như lý tác ý, bạn xấu, và tiếng nói của một người khác.

Sự đoạn diệt – atthaṅgama – hai loại tà kiến ấy là Dự-lưu đạo, ở đấy tất cả quan điểm đều bị nhổ bật gốc.

Vị ngọt của chúng – assāda – là sự thỏa mãn nhu cầu tâm lý mà chúng đem lại;

Sự nguy hiểm – ādīnava – sự trói buộc liên tục mà chúng gây ra;

Sự xuất ly – nissaraṇa – khỏi chúng là Niết Bàn.

4.6. Sự khác biệt giữa Phật giáo và các tôn giáo khác

Phật giáo Các tôn giáo khác
Trung đạo – Duyên khởi Chấp ngã, chấp thường, chấp đoạn
Vô ngã Hữu ngã
– Vô tham, vô sân, vô si – Đoạn ái, đoạn thủ – Tuệ tri, không thuận ứng, không nghịch ứng – Tham, sân, si – Ái, thủ – Không tuệ tri, thuận ứng, nghịch ứng
Có Tứ sa môn quả Không có Tứ sa môn quả
Dẫn đến đoạn tận khổ (Tịch tịnh, Niết bàn) Dẫn đến sinh, tử, sầu, bi, khổ, ưu, não

 

4.7. BỐN SỰ CHẤP THỦ

Thủ là sự chấp nê, ôm ấp, không buông bỏ của Tham Ái hoặc Tà Kiến.

Bhusaṃ ādiyanti amuñcanagāhaṃ gaṇhantīti upādānāni: Chấp chặt không buông thì gọi là Thủ.

Thủ ở đây chính là Ái và Tà Kiến nhưng ở mức độ trầm trọng, sâu sắc. Sự thích thú một cách khắn khít, chặt chẽ cũng được gọi là Thủ mà cả sự hiểu sai lầm một cách sâu sắc cũng là Thủ. Ái và Tà Kiến ở mức độ bình thường không thể gọi là Thủ. Các ngài ví dụ Tham Ái (taṇhā) là tên trộm trong đêm và Thủ (ūpādāna) là động tác cầm nắm vật trộm.

  • Dục Thủ (kāmupādāna): Tâm sở Tham (lobha) trong 8 tâm tham (lobhamūlacitta) trong trường hợp đam mê Ngũ Dục (pañcakāma).
  • Kiến Thủ (diṭṭhupādāna): Sự chấp trước những Tà Kiến nằm ngoài Giới Cấm Thủ và Ngã Chấp Thủ. Như tin Thượng đế tối cao, thiên đường vĩnh cửu hay thờ phụng ma quỷ, thần vật. Chi pháp là tâm sở Tà Kiến (micchādiṭṭhi) trong 4 tâm tham hợp tà (lobhamūladiṭṭhisampayuttacitta).
  • Giới Cấm Thủ (silabbatūpādāna): Là do muốn được sanh vào một cảnh giới nào đó người ta chấp nhận một đường lối hành trì vô lý, tuân theo các giáo điều lầm lạc như đạo chó, đạo bò, đạo lõa thể hoặc bất cứ một hình thức tu tập mù quáng nào đó nằm ngoài giáo pháp của chư Phật, hoặc lợi dưỡng hoặc khổ hạnh.
  • Ngã Chấp Thủ (attavādūpādāna): Đây là từ đồng nghĩa của Thân Kiến (sakkāyadiṭṭhi). Thủ này là sự chấp chặt quan điểm Ngã (ahankāra) và Ngã Sở (mamaṅkāra) như có tôi, của tôi, có hắn, của họ. Chi pháp là tâm sở Tà Kiến (micchādiṭṭhi) trong 4 tâm tham hợp tà (lobhamūladiṭṭhisampayuttacitta).
  • TẬP KHỞI CỦA SỰ CHẤP THỦ
  Ái Thủ
Tâm sở Tham Tham
Định nghĩa Sự thích thú, say đắm Sự ôm ấp, gắn chặt
Hình ảnh minh họa mầm non mới nhú cội cây có gốc rễ
Pháp đối lập Đức tánh thiểu dục Đức tánh tri túc
Nhân tố Khổ tầm cầu Khổ bảo thủ

ÁI DUYÊN THỦ (taṇhāpaccayā upādānaṃ)

Tham Ái ở giai đoạn mãnh liệt và có Tà Kiến đi cùng thì được gọi là Thủ.

  • ÁI LÀM DUYÊN CHO DỤC THỦ

Ái trong trường hợp này là sự thích thú đơn thuần ở giai đoạn tiên khởi, còn Dục Thủ tuy cũng là Ái nhưng lại là Ái ở mức độ sâu sắc, trầm trọng.

Ái là nhân tố cho khổ tầm cầu (Pariyesanādukkha) tức những vất vả, gian khó trong khát vọng tìm kiếm dục lạc, còn Dục Thủ là nhân tố cho khổ bảo thủ (Ārakkhadukkha) tức những sầu bi ưu não phải chịu đựng trong ước muốn gìn giữ các dục lạc cho đừng mất mát, đổ vỡ.

Câu chuyện tiền thân về việc Bồ-tát bị hoại thiền chính do Dục Thủ quá mãnh liệt nên Bồ-tát đã phải bị khổ tâm vì hình bóng bà hoàng hậu suốt một tuần lễ như vậy.

Có kiếp nọ Bồ-tát là một đạo sĩ chứng đạt tứ thiền Ngũ Thông, ngài được vua Bāraṇasī thương kính rất mực. Vua thỉnh Bồ-tát vào ngụ trong ngự uyển rồi cúng dường cơm nước mỗi ngày. Lần đó, vua phải đi đánh giặc ở xa không đích thân phục vụ Bồ-tát được nên trước khi đem quân rời kinh thành, ông đã dặn vợ là hoàng hậu Mudulakkhaṇā phải thay mình cúng dường Bồ-tát. Hoàng hậu vâng lời và mọi việc diễn ra êm đẹp. Thế rồi một hôm, sau khi sửa soạn thức ăn để dâng cho Bồ-tát xong xuôi, hoàng hậu lên giường nằm nghỉ và theo kinh sách ghi lại thì lúc đó nàng chỉ choàng lên người một tấm vải đơn sơ thôi. Thình lình nghe tiếng Bồ-tát từ trên không trung bước xuống, hoàng hậu vội vã đứng dậy tiếp rước mà quên đi rằng ngoài tấm vải kia ra thân thể nàng chẳng còn được gì che kín cả. Vừa nhìn thấy hoàng hậu trong tình trạng như vậy, Bồ-tát lập tức bị dục nhiễm và hoại thiền tại chỗ. Sau khi thọ lãnh vật thực, Bồ-tát trở về ngự uyển bỏ ăn suốt một tuần lễ.

Ở đây ta có thể hiểu rằng chính do Dục Thủ quá mãnh liệt nên Bồ-tát đã phải bị khổ tâm vì hình bóng bà hoàng hậu suốt một tuần lễ như vậy.

Hoặc một trường hợp khác, cũng trong Jātaka:

Thuở xưa ở Bāraṇasī có một ông vua nhiều tham vọng, cai trị cả một lãnh thổ mênh mông, ông vẫn chưa vừa ý và còn muốn chinh phục thêm nhiều xứ sở khác nữa, đầu óc nhà vua cứ luôn bị ám ảnh bởi khát vọng xâm lăng ngoại quốc. Để giúp vua tỉnh ngộ, đức trời Đế Thích liền hiện xuống cõi người biến thành một chàng thanh niên tìm vào hoàng cung yết kiến vua Bāraṇasī. Gặp vua, chàng thanh niên tâu rằng mình biết có ba ngôi thành trù mật thịnh vượng mà quân lực thì hèn yếu nếu vua cử quân chinh phạt thì sẽ chiếm được ba ngôi thành đó dễ dàng như trở bàn tay. Chàng trai lạ mặt hứa sẽ giúp vua trong việc đó rồi cáo biệt, hẹn sẽ trở lại. Vua mừng quá, quên cả chuyện hỏi quê quán gốc tích của chàng ta, chỉ biết đứng ngồi trông đợi từ ngày này qua bữa khác. Nhưng anh chàng Đế Thích mà sau khi để lại cho vua Bāraṇasī mối bận tâm đó rồi cũng trở về thiên giới, không thèm trở xuống nữa. Đợi mãi chẳng được, vua cho người đi dò la tin tức về chàng thanh niên kỳ dị kia nhưng vẫn bặt tăm, chẳng ai biết gì về tung tích anh ta cả. Thế rồi nhà vua vì quá thất vọng nên lâm trọng bệnh. Các quan ngự y chạy chữa thế nào cũng không thuyên giảm.

Lúc đó, Bồ-tát là một thanh niên thông tuệ cũng sống ở Bāraṇasī, nghe tin vua bị bệnh nặng, bèn xin vào điều trị thử. Thấy vua nằm héo hắt trên long sàng, Bồ-tát chậm rãi yêu cầu vua cho mình biết căn bệnh đó bắt đầu vì lý do gì. Vua Bāraṇasī kể lại cho Bồ-tát nghe câu chuyện về chàng thanh niên lạ lùng kia cũng như không quên nói đến khát vọng chinh phục ngoại bang của mình. Nghe xong câu chuyện đó Bồ-tát nói với vua:

Tâu đại vương! Lúc bình sinh có được bao nhiêu sở hữu thì khi chết rồi cũng phải bỏ hết mà đi. Dám hỏi đại vương, nếu có trong tay cả bốn quốc gia tức Bāraṇasī cộng với ba vương quốc kia nữa, ngài có thể nào cùng một lúc ăn cả bốn phần ăn, ngủ cùng lúc trên bốn chiếc giường hay không, hay cuộc sống vẫn cứ như cũ. Bồ-tát đã giúp vua Bāraṇasī tỉnh ngộ, bỏ đi ý muốn chinh phục và nhờ vậy bệnh tình được thuyên giảm dần.

Hoặc câu chuyện đức vua Bāraṇasī chính là cái mộng tranh bá đồ vương được nung nấu lâu ngày nên trở thành Dục Thủ. Cũng là cái Tham Ái nhưng ở mức độ trầm trọng như vậy thì được gọi là Dục Thủ

  • ÁI LÀM DUYÊN CHO KIẾN THỦ

Kiến Thủ là tất cả những Tà Kiến nào ngoài ra Giới Cấm Thủ và Ngã Chấp Thủ. Còn Tham Ái ở trường hợp này cũng là sự thích thú trong các cảnh, hoặc Nội Phần hoặc Ngoại Phần. Cảnh Nội Phần là những gì thuộc về bản thân, không liên hệ gì với chính mình bất luận là chúng sanh hay vật vô tri.

Câu chuyện về du sĩ lõa thể Guṇa và nguyên soái Alāta tin chắc rằng hành động thiện ác không có quả báo.

Xưa kia, tại kinh thành Mithilā xứ Videha có một nhà vua tên là Aṅgati, vị nguyên soái của vua tên là Alāta. Một hôm, nguyên soái Alāta đưa vua đến gặp sư phụ của mình là du sĩ lõa thể Guṇa. Vua hỏi du sĩ này là làm thế nào để được sanh về thiên giới. Du sĩ Guṇa trả lời rằng cần gì phải bận tâm đến điều đó bởi tất cả những gì mà người ta vẫn gọi là thiện nghiệp hay ác nghiệp chẳng qua chỉ là những hư ngữ nói để nói mà thôi, dù làm lành hay làm ác gì thì cũng chẳng có quả dị thục. Bất luận là kẻ ngu hay người trí, sau 84 ngàn Đại Kiếp sanh tử luân hồi rồi thì tự nhiên mọi người sẽ được thanh tịnh và Níp-bàn như nhau cả.

Khi nghe tới đây, nguyên soái Alāta liền gật đầu đồng ý và bảo rằng du sĩ Guṇa đã nói rất đúng bởi theo nguyên soái nhớ lại được thì kiếp trước đó ông đã là một đồ tể chuyên giết trâu bò, thế mà trong hiện tại chẳng những không bị sa đọa mà còn được sanh làm một vị nguyên soái quyền uy tột bực. Trong Kinh giải thích rằng nguyên soái Alāta là người có trí nhớ được kiếp trước nhưng không nhớ nhiều, ông chỉ nhớ được một kiếp thay vì nếu nhớ nhiều hơn thì ông sẽ biết rằng cách đó hai kiếp sống, dưới thời giáo pháp đức Phật Ca-diếp ông đã cúng dường tháp thờ xá-lợi nên kiếp này được làm nguyên soái, còn ác nghiệp giết bò trong kiếp trước đây thì chưa trổ quả kịp. Thế là ông yên chí rằng làm thiện làm ác gì cũng không có quả báo dị thục.

Lúc đó một anh nô lệ ngồi bên cạnh nghe nguyên soái nói thế bèn bật khóc và bảo rằng ông được may mắn như vậy, chớ tôi còn cay đắng hơn nhiều, kiếp trước tôi là một nhà triệu phú giàu có, suốt đời gìn giữ giới hạnh thế mà bây giờ phải đem thân đi làm nô lệ cho người khác. Tôi đã nỗ lực sống thiện để làm gì chứ, tất cả chỉ là viễn vông vô ích thôi, nghĩ tới đó tôi không thể cầm được nước mắt.

Trong Kinh ghi rằng anh nô lệ này cũng chỉ nhớ được một kiếp như nguyên soái Alāta nên anh ta đâu biết rằng cách đó mấy kiếp dưới thời kỳ đức Phật Ca-diếp anh ta đã sanh làm một người chăn bò. Rồi ngày nọ, bầy bò của anh ta đi lạc trong rừng, anh ta đi vào đó tìm. Lúc ấy có một vị tỳ-kheo cũng bị lạc đường, thấy có người, vị tỳ-kheo liền tới hỏi. Anh ta chẳng thèm trả lời. Vị tỳ-kheo năn nỉ mãi, anh ta bực mình buông lời gắt gỏng: “Người gì mà tới đường xá cũng không biết, ngữ này thì có nước đi làm đầy tớ cho người ta chớ làm gì được”.

Trong kiếp làm triệu phú, anh ta đã giữ giới trong sạch nhưng thiện nghiệp đó chưa kịp chín muồi thì quả xấu của câu nói bất kính kia đã trổ quả trước nên kiếp này anh ta phải làm nô lệ. Vì không nhớ được mấy kiếp trước đó, anh nô lệ mới nghĩ rằng du sĩ lõa thể Guṇa nói đúng.

Nghe xong câu chuyện của mọi người, vua Aṅgati càng tin chắc rằng hành động thiện ác không có quả báo. Sau khi về cung, ông không tiếp tục cứu tế chẩn bần như trước nữa mà đêm ngày chỉ biết ăn chơi sa đọa. Công chúa của vua là người hiền trí cũng không thể nhắc nhở được. Cuối cùng phải đích thân Bồ-tát, lúc đó là Phạm Thiên, xuống cảnh tỉnh cho vua, vua mới chịu bỏ Tà Kiến ấy.

Qua câu chuyện trên đây, nếu xét cho cùng, ta sẽ thấy rằng Tà Kiến của các nhân vật trong đó đều bắt nguồn từ sự khao khát dục lạc, lấy sự sung sướng làm tâm điểm cho nhận thức về vấn đề nghiệp báo. Đó là Ái trợ sanh cho Kiến Thủ vậy.

  • ÁI LÀM DUYÊN CHO GIỚI CẤM THỦ

Dầu là muốn đạt tới cứu cánh giải thoát nào đó hoặc để được sanh lên thiên đàng cũng đều là Ái cả. Từ sự mong mỏi đó, người ta chấp nhận một pháp môn tu tập tà vạy, hoặc lợi dưỡng hoặc khổ hạnh, đó chính là Ái trợ sanh cho Giới Cấm Thủ.

Trong thời kỳ Đức Phật, có hai du sĩ nọ, vì muốn sanh thiên nên chủ trương tu theo pháp môn khổ hạnh bằng cách bắt chước theo con bò, con chó. Hai loài thú này sinh hoạt thế nào thì họ cũng làm theo như vậy. Đến khi gặp được đức Phật, Ngài giải thích cho họ biết đó là đường lối sai lầm thì cả hai mới quay về với Phật giáo.

Để mưu cầu hạnh phúc cho đời sau mà lại mù quáng chấp trì một hạnh tu, một giáo điều hay giới cấm nào đó sai lầm, đi ngược lại giáo pháp của chư Phật thì đó là Giới Cấm Thủ mà cũng là trường hợp để Ái làm duyên cho Giới Cấm Thủ.

  • ÁI LÀM DUYÊN CHO NGÃ CHẤP THỦ

Theo quy luật vận hành của hữu vi pháp thì tất cả mọi sinh hoạt của chúng sanh đều được diễn biến trên cơ sở nhân duyên thích ứng.

Trong Kinh ghi rằng Saccaka là một nhân vật học rộng, có tài biện bác nhưng rất kiêu ngạo, tự phụ. Hôm nọ Saccaka tới hỏi Đức Phật:

Thưa Sa-môn Gotama! Ngài thường dạy các đệ tử những giáo lý gì?

Này Saccaka! Ta vẫn thường dạy các đệ tử rằng Ngũ Uẩn là vô thường, khổ và vô ngã.

Thưa Sa môn Gotama! Như cây cối đối với mặt đất, các chúng sanh trong đời này dù hưởng vui hay chịu khổ, làm ác hay tạo thiện đều phải nhờ vào Ngũ Uẩn. Như vậy rõ ràng là trong sự hiện hữu của mọi loài vẫn có bản ngã điều hành, thế sao Ngài lại bảo rằng cái gì cũng vô ngã?

Này Saccaka! Người ta nói rằng một ông vua đầy đủ quyền lực là người có thể sai khiến và thưởng phạt bất cứ người nào trong lãnh thổ của mình, có phải vậy không Saccaka?

Đúng thế, thưa Sa môn Gotama.

Nếu vậy thì khi nãy Saccaka bảo rằng mỗi người đều có một bản ngã, kể cả bản thân ngươi có thể nào sai khiến cho thân thể của mình mãi mãi trẻ trung khỏe mạnh được hay không Saccaka?

Saccaka biết mình đã bị thất lý nên cúi đầu im lặng không trả lời câu hỏi của Đức Phật. Sau đó Saccaka đã chấp nhận Lý Vô Ngã của bậc Đạo sư và trở thành Phật tử.

Đối với cảnh khả ái, khả hỷ thì chẳng những làm điều kiện tốt cho tâm tham sanh khởi mà lại còn khiến cho chúng sanh phải ôm ấp, chấp nê, khắn khít sâu sắc với nó nữa và chính vì Tham Ái quá mãnh liệt nên người ta mới đi đến ngộ nhận là có một cái tôi, tôi tồn tại, tôi hiện hữu, tôi sinh hoạt, tôi là tôi…Đó chính là Tham Ái trợ sanh cho Ngã chấp thủ

Bốn Khía Cạnh Thực Tính Của Tứ Thủ

Bản tướng Sự nắm bắt, khắn khít
Nhiệm vụ Không buông bỏ cảnh sở tri
Đặc điểm Tham ái mãnh liệt,

có Tà kiến đi kèm

Nhân tố cần thiết Tham ái

  • KẾT LUẬN

Tư tưởng nhân loại thì mênh mông như biển cả; giáo lý của các tạng kinh Phật giáo thì phong phú đến choáng ngợp; giữa cái cảnh mênh mông ấy, Tiểu kinh Sư tử hống đã cống hiến một sự đối chiếu rất ngắn gọn và rất chân xác giống như tiếng rống của sư tử trong rừng sâu khiến muôn thú run rẩy, im lặng; Cũng vậy, giáo lý Phật giáo nói lên sự thật khiến ngoại đạo run rẩy, im lặng, câm lặng.

 11150173_675636429208284_66382769753777843_n

Chia sẻ:

  • X
  • Facebook
Thích Đang tải...

Có liên quan

Từ khóa » Sư Tử Hống Bồ Tát