| Các bạn đồng nghiệp thân mến ! Không biết từ bao giờ đã có câu “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam” Ngữ pháp Việt Nam là cả một nội dung rộng lớn các nhà ngôn ngữ học bàn tới bàn lui đã nhiều mà không ít nội dung chưa thống nhất nên GVTH cố gắng biết những gì cơ bản nhất về ngữ pháp Tiếng Việt để hoàn thành các mục tiêu theo chuẩn trong giảng dạy cũng là rất khó. Với cấu trúc khoa học nội dung lý thuyết cụ thể gắn liền các dạng bài tập ở SGK theo chuẩn và một số bài được trích từ nhiều đề thi tôi hy vọng qua chuyên đề tôi cùng các bạn có sự nhìn nhận đa chiều về từ loại danh từ và vận dụng trong giảng dạy phù hợp với phân hóa đối tượng học sinh TH góp phần thêm những tiết học thú vị . Thưa cùng các bạn ! Để đủ kiến thức giúp hóa giải “Phong ba bão táp” khi học về ngữ pháp Việt Nam là vô cùng khó khăn cả đối với những nhà ngôn ngữ học. Ở đây chúng ta chỉ cùng nhau tìm hiểu về một nội dung nhỏ là danh từ phù hợp với kiến thức cấp Tiểu học. Để tự tin mình là người dẫn đường thông thái cho các em đòi hỏi mỗi chúng ta không ngừng học tập tìm tòi khám phá,tích lũy kiến thức và luôn sáng tạo. Nhân dịp năm học mới và chương trình lớp 4 học đến nội dung DANH TỪ tôi trân trọng kính gửi các bạn nội dung sáng kiến “ Nâng cao chất lượng dạy nội dung danh từ” sáng kiến xếp loại khá cấp ngành năm học 2015- 2016.( Do nội dung sáng kiến khá dài nên tôi dự kiến toàn bộ sáng kiến sẽ được giới thiệu trong 8 bài đăng.- Đây là bài đăng thứ 4) Xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm, động viên và sự hợp tác tích cực của các bạn ! Mọi ý kiến xin gửi về địa chỉ: [email protected] 2.4 Nội dung bồi dưỡng 2.4.1 Phần lý thuyết 2.4.1.1 Khái quát nội dung mạch kiến thức từ loại HS được học ở Tiểu học. Những từ loại được giới thiệu trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học. Ở Tiểu học các em được học 5 từ loại là : danh từ, động từ, tính từ, đại từ, quan hệ từ. Mỗi từ loại lại chia ra thành từng tiểu loại.Trong quá trình tiếp cận từng nội dung về 3 từ loại : danh từ , động từ, tính từ được chia thành 2 giai đoạn rõ rệt. Đó là ở lớp 2.3 các em chưa biết khái niệm về từng từ loại mà có những nội dung cụ thể như : từ chỉ người, từ chỉ sự vật , từ chỉ hiện tượng; từ chỉ hoạt động, từ chỉ trạng thái của người, từ chỉ trạng thái của sự vật; từ chỉ tính chất đặc điểm của người, từ chỉ tính chất đặc điểm của sự vật…Khi lên lớp 4 các em mới có khái niệm cụ thể về danh từ, động từ, tính từ. Ý nghĩa khái quát của từ : danh từ chỉ sự vật; động từ chỉ hoạt động, trạng thái ; còn tính từ chỉ đặc điểm , tính chất. Trong phạm vi chuyên đề này chúng tôi chỉ bàn chi tiết tới nội dung từ loại danh từ. Nội dung mạch kiến thức từ loại danh từ trong chương trình Tiểu học . Đầu tiên ta thấy theo trật tự kiến thức về từ loại mà các nhà biên soạn sách đã đưa vào trong chương trình Tiểu học thì từ loại danh từ được HS làm quen trước khi làm quen với động từ ,tính từ. trật tự đó rất khoa học và phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh Tiểu học. Trong chương trình TVTH ở lớp 2,3 học sinh được làm quen với danh từ dưới hình thức là các từ chỉ tên người tên sự vật và chỉ hiện tượng khi đó các em chưa tìm hiểu khái niệm về danh từ .Lên lớp 4 học sinh được học về danh từ một cách khá cụ thể. Từ khái niệm về danh từ đến luyện tập thực hành danh từ gồm danh từ chung và danh từ riêng .Lớp 5 học sinh ôn tập về từ loại là dịp hệ thống củng cố kiến thức về các từ loại đã học ở tiểu học trong đó có danh từ. Tùy theo đối tượng học sinh mà những yêu cầu giáo viên đặt ra trong bài tập về danh từ khác nhau. Có một số bài tập thêm yêu cầu xác định từ loại cho cùng một từ được dùng 2 lần trong câu khi nào là danh từ khi nào là động từ . Có thể nói dạy và học về danh từ là một mảng kiến thức không hề đơn giản đặc biệt là dạy học đảm bảo phân hóa đối tượng học sinh. Ngay từ lớp 2 , 3 khi các em học về các từ chỉ người, sự vật, hiện tượng giáo viên cần nắm chắc kiến thức cơ bản thật chính xác gắn liền cùng khi dạy về các mẫu câu giúp HS có hiểu biết khoa học là cơ sở khi tiếp nhận mạch kiến thức về danh từ ở lớp 4. Ở lớp 4 khi các em học về chủ ngữ vị ngữ thì mạch kiến thức danh từ giúp các em dễ dàng khi xác định thành phần câu. Khi dạy BDHSG lớp 4,5 sẽ gặp nhiều trường hợp xác định danh từ tương đối khó và đặc biệt trong một số trường hợp chuyển hóa từ loại từ danh từ sang động từ hoặc sang tính từ nó phụ thuộc vào văn cảnh và mục đích giao tiếp . Trong nhiều trường hợp cả người dạy và người học rất lúng túng khi phân biệt danh từ với tính từ ,giữa động từ với danh từ . Khác với toán học có công thức cụ thể sai đúng dễ nhận ra bằng cách dùng đáp số thử lại với đề bài thì những đáp án về Tiếng Việt trong đó về danh từ quả là không đơn giản . Có lẽ những băn khoăn trong nhiều trường hợp xác định danh từ hoặc cách chọn dùng danh từ sao cho hay góp phần làm mọi người thừa nhận “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam.” Bài tập càng phong phú thì khi dạy và học về danh từ càng thuận lợi .Những bài tập từ kiến thức cơ bản đến phát triển nâng cao dần được trích dẫn từ các bài trong sách Tiếng Việt tiểu học và một số đề thi cho học sinh đại trà và đề chọn học sinh giỏi Tiểu học sẽ từng bước giúp ta củng cố hệ thống và nâng cao kiến thức.dạy ở Tiểu học. 2.4.1.2 Nội dung cần ghi nhớ Khái niệm danh từ: Danh từ là những từ chỉ sự vật ( người, vật, hiện tượng, khái niệm hoặc đơn vị ) Có 2 loại danh từ đó là danh từ chung và danh từ riêng. + Danh từ chung: Dùng để gọi chung tên các sự vật. Danh từ chung gồm có danh từ cụ thể và danh từ trừu tượng. - Danh từ cụ thể: Chỉ những sự vật có thể cảm nhận được bằng các giác quan như người, vật các hiện tượng, đơn vị. Ví dụ: Danh từ chỉ người: Bố , mẹ, học sinh, bộ đội… Danh từ chỉ vật: Bàn ghế, sách vở, sông, suối, cây cối… Danh từ chỉ hiện tuợng: Nắng , mưa, gió, bão, động đất… Danh từ chỉ đơn vị: biểu thị những đơn vị được dùng để tính đếm sự vật . VD tính mưa bằng cơn, hay trận , tính dừa bằng rặng hay cây… ( Ghép được với số đếm) Danh từ chỉ loại: cái, con, chiếc, tấm, cục, mẩu… Danh từ chỉ thời gian: ngày , tháng, năm, giờ, phút… Danh từ chỉ đơn vị đo lường: Mét, cân, khối, sải tay… Danh từ chỉ đơn vị hành chính: Thôn, xã, trường, lớp… Danh từ chỉ tập thể: Cặp, đoàn, đội, bó, dãy, đàn… - Danh từ trừu tượng: Chỉ các khái niệm trừu tượng tồn tại trong nhận thức của con người, không có hình thù , không chạm vào hay ngửi nếm nhìn …được. Ví dụ: Đạo đức, kinh nghiệm, cách mạng, tư tưởng, tinh thần, hạnh phúc, cuộc sống, lịch sử, tình yêu, niềm vui… + Danh từ riêng: Dùng chỉ các tên riêng của người hoặc địa danh. Ví dụ: Chỉ tên người: Nguyễn Tất Thành, Tôn Đức Thắng, Võ Nguyên Giáp,…. -Từ dùng với ý nghĩa đặc biệt để thế đồng nghĩa : Người, Bác Hồ… Từ chỉ sự vật được nhân hoá: Cún, Dế Mèn, Lúa… Từ chỉ tên địa phương: Hà Nội, Sa Pa, Vũng Tàu… Từ chỉ địa danh: Hồ Tây, Nhà Thờ Lớn, Suối Tiên… Từ chỉ tên sông, núi, cầu, cống: sông Hồng, núi Ba Vì, cầu Rào, cống Trắng, đường Hồ Chí Minh, ngã tư Môi…. Cụm danh từ: Do danh từ chính kết hợp với một số từ khác. Như vậy cụm danh từ là một tổ hợp gồm 2 hay nhiều từ kết hợp lại . - Cụm danh từ có danh từ chính đứng sau: các từ đứng trước danh từ chính thường là những từ chỉ số lượng. Ví dụ: mấy học sinh, vài thầy cô, những bông hoa, một chiếc ô tô… - Cụm danh từ có danh từ chính đứng trước: Các từ đứng sau danh từ thường bố sung về tính chất, đặc điểm của danh từ chính. Ví dụ: áo phao, mưa rào, ghế nhựa , con nuôi, bố đẻ, cửa sắt, gà trống, ô tô con… Tuy nhiên thực tế khi dạy học sinh Tiểu học chỉ ở phần từ ghép mới đề cập đến nội dung này để xếp theo từ ghép phân loại và từ ghép tổng hợp. Ví dụ : mưa rào, mưa phùn, mưa ngâu : là \từ ghép phân loại con nuôi, con rể, con gái, con dâu : là từ ghép phân loại . Khả năng kết hợp và khả năng làm thành phần trong câu : -Danh từ có khả năng kết hợp với ; tất cả, những, các ,mỗi, mọi , này kia, đó , vài ba,… * Danh từ thường làm chủ ngữ trong câu . Ta dễ dàng tìm thấy danh từ làm chủ ngữ trong các câu kiểu câu : Ai làm gì ? Ai thế nào ? Ai là gì ?. Khả năng danh từ làm vị ngữ có hạn chế, khi làm vị ngữ danh từ phải kết hợp với với từ là . Ví dụ : Cô giáo đang chấm bài. Bé Nụ ngủ say sưa . Mẹ em là bác sỹ. * Tuy nhiên chú ý một số trường hợp sau : - Có trường hợp câu theo mẫu Ai là gì ? mà chủ ngữ không là danh từ. VD Khỏe là yêu nước. ( Chủ ngữ là tính từ) Thật thà là cha khôn khéo.( Chủ ngữ là tính từ) Thi đua là yêu nước.( Chủ ngữ là động từ vị ngữ cũng là động từ) - Có trường hợp vị ngữ trong câu kể Ai là gì ? lại là số từ chứ không là danh từ. VD : Nước Việt Nam là một. Dân tộc Việt Nam là một. * Danh từ làm bộ phận phụ trong câu - Danh từ là trung tâm của trạng ngữ chỉ nơi chốn, trạng ngữ chỉ thời gian.. VD Khi mùa thu sang , chúng em náo nức chờ khai trường. Sự chuyển đổi từ loại từ Danh từ chuyển sang Tính từ ; từ danh từ sang Động từ và ngược lại. Xin được nêu câu hỏi mà giáo viên hỏi tác giả SGK như sau : Câu hỏi : Đề nghị nói rõ thêm về hiện tượng chuyển loại của từ ? Tại chuyên mục Hỏi –đáp về phân môn luyện từ và câu trong chuyên đề số 61 Tạp chí Thế giới trong ta- trang 26 Nguyễn Thị Ly Kha và GS.TS Nguyễn Minh Thuyết(tác giả SGK Tiếng Việt Tiểu học )trả lời như sau : Chuyển loại của từ là một hiện tượng chuyển nghĩa, một phương thức tạo từ mới.Từ mới được tạo ra theo phương thức chuyển loại có đặc điểm sau : - Giữ nguyên vỏ âm thanh của từ xuất phát.
- Mang ý nghĩa mới có quan hệ nhất định với nghĩa của từ xuất phát.
- Mang những đặc điểm ngữ pháp mới( khả năng kết hợp thay đổi, khả năng làm thành phần câu thay đổi.)
Trong Tiếng Việt thường diễn ra những hiện tượng chuyển loaị như sau : Chuyển thực từ thành hư từ. VD : Trên bảo, dưới không nghe.( trên , dưới là danh từ) Trên trời có đám mây xanh.( trên là quan hệ từ) Chuyển danh từ thành động từ và ngược lại. - Danh từ chỉ công cụ chuyển thành động từ chỉ hoạt động sử dụng công cụ đó : cái cày/cày ruộng ; cái cuốc/ cuốc đất ; cái bơm/ bơm xe ... -Danh từ trừu tượng (hai âm tiết) chuyển thành động từ : những nhận thức mới/ nhận thức lại vấn đề ; phát triển tư duy/ đang tư duy.. - Động từ chỉ cảm nghĩ, nói năng( hai âm tiết) chuyển thành danh từ : đang suy nghĩ/ những suy nghĩ ấy ; đang tính toán/ những tính toán ấy,... - Động từ chỉ hoạt động chuyển thành danh từ chỉ đơn vỊ khi chúng đi kèm những phụ từ khác nhau : đang bó rau/ ba gánh rau ; đang gánh nước/ ba gánh nước. Chuyển danh từ thành tính từ và ngược lại - Lí tưởng của tôi/ rất lý tưởng ; sử dụng sắt đá/ rất sắt đá/ sắt đá lắm. - Gian khổ lắm/ những gian khổ ấy; rất khó khăn/ những khó khăn ấy. Chuyển danh từ thành đại từ xưng hô - Chị tôi đi chợ.( chị là danh từ) - Chị tên là gì ? ( chị là đại từ xưng hô) ( Nguyễn Minh Thuyết) Để làm rõ nội dung trả lời câu hỏi trên ta có thể chỉ ra một số trường hợp sau . Một số từ là danh từ khi độc lập nhưng trong trường hợp nó ghép với một số tiếng khác sẽ bị chuyển từ loại .Cũng có khi từ không thay đổi về trật tự các tiếng nhưng khi đặt vào câu văn khác nó lại trở thành động từ . Ví dụ : yêu cầu , kỉ niệm., ước mơ … Trong mỗi câu sau ta sẽ thấy danh từ có thể bị chuyển thành từ loại khác nó phụ thuộc vào mục đích giao tiếp.. :a) Ngày đầu tiên đi học là một kỉ niệm tôi nhớ nhất. ( kỉ niệm là danh từ ) b)Tôi kỉ niệm anh một chiếc bút .( kỉ niệm là động từ) c) Bài tập này gồm có mấy yêu cầu ?( yêu cầu là danh từ ) d)Cô yêu cầu các em làm bài tập vào vở. ( yêu cầu là động từ ) e) Việt Nam là quê hương của tôi. ( Việt Nam là danh từ ) g ) Trông anh ta rất Việt Nam ! .( Việt Nam là tính từ) Sắt đá là vật liệu rất nặng.( sắt đá là danh từ) Chị ta tính tình rất sắt đá.( sắt đá là tính từ) Tôi đang băn khoăn về bài toán khó.( băn khoăn là động từ chỉ trạng thái) Những băn khoăn của tôi về bài toán khó đã được giải đáp. ( băn khoăn là danh từ) Lý tưởng của tôi là trở thành nhà kinh doanh giỏi.( lý tưởng là danh từ trừu tượng) Đà Lạt là địa điểm du lịch rất lý tưởng.( lý tưởng là tính từ) Chị ấy đang bó rau để mai đi chợ.(bó rau là động từ) Chị ấy mua ba bó rau.( bó rau là danh từ) * Cách phân biệt danh từ, động từ, tính từ dễ lẫn .. Để phân biệt các danh từ, động từ, tính từ dễ bị lẫn ta nên dùng các phép liên kết với các phụ từ. * Danh từ : Có khả năng kết hợp với các từ chỉ số lượng như : mọi, một, hai, vài, dăm, những, ... ở phía trước danh từ ( một kỉ niệm, những nỗi đau...) Danh từ kết hợp được với các từ chỉ định : này, kia, ấy, nọ, đó,...ở phía sau danh từ ( chị ấy, bó hoa này, tư tưởng đó ,...) Danh từ có khả năng tạo câu hỏi với từ nghi vấn « nào » đi sau danh từ( lợi ích nào , chỗ nào , khi nào) Các động từ và tính từ mà đi kèm : sự, cuộc, nỗi, niềm, cái.. ở phía trước thì chúng biến thành danh từ :( sự hi sinh, niềm hy vọng, cuộc đấu tranh,cái đẹp, cái xấu...) Chức năng ngữ pháp thay đổi cũng dẫn đến sự thay đổi về từ loại. VD : Sạch sẽ là mẹ sức khỏe.( sạch sẽ là tính từ đã trở thành danh từ khi này sạch sẽ là bộ phận chủ ngữ trả lời cho câu hỏi Ai ? trong mẫu câu Ai là gì ?) Động từ - Có khả năng kết hợp với các phụ từ mệnh lệnh : hãy, đừng, chớ,nên,... ở phía trước ( VD hãy nhớ, đừng băn khoăn, chớ hồi hộp,...) - Có thể tạo câu hỏi bằng cách đặt sau chúng từ bao giờ, bao lâu . Tính từ không có khả năng này.( VD ngủ bao giờ, thức bao lâu, chờ bao lâu ...) Tính từ : -Có khả năng kết hợp được với từ chỉ mức độ : rất, hơi, lắm, quá,...( rất đẹp, hơi đỏ, cực kì trắng,...) * Chú ý : Những động từ chỉ cảm xúc (trạng thái) cũng có khả năng kết hợp với từ chỉ mức độ ( VD rất buồn, cực kì vui, hơi cảm động, thương quá, vui lắm,.....) Vì vậy khi còn băn khoăn từ đó là tính từ hay động từ thì nên cho thử kết hợp với hãy, đừng chớ ..và đặt sau chúng những từ bao giờ, bao lâu . Nếu chúng kết hợp được như vậy thì đó là động từ.( hãy vui đừng buồn, ngủ bao lâu, khóc bao giờ ...) Có thể nói với cả GV và HS cách xác định danh từ trong các trường hợp là danh từ trừu tượng và danh từ bị chuyển từ loại sang động từ hay tính từ là không hề đơn giản . Nên để phù hợp với học sinh Tiểu học khi giảng dạy ta không nên đưa vào bài tập những trường hợp khó những nội dung này các em còn được học sâu hơn ở cấp học trên. (Còn nữa) |