Tiểu Tiện – Wikipedia Tiếng Việt
Có thể bạn quan tâm

Tiểu tiện (hay còn gọi là bài tiết nước tiểu) là quá trình sinh lý cơ bản mà qua đó nước tiểu được thải ra khỏi Bàng quang qua Niệu đạo để ra ngoài cơ thể. Đây là giai đoạn cuối cùng trong hoạt động của Hệ tiết niệu, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì Cân bằng nội môi, điều hòa lượng nước và đào thải các chất cặn bã chuyển hóa ra khỏi cơ thể. Ở người và nhiều loài Động vật có vú, quá trình này diễn ra dưới sự kiểm soát phối hợp nhịp nhàng giữa Hệ thần kinh tự chủ và Hệ thần kinh soma, cho phép cơ thể tích trữ nước tiểu đến một thời điểm thích hợp mới thực hiện việc xả thải.[1]
Về mặt cơ chế, nước tiểu được tạo ra liên tục tại Thận thông qua quá trình Lọc máu, sau đó di chuyển theo hai ống Niệu quản xuống tích trữ tại bàng quang. Bàng quang là một tạng rỗng có khả năng co giãn, đóng vai trò như một bể chứa tạm thời. Khi lượng nước tiểu tích tụ đạt đến một thể tích nhất định (thường từ 250ml đến 400ml ở người trưởng thành), các Thụ thể căng trên thành bàng quang sẽ bị kích thích và gửi tín hiệu về Tủy sống và Não bộ, tạo ra cảm giác buồn tiểu. Quá trình tiểu tiện thực sự diễn ra khi có sự co thắt của cơ chóp bàng quang kết hợp với sự thư giãn của cơ thắt niệu đạo, dưới sự điều khiển chủ động của con người (trừ trẻ sơ sinh hoặc người mắc bệnh lý thần kinh).
Sản phẩm của quá trình này là Nước tiểu, một chất lỏng thường có màu vàng nhạt đến màu hổ phách, tùy thuộc vào độ cô đặc và lượng nước cơ thể hấp thụ. Thành phần chính của nước tiểu là nước (chiếm khoảng 95%), phần còn lại bao gồm Urê, Creatinin, Axit uric, và các Muối khoáng hòa tan khác. Màu sắc, mùi và thể tích nước tiểu là những chỉ số quan trọng phản ánh tình trạng sức khỏe của cơ thể; ví dụ, nước tiểu có màu quá đậm có thể là dấu hiệu của sự Mất nước, trong khi sự xuất hiện của máu hoặc đường trong nước tiểu có thể cảnh báo các bệnh lý nghiêm trọng về thận hoặc Tiểu đường.
Giải phẫu và Sinh lý học
[sửa | sửa mã nguồn]Về mặt giải phẫu, hệ thống thực hiện quá trình tiểu tiện bao gồm hai thành phần chính yếu: Bàng quang đóng vai trò như một bể chứa có khả năng giãn nở, và Niệu đạo đóng vai trò là ống dẫn lưu nước tiểu ra khỏi cơ thể. Thành bàng quang được cấu tạo bởi mạng lưới các sợi Cơ trơn đan xen gọi là Cơ chóp bàng quang (cơ detrusor). Cấu trúc này cho phép bàng quang co bóp đồng bộ theo mọi hướng để tống xuất nước tiểu hiệu quả. Lớp niêm mạc lót bên trong bàng quang chứa các tế bào Biểu mô chuyển tiếp (urothelium) cùng các nếp gấp niêm mạc, giúp bàng quang có thể tích trữ lượng nước tiểu lớn (thường từ 400 đến 600ml ở người trưởng thành) mà không làm tăng áp lực nội bàng quang đáng kể trong giai đoạn đầu tích trữ (tuân theo Định luật Laplace).[1]
Tại khu vực cổ bàng quang và niệu đạo, cơ chế đóng mở được kiểm soát nghiêm ngặt bởi hai hệ thống cơ vòng. Cơ thắt niệu đạo trong được cấu tạo từ cơ trơn và chịu sự chi phối của Hệ thần kinh tự chủ (hoạt động không tự nguyện). Ở nam giới, cơ thắt này còn có chức năng đóng chặt cổ bàng quang khi xuất tinh để ngăn hiện tượng Xuất tinh ngược dòng.[2] Ngược lại, Cơ thắt niệu đạo ngoài nằm phía dưới được cấu tạo từ Cơ vân và chịu sự chi phối của Hệ thần kinh soma (hoạt động tự nguyện), đóng vai trò là chốt chặn cuối cùng giúp con người chủ động trì hoãn quá trình tiểu tiện.
Về mặt sinh lý thần kinh, quá trình tiểu tiện diễn ra qua hai giai đoạn với sự phối hợp của ba hệ thống thần kinh:
Giai đoạn tích trữ: Trong giai đoạn này, Hệ thần kinh giao cảm (xuất phát từ tủy sống T10-L2) đóng vai trò chủ đạo. Thông qua dây thần kinh hạ vị, nó kích thích các Thụ thể adrenergic beta làm giãn cơ chóp bàng quang, đồng thời kích thích thụ thể alpha làm co thắt cơ thắt niệu đạo trong. Song song đó, Dây thần kinh thẹn (pudendal nerve) thuộc hệ thần kinh soma liên tục gửi xung động duy trì trương lực co của cơ thắt niệu đạo ngoài. Khi áp lực ổ bụng tăng đột ngột (như khi ho, hắt hơi), một phản xạ tủy sống sẽ kích hoạt dây thần kinh thẹn co thắt mạnh hơn để ngăn rò rỉ nước tiểu.
Giai đoạn tống xuất: Khi thể tích nước tiểu đạt ngưỡng kích thích (khoảng 200-300ml), các tín hiệu từ thụ thể căng sẽ truyền về não bộ. Nếu vỏ não xác nhận điều kiện thích hợp, Trung tâm tiểu tiện cầu não (Barrington's nucleus) sẽ được kích hoạt. Trung tâm này ức chế hệ giao cảm để mở các cơ thắt, đồng thời kích thích mạnh mẽ Hệ thần kinh đối giao cảm (qua dây thần kinh chậu). Các xung động này giải phóng Acetylcholine, gắn kết với thụ thể Muscarinic (chủ yếu là M3) trên cơ chóp, gây co bóp mạnh để đẩy dòng nước tiểu ra ngoài qua niệu đạo.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ a b Hall, John E. (2015). Guyton and Hall Textbook of Medical Physiology. Elsevier. tr. 305. ISBN 978-1455770052.
- ^ Wein, Alan J. (2011). Campbell-Walsh Urology. Saunders. tr. 1890. ISBN 978-1416069119.
Từ khóa » Tiểu Có Nghĩa Là Gì
-
Tra Từ: Tiểu - Từ điển Hán Nôm
-
"tiểu" Là Gì? Nghĩa Của Từ Tiểu Trong Tiếng Việt. Từ điển Việt-Việt
-
Tiểu Là Gì, Nghĩa Của Từ Tiểu | Từ điển Việt
-
Tiểu Là Gì? Hiểu Thêm Văn Hóa Việt - Từ điển Tiếng Việt
-
I. Tiểu Tam Là Gì? Ám Chỉ Ai? - Ben Computer
-
Chỉ Số PH Bình Thường Của Nước Tiểu Là Bao Nhiêu? | Vinmec
-
Nước Tiểu Trong Suốt Là Bình Thường Hay Bất Thường? | Vinmec
-
đái - Wiktionary Tiếng Việt
-
Nước Tiểu Sậm Màu: Nguyên Nhân Và Cách Khắc Phục Hiệu Quả
-
Nhiễm Trùng đường Niệu Do Vi Khuẩn - Phiên Bản Dành Cho Chuyên Gia
-
Suy Thận Cấp: Nguyên Nhân, Dấu Hiệu, Cách điều Trị Và Phòng Ngừa
-
Màu Sắc Nước Tiểu Báo Hiệu điều Gì Về Sức Khỏe Của Bạn? - CarePlus
-
PH Nước Tiểu | BvNTP - Bệnh Viện Nguyễn Tri Phương