| GIA PHẢ TỘC NGUYỄNĐỨC | | Gia phả | Phả ký | Thủy tổ | Phả hệ phả đồ | Tộc Ước | Hương hỏa | Hình ảnh | | | | TỘC ƯỚC - GIA PHÁP | | THỜ CÙNG TỔ TIẾN 1/ PHONG TỤC THỜ CÚNG Dân tộc Việt Nam rất trọng lễ, và trọng lễ thì ân nghĩa giữ phần quan trọng. Tổ tiên sinh ra ông bà, ông bà sinh ra cha mẹ, cha mẹ sinh ra mình. Người con hiếu thảo biết ơn nghĩa sinh thành của cha mẹ, và đã hiếu với cha mẹ phải hiếu với ông bà tổ tiên tức là nguồn gốc của mình. Lúc ông bà cha mẹ còn sống, con cháu phải phụng dưỡng, phải tuân theo những lời dạy bảo của bậc bề trên, phải lựa ý chiều chuộng các Người,phải ăn ở sao cho các Người được hài lòng. Khi các Người trăm tuổi, ngoài việc lo ma chay chôn cất, con cháu phải thờ cúng các Người, cũng như thờ cúng tổ tiên về trước. Thờ cúng tổ tiên là việc lập bàn thờ tại nhà và cúng bái trong những ngày sóc vọng giỗ tết... Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn, nước có nguồn mới bể rộng sông sâu, thì con người ta phải có tổ tiên mới có thể có mình được. Bỏ tổ tiên không thờ cúng cũng tức là quên nguồn gốc, huống chi ông bà là những người sinh dưỡng cha me và cha mẹ là người sinh dưỡng mình (trích trong "Phong tục thờ cúng trong gia đình Việt Nam" của Toan Ánh) 2/ QUAN NIỆM THỜ CÙNG TỔ TIÊN Trong quan niệm dân gian Việt Nam, qua việc thờ cúng tổ tiên, giới hữu hình và giới vô hình luôn luôn có sự mật thiết. Sụ thờ cúng chính là môi trường ạăp gỡ của giới hữu hình và vũ trụ thần linh. Đối với người Việt Nam cổ, chết chưa phải là hết, thể xác tuy chết đi nhưng linh hồn vẫn còn và vẫn hằng "lui tới" gia đình. Thể xác tiêu tan nhưng linh hồn vẫn còn bất diệt. Tục ta lại tin rằng dương sao âm vậy, người sống cần gì, sống làm sao thì người chết cũng như vậy và cũng có một cuộc "sống" ở cõi âm như cuộc sống của người trên dương thế, nói khác đi, người chết cũng cần ăn, uống, tiêu pha, nhà ở như người sống Tin như vậy, việc cúng lễ là cần thiết, và việc thờ cúng tổ tiên không thể không có được. Tục lại tin rằng vong hồn người khuất thường luôn ngự trên bàn thờ, có ảnh hưởng nhiều đến hành động của người sống. Nhiều người vì sợ vong hồn cha mẹ buồn đã tránh những hành vi xấu xa, và đôi khi định làm một công việc gì cũng suy tính kỹ lưỡng, xem công việc lúc sinh thời cha mẹ có chấp nhận hay không. Người ta sợ làm cho vong hồn cha mẹ phải tủi hổ qua hành động của mình và mang tội bất hiếu.(trích trong "Phong tục thờ cúng trong gia đình Việt Nam" của Toan Ánh) 3/ MẤY ĐỜI TỐNG GIỖ: Theo gia lễ, "ngũ đại mai thần chủ", hễ đến 5 đời thì lại đem chôn thần chủ của cao tổ đi mà nhấc lần tằng tổ khảo lên bậc trên rồi đem ông mới mất mà thế vào thần chủ ông khảo. Thực chất chỉ có 4 đời, tức là làm giỗ cha mẹ (đơi2), ông bà(đời 3), cụ ông cụ bà (hay cố 4 đời) và kỵ (hay can 5 đời). Cao hơn kỵ, gọi chung là tiên tổ, thì không cúng giỗ nữa, mà rước chung tất cả thuỷ tổ, tiên tổ, các đời vào chung một nhà thờ mỗi năm tế một lượt. Thần chủ con cúng cha mẹ, đề là Hiền khảo, Hiền tỷ, đến khi người con trưởng chết, cháu đích tôn cúng ông bà, đổi thần chủ là Hiền tổ khảo(hoặc tỷ), chít (chiu) trưởng thờ kỵ là Hiền Cao tổ khảo(hoặc tỷ. Sau 5 đời thì rướt vào nhà thờ tổ rồi chôn thần chủ đó đi. Trong nhà thờ tổ chỉ để duy nhất một ngôi thần chủ cao nhất ( thuỷ tổ hoặc tiên tổ bậc cao nhất của nhà thờ chi đó ) gọi là "Vĩnh tế thần chủ" Theo nghĩa cửu tộc (9 đời): Cao, tằng, tổ, phụ (4 đời trên); thân mình và tử, tôn, tằng tôn, huyền tôn (4 đời dưới mình) Như vậy là có 4 đời làm giỗ(Cao, tằng, tổ, phụ)tức là kỵ(hay can), cụ(hay cố), ông bà, cha mẹ. Từ "Cao" trở lên gọi chung là tiên tổ thì không cúng giỗ nữa mà nhập chung vào kỳ xuân tế, hoặc phụ tế vào ngày giỗ của thuỷ tổ Trường hợp chết yểu có cúng giỗ không..??? có hai trường hợp: 1. Những người chết đã đến tuổi thành thân, thành nhân, nhưng khi chết chưa có vợ hoặc có con gái, chưa có con trai hoặc có con trai nhưng ít lâu sau con trai cũng chết, trở thành phạp tự(không có con trai nối giòng). Những người đó cũng cúng giỗ. Người lo việc giỗ chạp là người cháu (con trai của anh hoặc em ruột) được lập làm thừa tự. Người cháu thừa tự được hưởng một phần hoặc toàn bộ gia tài của người đã khuất. Sau khi người thừa tự mất thì con cháu người thừa tự đó tiếp tự. 2. Những người chưa đến tuổi thành thân (dưới 16 hoặc 18 tuổi tuỳ theo tục lệ địa phương) sau khi hết lễ tang yết cáo với tổ tiên xin phụ thờ theo tiên tổ( gọi chung trong các bài văn cúng các bậc tiên gia là: Phụ vị thong vong tòng tự, không đặt linh vị từng vong hồn). Những người đó không có lễ giỗ riêng, ai có cúng thì chỉ là ngoại lệ. Có những gia đình bữa nào cũng xới thêm một chén cơm, một đôi đũa, đặt bên cạnh mâm, coi như người thân còn sống trong gia đình. Điều này kh6ong có trong gia lễ nhưng thuộc vào tâm linh, niềm tưởng vọng đối với thân nhân đã khuất. LỄ CÚNG GIỖ VÀO NGÀY NÀO? - lễ cúng giỗ vào đúng ngày mất hay trước ngày mất một ngày? Có người cho rằng phải cúng vào ngày đang còn sống(tức là trước ngày mất)có người cho rằng "trẻ dôi ra, già rút lại", vậy nên chết trẻ thì cúng giỗ đúng ngày chết, còn người già thì cúng trước một ngày. Vậy có câu hỏi:" Người trung niên chết thì cúng vào ngày nào"? Ngày giỗ theo âm Hán là huý nhật hay kỵ nhật, tức là lễ kỹ niệm ngày mất của tổ tiên, ông bà, cha mẹ, cũng có nghĩa là ngày kiêng kỵ. Nguyên ngày trước, "Lễ giỗ" gọi là "chính kỵ": Chiều hôm trước lễ chính ky có "Lễ tiên thường" (nghĩa là nếm trước), con cháu sắm sanh một ít lễ vật, dâng lên mời gia tiên nếm trước. Ngày xưa, những nhà phú hữu mời thông gia, bà con làng xóm đến ăn giỗ cả hai lễ tiên thường và chính kỵ. Dần dần vì khách đông phải chia làm 2 lượt; lại có những nhà hàng xóm phải mời cả 2 vợ chồng nên luân phiên nhau, người đi lễ tiên thường, người đi lễ chính kỵ, ở nông thôn tuỳ theo thời vụ, muốn "vừa được buổi cày vừa hay buổi giỗ", buổi chiều đi làm đồng về, sang hàng xóm ăn giỗ tiện hơn nên có nơi lễ tiên thường đông hơn lễ chính kỵ. Dần dần hoặc vì bận việc hoặc vì kinh tế eo hẹp hoặc vì thiếu người phục dịch, người ta giản lược đi, chỉ mời khách một lần nhưng hương hoa, trầu rượu vẫn cúng cả 2 lễ. Một vài nhà làm, những người khác thấy thuận tiện bắt chước, dần dần trở thành tục địa phương. - Việc cúng ngày sống(tức lễ tiên thường vào chiều hôm trước, nguyên xưa chỉ cúng vào buổi chiều vì buổi sáng còn phải mua sắm nấu nướng và ra khẩn ở mộ yết cáo với thổ thần, long mạch xin phép cho gia tiên về nhà dự giỗ). Cúng ngày sống hay cúng ngày chết, hay nói cách khác lễ tiên thường hay lễ chính kỵ, lễ nào quan trọng hơn, chẳng qua đó là cách biện hộ cho phong tục từng nơi. - Kết luận: Nếu vận dụng đúng phong tục cổ truyền phổ biến trong cả nước thì trước ngày chết (lễ tiên thường) phải cúng chiều, cúng đúng ngày chết(lễ chính kỵ)phải cúng buổi sang kể cả chiều hôm đó. 4/CHỮ ĐỨC - CHỮ LÓT CỦA DÒNG HỌ NGUYỄN Người xưa đã dạy: "ĐỨC thắng TÀI vi Quân tử" "TÀI thắng ĐỨC vi Tiểu nhân" Chữ ĐỨC lấy làm đầu, vì thế tổ tiên ông bà dòng họ chúng ta lấy chữ ĐỨC làm chữ lót, hầu nhắc nhở cho con cháu đời sau luôn luôn ghi nhớ hai vấn đề chính: - Khi nhìn thấy cái tên họ là biết ngay cung chung một dòng tộc. - Dạy cho con cháu cái tâm, cái đức trong việc làm, trong cuộc sống luôn luôn tôn trọng cái ĐỨC Tuy nhiên có một số gia đình tộc họ Nguyễn Đức lại tự ý bỏ chữ lót hoặc dùng chữ khác mà thế vào chữ ĐỨC Thay mặt cho tộc họ Nguyễn Đức ngỏ ý cùng quí vị trong dòng tộc, phải luôn giữ chữ ĐỨC làm chữ lót, để chúng ta nhìn nhau và tránh ngộ nhận. Trước chiến tranh, nhà thờ họ của chúng ta đã có câu liễn thờ: "TỔ CÔNG TÔNG ĐỨC THIÊN NIÊN THỊNH TỬ HIẾU TÔN HIỀN VẠN ĐẠI XƯƠNG" Vậy chúng ta, noi gương tổ tiên, ông bà mà giáo dục cho con cháu luôn luôn lấy cái ĐỨC làm đầu trong mọi lĩnh vực. "Cha mẹ để CỦA bằng non Không bằng để ĐỨC cho con sau này" | | Gia Phả NGUYỄN ĐỨC | | | |