TIỂU LUẬN Ý Và TỨ THƠ - Lục Bát Tuổi Vàng
Có thể bạn quan tâm
| Lục bát tuổi vàng |
|
TIỂU LUẬN Ý và TỨ THƠ12/17/2014 2 Comments Ý & TỨ THƠ NGUYỄN TRỌNG HOÀ Ý và tứ thơ là nội dung của bài thơ. Ý là gì? Ý là khởi nguồn cho thơ. Khi gặp một cảm xúc mãnh liệt thì nhà thơ có ý tưởng lưu lại cảm xúc đó. Lúc này ý mới chỉ là suy nghĩ trừu tượng trong đầu. Tứ là việc nhà thơ dùng những kỹ năng thơ của mình để diễn đạt (thể hiện) những cảm xúc, ý thơ của mình bằng hình ảnh, ngôn ngữ hàm xúc và có vần điệu thành bài thơ. Một bài thơ hay là bài thơ có ý đẹp lời hay. Lời thơ phải phản ánh được trung thực cảm xúc thơ và có sức truyền cảm mạnh đến người đọc. Ý thơ được chia làm 4 tiêu chuẩn chính: - Thơ biểu tình (gọi là thơ tình). Tình ở đây được hiểu theo nghĩa rộng. Không chỉ là tình yêu trai gái mà còn là sự yêu ghét, hờn giận, tình yêu con người với con người, tình yêu với thiên nhiên, Tổ quốc, quê hương… - Thơ thuyết lý: là thơ có những giá trị kinh điển. - Thơ tả cảnh. - Thơ tức sự. Có khi ý chỉ là đơn thuần, có ý nghĩa tình riêng tình, lý riêng lý. Cảnh riêng cảnh và sự riêng sự. Cũng có khi ý là sự phức hợp của một tiêu chuẩn này với 1,2 hoặc 3 tiêu chuẩn. Như trong lý có tình, trong tình có cảnh, trong cảnh có sự… Ví dụ: Bài “Thu vịnh ”của Nguyễn Khuyến đơn thuần là một bài thơ tả cảnh. Bài thơ “Tiếng thu” của Lưu Trọng Lư là tình. Tác giả đã mượn cảnh để tả tình, nên trong tình có cảnh, trong cảnh có tình. Tứ thơ là gì? Theo cuốn từ điển Thuật ngữ văn học thì tứ thơ là cảm xúc thơ hoặc ý nghĩa hình ảnh thơ. Ta cần chú ý đến cụm thuật ngữ:”Cảm xúc thơ” và “hình ảnh thơ” vì cảm xúc thơ và hình ảnh thơ khác với cảm xúc và hình ảnh khác.Người xưa thường nói:”thi tứ ở nơi gió tuyết, trên lưng ngựa chứ đâu ở nơi lầu son gác tía” lại có người nói “tứ thơ ở nơi cành mai, khóm trúc”là ý muốn nói cảm xúc thơ là cảm xúc thẩm mỹ, thi vị và giàu màu sắc chứ không phải là cảm xúc trong trong sinh hoạt thực dụng hàng ngày. Hình ảnh thơ là hình ảnh được chuyển hóa cụ thể hóa từ ý thơ., nó không giống những hình ảnh mà mắt thường nhìn thấy được. Nó được ta nhìn thấy bằng cảm xúc thơ. Vì vậy khi làm thơ phương pháp tu từ được sử dụng rất nhiều. Việc làm thơ phải bắt đầu từ cảm xúc thơ, tức là tứ thơ. Tìm tứ tức là xác định cảm xúc và hình ảnh thơ. Định nghĩa “Tứ thơ” như sách từ điển Thuật ngữ văn học như vậy thì khái quát quá, khó mà thấu hiểu được. Để cho dễ hiểu, nhà thơ Quách Tấn giải thích bằng sự ví von như sau: “Nội dung bài thơ tỉ như một khóm cây mà nơi cội cành là ý, hoa lá quả là tứ” nói cách khác : Tứ là sản phẩm của ý, là chi tiết do ý sinh ra và làm cho ý thêm sắc thái, âm vị cũng như hoa là tứ cội cành sinh ra và làm cho cội cành thêm tươi, thêm thắm. Nói một cách khác. Tứ là sắc thái, là hương vị là âm thanh của ý”. Cùng là một ý nhưng ai cũng có thể có, từ ngàn xưa đến nay đều có, nhưng thơ của mỗi người mỗi khác vì cách diễn đạt ý không ai giống ai. Đó là vì tứ mỗi người một khác. Ví dụ: Trong một trường thi ngày xưa ( Thi hương, thi hội, thi đình). Tất cả các thí sinh có chung 1 đề thi là làm 1 bài thơ theo ý của ban tổ chức ra. Kết quả là có bao nhiêu thí sinh tham gia thì có bấy nhiêu bài thơ mà không bài nào giống bài nào vì cách diễn tả ý đã cho không ai giống ai. Người diễn đạt hay nhất thì đỗ thủ khoa, người về nhì gọi là á khoa… Tóm lại là: Cách diễn đạt chính là tứ thơ. Cho nên thơ phải có tứ, thơ nào tứ ấy, chỉ có tứ thơ hay, hay tứ thơ không hay chứ không có bài thơ mà không có tứ. Ví dụ: Để diễn tả lòng thương nhớ nhau, Đời nhà Chu- Trung Quốc có câu: Chàng ở đầu sông Tương Thiếp ở cuối sông Tương Nhớ nhau không thấy nhau Cùng uống nước sông Tương Cũng diễn tả ý thương nhớ nhau, Nguyễn Du viết: Sông Tương một dải nâng sờ Người trông đầu nọ, kẻ chờ cuối kia. Cùng là diễn một ý, hai áng thơ trên không chỉ khác nhau về chữ nào mà khác nhau ở cách diễn cảm. Câu thơ tiếng Hán nhấn mạnh niềm thương nhớ và âm thầm ấp ủ nỗi trông chờ, lấy việc cùng uống nước sông Tương tượng trưng cho việc ăn sầu uống thảm vì không thấy nhau. Còn câu thơ của Nguyễn Du lại nhấn mạnh nỗi trông chờ và nâng niu một cách kín đáo, lấy việc sông Thương nâng sờ mà không tới lui với nhau được, để ngầm than thở cho cái hoàn cảnh éo le một cách hoàn hảo, câu nọ đẻ ra câu kia, ý kia vốn là ý nọ. Bài thơ tiếng Hán tương truyền sau khi ra đời, vì bài thơ hay đến từng li, từng tí, tứ ý đến lời nên thế nhân đúc rút ra 2 chữ tương tư để diễn tả nỗi nhớ nhau của hai người, từ đó chữ tương tư mà có. Còn áng thơ của Nguyễn Du cũng không kém gì, song mỗi áng thơ đẹp mỗi vẻ vì tứ người này khác người kia. Ngày nay nhà thơ Hoài Vũ, thể hiện nỗi tương tư bằng bài thơ Anh ở đầu sông em cuối sông, nhạc sỹ Phan Huỳnh Điểu được phổ thành nhạc: Anh ở đầu sông em cuối sông Uống chung dòng nước Vàm cỏ đông Xa nhau đã chín bao mùa lúa Chưa ngày gặp lại nhớ mênh mông Cũng rất tuyệt vời. Ta hãy xét thêm một ví dụ nữa. Cư dân vùng núi Tượng sông Đà có câu: Một dải sông Đà nằm uốn khúc Ngàn năm núi Tượng đứng chen mây. Cũng là ý ca ngợi núi Tượng sông Đà, Tản Đà có câu: Non Tượng trời cho bao tuổi lẻ Sông Đà ai vặn một dòng quanh Sông Đà chảy quanh co, một núi Tượng cao chót vót đó là ý, áng thơ thứ nhất tác giả diễn tả sự quanh co của sông bằng cụm từ “nằm uốn khúc” và diễn tả núi Tượng cao bằng cụm từ “đứng chen mây”. “Nằm uốn khúc” và “Đứng chen mây” là tứ. Ở áng thơ thứ hai, Tản Đà dùng biện pháp tu từ chuyển hóa hình ảnh cao chót vót của núi bằng tuổi cao của núi và dùng động từ “vặn” để làm nổi bật nét quanh co, uốn éo của sông. Động từ “vặn” không những sống động hơn động từ “nằm” mà còn gợi cảm hơn nơi người đọc. Tứ thơ của Tản Đà độc đáo và mới lạ, khác hẳn và hơn hẳn tứ thơ trên, mặc dù áng thơ trên cũng thuộc hàng hiếm thấy. Tất cả những lời bình trên để các bạn hiểu thấu đáo hơn tứ thơ là gì và nhất trí với tôi rằng: ý và tứ thơ là nội dung của bài thơ . Có thể có rất nhiều bài thơ diễn đạt cùng một ý nhưng không bài thơ nào giống bài thơ nào bởi vì tứ của mỗi người mỗi khác. Không có bài thơ nào không có tứ, chỉ có bài tứ hay và bài tứ không hay, hay ít hoặc hay nhiều mà thôi. Tóm lại tứ cũng chỉ là cách thể hiện, diễn tả ý mà thôi.Nếu chúng ta đã nhất trí với nhau thì giờ ta chuyển qua cách lập ý và cấu tứ. Ngày xưa các cụ làm thơ rất cẩn thận và bao giờ cũng lập ý cấu tứ trước khi thực sự viết bài thơ. Việc lập ý, cấu tứ đối với người làm thơ cũng như việc lập dàn chi tiết cho bài văn mà các thầy đã dạy chúng ta tập làm văn khi ta học phổ thông vậy. Lập ý là lập dàn ý cho bài thơ. Để lập dàn ý trước hết ta phải khảo sát để xem ý thuộc tiêu chuẩn nào, biểu tình hay thuyết lý, tả cảnh hay tự sự, ý thơ thuần nhất hay phải kết hợp nhiều tiêu chuẩn, tiêu chuẩn nào là chính. Khảo sát xong ta lo tìm ý, chọn trong số những ý ta tìm được một ý lớn đưa lên làm chủ đề, làm đại ý. Những ý khác lấy đại ý làm mục tiêu, xoay quanh đại ý sao cho trên dưới tiền hậu nhất nhất, “Nhất khí quán hạ”, không có ý nào bị lạc đề. Nhưng những ý chúng ta đã lập thành “dàn ý” mới chỉ là nguyên liệu để làm thơ, chúng ta cần phải câu từ thì mới thành bài thơ được. vậy lập ý và cấu tứ có thể ví von, so sánh với việc ta làm một ngôi nhà, trong đó ý là nguyên liệu như xi măng, gạch, đá, sỏi, gỗ mua về để sẵn đó.Ta phải tìm trong đống nguyên liệu tùm lum ấy, cây gỗ nào làm cột, cây gỗ nào làm kèo, viên đá nào làm nền, móng, gạch sỏi, xi măng dùng vào việc gì… như việc tìm tứ nào đi với ý nào là tìm tứ. Tìm tứ là: xác định cảm xúc và hình ảnh thơ. Chúng ta lại cần phải cưa cắt, đục đẽo gỗ cho vừa để làm kèo cột, xây, chát, khắc chạm, sơn quét… tạo dáng cho ngôi nhà cho đẹp đẽ, việc này cũng như nhà thơ phải chau chuốt ngôn từ, tạo hình tượng cho bài thơ, thổi hồn vào bài thơ bằng chính những cảm xúc của mình, bằng cảm xúc thơ và hình ảnh thơ để bài thơ có hương vị, sắc thái, âm hưởng đặc biệt đó là cấu tứ. Vậy cấu tứ là tạo hình tượng có khả năng khêu gợi được cảm xúc thơ. Đó là sự kết hợp hình ảnh và ý nghĩa thơ sao cho sự sống của hình ảnh càng triển khai càng khơi sâu thêm những ý nghĩa của bài thơ.Ý có đại ý và những ý nhỏ xoay quanh.Cấu tứ cũng phải cấu tứ cho từng ý nhỏ và cho đại ý. Ta hãy xem Phố Khởi Long một học giả Trung Quốc bình và phân tích bài thơ “Cô Nhạn” của Đỗ Phủ để hiểu rõ hơn về tứ. CÔ NHẠN Nhạn lạc không ăn uống Bay kêu tiếng nhớ đàn Mất hút giữa mây ngàn Mãi trông còn thấp thoáng Xót lắm tiếng mơ màng Qua đồng sao hiểu được Quàng quạc tiếng kêu khan. Cô nhạn (Chim nhạn cô đơn) là ý của bài thơ. Bay kêu tiếng nhớ đàn là tứ của bài thơ. Lạc đàn nên nhớ, vì nhớ mà bay, với trông mất hút mà vẫn cứ bay mãi, như vẫn còn trông thấy đàn mà bay theo. Vì nhớ mà kêu, xót nhiều nên kêu không ngớt, như trông thấy đàn mà bay theo vậy (theo Phố Khởi Long – Độc Đỗ tài giỏi). Tứ thơ đã biểu hiện tình cảnh cố ngạo đáng thương của kẻ lạc đàn.Nói về ý và tứ thơ bao nhiêu cũng không hết, nhưng theo tôi nói đến dây cũng đủ cho chúng ta hiểu khái quát về ý và tứ thơ. Nếu xem trên mạng, các bạn có thể thấy một số bài tiểu luận về ý và tứ. Có bài hay, cũng có bài dở. Bài của Đỗ Đình Tuân khá hay. 2 Comments Phạm Đức Nhì 4/16/2015 01:41:48 pm Phân biệt Ý và Tứ Ý: Điều tác giả muốn nói đến Tứ: Cách để tiếp cận, diễn đạt ý Khi tác giả chọn cách nói trực tiếp, nói thẳng vảo điều muốn nói, bài thơ có ý và tứ giống nhau. Ý là tứ, tứ là ý, ý với tứ là một. Thí dụ: Anh Lái Đò của Nguyễn Bính Ý và Tứ là một: Anh lái đò nói về mối tình tuyệt vọng của mình. Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác Ý và Tứ là một: Hào khí của một sĩ phu trước cảnh đất nước điêu linh Khi tác giả không muốn nói trực tiếp, không muốn nói thẳng vào điều muốn nói mà mượn một hình ảnh khác, một sự kiện khác để thố lộ lòng mình, bài thơ có ý và tứ khác nhau. Ý là điều muốn nói; tứ là hình ảnh mượn để thố lộ lòng mình. Thí dụ: Ông Đồ Già của Vũ Đình Liên Tứ: Ông đồ ngồi bên phố viết câu đối thuê cho khách du xuân. Nay xuân đến, không thấy ông đồ nữa, nhiều người tiếc nhớ. Ý: Tác giả muốn nói đến nền nho học đang lụi tàn. Nhớ Rừng của Thế Lữ Tứ: Lời con hổ trong vườn bách thú tiếc nhớ những ngày còn là chúa sơn lâm, tự do vùng vẫy nơi rừng sâu núi cao- giang sơn của mình. Ý: Tác giả mượn lời con hổ để nói đến hào khí, ước mơ của chính mình. Reply Nguyễn Trọng Hoà link 5/1/2015 11:41:27 pmcảm ơn Phạm Đức Nhi ReplyLeave a Reply. |
Create your own unique website with customizable templates. Get Started Từ khóa » Cấu Tứ Bài Thơ Là Gì
-
Cấu Tứ - Từ điển Wiki
-
Từ điển Tiếng Việt "cấu Tứ" - Là Gì? - Vtudien
-
Tứ Thơ Và Cấu Tứ Trong Văn Học Việt Nam - Tài Liệu Text - 123doc
-
Cấu Tứ Thơ Là Gì - Hàng Hiệu Giá Tốt
-
Từ Điển - Từ Cấu Tứ Có ý Nghĩa Gì - Chữ Nôm
-
Tứ Thơ Là Gì - Tứ Và Cấu Tứ Trong Thơ - Vĩnh Long Online
-
Tứ Và Cấu Tứ Trong Thơ - Đỗ Đình Tuân - Chim Việt Cành Nam
-
Nghĩa Của Từ Cấu Tứ - Từ điển Việt - Tra Từ
-
Cấu Tứ Trong Bài Thơ “Từ ấy” | Báo Giáo Dục Và Thời đại Online
-
Tứ Thơ Và Hướng Tiếp Cận Mới - Văn Nghệ Quân đội
-
Nghệ Thuật Cấu Tứ - Nét đặc Sắc Của Thơ Nguyễn Bính
-
TỨ THƠ LÀ GÌ - Lê Thanh Long
-
Nghệ Thuật Cấu Tứ Trong Thơ Mai Văn Phấn (Luận Văn Thạc Sĩ)
-
Cấu Tứ Trong Thơ (1) - TRI ÂN CUỘC ĐỜI

RSS Feed