Trang Thơ Đỗ Phủ - 杜甫 (1458 Bài Thơ) - Thi Viện
Có thể bạn quan tâm
Chân dung ☆☆☆☆☆ 1614.32Nước: Trung Quốc (Thịnh Đường)1458 bài thơ1 bình luận91 người thích - Bình luận
Thơ đọc nhiều nhất
- Thu hứng kỳ 1- Đăng cao- Nguyệt dạ- Mao ốc vị thu phong sở phá ca- Xuân vọngThơ thích nhất
- Thu hứng kỳ 1- Đăng cao- Mao ốc vị thu phong sở phá ca- Nguyệt dạ ức xá đệ- Nguyệt dạThơ mới nhất
- Hán Châu Vương đại lục sự trạch tác- Khuyết đề- Huệ Nghĩa tự viên tống Tân viên ngoại- Tị địa- Huệ Nghĩa tự tống Vương thiếu doãn phó Thành Đô, đắc phong tựTác giả cùng thời kỳ
- Lý Quý Lan (11 bài)- Tiền Khởi (23 bài)- Sầm Tham (61 bài)- Lưu Trường Khanh (50 bài)- Khâu Vi (4 bài)Dịch giả nhiều bài nhất
- Phạm Doanh (1457 bài)- Nguyễn Minh (1178 bài)- Lương Trọng Nhàn (511 bài)- Phan Ngọc (445 bài)- Nhượng Tống (259 bài) Tạo bởi Vanachi vào 05/05/2005 01:35, đã sửa 6 lần, lần cuối bởi hongha83 vào 20/10/2008 19:55 Đỗ Phủ 杜甫 (12/2/712 - 770) tự Tử Mỹ 子美, hiệu Thảo Đường 草堂, Thiếu Lăng dã lão 少陵野老, người đời sau gọi là Đỗ Thiếu Lăng, Đỗ Lăng tẩu, Đỗ công bộ hay còn gọi là Lão Đỗ để phân biệt với Tiểu Đỗ là Đỗ Mục. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình quan lại lâu đời ở huyện Củng, nay thuộc tỉnh Hà Nam. Ông nội là Đỗ Thẩm Ngôn, một nhà thơ nổi tiếng thời Sơ Đường. Cha là Đỗ Nhàn, có làm quan.Thời niên thiếu tính từ năm 712 khi ông mới chào đời cho đến năm 746 kết thúc đợt ngao du lần thứ ba, với khoảng thời gian 35 năm, Đỗ Phủ sống giữa thời kỳ phồn vinh của xã hội phong kiến thời Đường. Công việc chính của ông lúc này là làm thơ, ngao du sơn thuỷ. Với trí thông minh hơn người, Đỗ Phủ bắt đầu sáng tác thơ ca vào lúc bẩy tuổi. Tài cộng với sự cần cù nhẫn nại: “Đọc sách vỡ muôn quyển, Hạ bút như có thần” (Phụng tặng Vi tả thừa trượng nhị thập nhị vận) khiến ông đến năm mười bốn tuổi đã trở thành nhà thơ trẻ được các bậc đàn anh mến phục. Ông còn được các nhà tinh thông âm luật như Lý Phạm, Thôi Điều, danh ca Lý Quy Niên,... mến chuộng. Điều đó chứng tỏ ông còn là một nhà thẩm âm thành thạo.Năm hai mươi tuổi, đúng vào thời kỳ cực thịnh của thời Đường, “Đi xa không phải chọn ngày tốt”, Đỗ Phủ bắt đầu đi ngao du trước sau ba lần với khoảng thời gian trên dưới mười năm. Lần thứ nhất ông đi suốt cả vùng Ngô Việt, Kim Lăng, Tường Châu, Tô Châu, Sơn Âm, Tiền Đường. Năm hai mươi bốn tuổi, ông trở về Lạc Dương thi tiến sĩ. Tuy thi hỏng nhưng ông rất bình thản, tiếp tục cuộc sống ngao du. Lần thứ hai ông đến vùng Tề Triệu, một dải Hà Nam, Sơn Đông, Hà Bắc, ngao du và săn bắt là việc làm chính của ông trong thời kỳ này. Năm 744, ông gặp Lý Bạch tại Lạc Dương. Đại thi hào Lý Bạch hơn ông mười một tuổi lúc này mới từ Trường An trở về vì sự gièm pha của Cao Lực Sĩ. Lần thứ ba Đỗ Phủ cùng Lý Bạch, Cao Thích rủ nhau đi săn bắn, uống rượu ngâm thơ, thăm hỏi kẻ ẩn sĩ gần xa. Mùa thu năm sau (745) hai người chia tay tại quận Lỗ (Duyện Châu, Sơn Đông). Từ đó hai người không gặp nhau lần nào nữa, nhưng tình bạn thì gắn bó suốt đời. Những năm ngao du sơn thuỷ này đã bồi dưỡng tinh thần lạc quan yêu đời và lòng dũng cảm, góp phần làm phong phú nội dung và phong cách thơ ca của Đỗ Phủ. Những bài thơ của Đỗ Phủ sáng tác trong thời kỳ này được truyền lại không nhiều nhưng những bài như: Hoạ ưng, Vọng nhạc, Tráng du, Phòng binh tào hồ mã,... cho thấy phần nào tài năng xuất chúng của nhà thơ từ những ngày còn trẻ.Năm 746, sau khi chia tay Lý Bạch, Đỗ Phủ trở về Trường An, kết thúc quãng đời ngao du đó đây. Lần này ông trở về không ngoài mục đích thực hiện hoài bão từ lâu ấp ủ trong lòng: “Trí quân Nghiêu Thuấn thượng, Tái sử phong tục thuần” (Phụng tặng Vi tả thừa trượng nhị thập nhị vận). Đó chính là ước mơ và lý tưởng chính trị của ông. Theo ông thì đó là con đường duy nhất để thực hiện lý tưởng đó là phải thi đỗ và làm quan. Nhưng tiếc thay, đến đâu ông cũng vấp phải trở ngại. Lúc này Đường Huyền Tông bỏ bê triều chính, giao phó mọi việc cho hai tên gian thần là Lý Lâm Phủ và Dương Quốc Trung. Tuy Đường Huyền Tông hạ chiếu ai có tài thì đi dự thi, nhưng trong khoá thi này Tể tướng Lý Lâm Phủ đánh hỏng hết tất cả các thí sinh để khoe rằng trong những khoá thi trước y sáng suốt lựa chọn hết nhân tài, nên bây giờ chẳng còn một ai và đây cũng là dịp để Lý Lâm Phủ chặn đường tiến cử hiền tài, nhằm củng cố thế lực của phe cánh y. Đỗ Phủ cũng như những thí sinh khác trong đó có Nguyên Kết, một nhà thơ nổi tiếng thời Đường bị đánh hỏng. Từ đây Đỗ Phủ nhận thức đầy đủ hơn bộ mặt chính trị nhà Đường do bọn gian quan nịnh thần khống chế. Để tìm lối thoát, nhiều lần ông gặp gỡ, dâng thư cho các bậc quyền quý mong được tiến cử, nhưng không có kết quả mà cuộc sống thì ngày càng nghèo khốn.Năm 751, nhân Đường Huyền Tông cử hành đại lễ, Đỗ Phủ dâng lên “Tam đại lễ phú”, được Đường Huyền Tông khen ngợi cho ghi tên vào Tập hiền viện, chờ bổ dụng nhưng vì bị Lý Lâm Phủ cản trở nên Đỗ Phủ chờ mãi vẫn không có tin gì. Mãi đến năm 755, Đỗ Phủ được bổ làm Hà Tây huyện uý. Mặc dù bao năm sống khổ cực ở đất Trường An nhưng Đỗ Phủ quyết không nhậm chức vì chức huyện uý này buộc ông phải cúi đầu vâng lệnh quan trên, đánh đập kẻ dưới. Bị ông cự tuyệt, giai cấp thống trị nhà Đường giao cho ông chức quản lý kho quân giới. Thật mỉa mai thay, một con người nuôi hy vọng giúp vua vượt Nghiêu Thuấn giờ đây chỉ làm anh quản lý kho. Đỗ Phủ nhận chức, ông xin phép về huyện Phụng Tiên thuộc tỉnh Thiểm Tây thăm gia đình. Có ngờ đâu khi vừa về đến nhà thì đứa con trai đã chết đói.Từ năm 746 đến năm 755, vì thất ý trên con đường công danh, lại thêm cuộc sống gian nan cực khổ, Đỗ Phủ đã sáng tác hàng loạt bài thơ giàu tính hiện thực xúc động lòng người. Lệ nhân hành, Binh xa hành, Xuất tái, Vịnh hoài ngũ bách tự,... đánh dấu khởi điểm mới trong sáng tác của nhà thơ, một bước phát triển mới trong phong cách sáng tác hiện thực phê phán. Trong số những bài thơ sáng tác thời kỳ này có thể kể bài Tự kinh phó Phụng Tiên vịnh hoài ngũ bách tự là bài thơ tổng kết mười năm khốn khổ trên đất Trường An của ông.Cùng lúc Đỗ Phủ ra làm quan thì thời cuộc cũng có những biến đổi lớn lao. Tháng 11 năm 755, An Lộc Sơn nổi loạn ở Phạm Dương và nhanh chống đánh xuống Lạc Dương, Đồng Quan, Trường An. Tháng 8 năm 756, nghe tin Lý Hanh con của Đường Minh Hoàng lên ngôi ở Linh vũ lấy hiệu Đường Túc Tông, Đỗ Phủ tìm Túc Tông. Giữa đường ông bị giặc bắt giải về Trường An. Nửa năm trời sống trong vùng địch, tận mắt thấy cảnh đất nước bị dày xéo, ông viết khá nhiều bài thơ lâm ly, thống thiết như: Bi Trần Đào, Bi Thanh Bản, Xuân vọng, Ai giang đầu,...Tháng giêng năm Chí Đức thứ nhất (756), không chịu hợp tác với giặc, Đỗ Phủ không quản nguy hiểm tìm đường chốn khỏi Trường An tìm về Phụng Tường, nơi chính quyền mới đóng. Đỗ Phủ được giữ chức Tả thập di. Tháng 9 năm 757, quân nhà Đường lấy lại được Trường An, Đỗ Phủ bèn đưa gia quyến về Trường An. Ở Trường An không được bao lâu, vì dâng sớ cứu Phùng Quán thua trận Trần Đào, nên Đỗ Phủ bị gian thần hãm hại. Tháng 6 năm 758, ông bị biếm ra làm Tư công tham quân, một chức quan coi việc tế tự nghi lễ ở Hoa Châu. Mùa xuân năm 759, trên đường từ Lạc Dương đi Hoa Châu, nhìn thấy cảnh đau thương vô hạn của nhân dân ông viết sáu bài thơ nổi tiếng Tam biệt và Tam lại được người đời truyền tụng.Tháng 7 năm 759, Đỗ Phủ xin từ quan đưa gia đình từ Hoa Châu đến Đồng Cốc. Tại đây, ông phải đi lượm hạt dẻ, đào hoàng tinh bao phen trở về tay không, con cái đói meo kêu khóc. Ông làm bảy bài Càn Nguyên Đồng Cốc huyện tác ca than thở cảnh khốn cùng lưu lạc, xa cách anh em. Chưa đầy hai tháng, ông lại từ Đồng Cốc đến Thành Đô, Tứ Xuyên. Mùa xuân năm 760, nhờ sự giúp đỡ của bạn bè ông dựng mái nhà tranh bên suối Hoãn Hoa, đặt tên là Thảo Đường. Ông gửi thư đi các nơi xin đào, lý, mai, cúc,... các thứ cỏ hoa về trồng. Thảo Đường ở phía tây, quay lưng vào quách Thành Đô, ngoài là đường Thạch Tuân, phường Bích Khê, phía bắc đầm Bách Hoa, phía tây cầu Vạn Lý, suối Hoãn Hoa, gần sông Cẩm, phía tây bắc trông ra núi Tây Lĩnh quanh năm tuyết phủ. Phong cảnh hữu tình, ngôi nhà nhỏ càng đượm màu thanh nhã... Lúc này Thành Đô chưa có nạn binh đao. Ông được sống những ngày thư thái, đánh cờ với vợ, câu cá cùng con, uống rượu với người trong xóm. Ông sinh sống bằng chính mảnh đất của mình, trồng cây thuốc cây ngô. Thế là trong sáng tác xuất hiện một khoảng trời nghệ thuật mới với vẻ đẹp đẹp hoà bình, êm ả của thiên nhiên, xoa dịu những vất vả đắng cay trong cơn loạn lạc. Sáng tác thời kỳ này của ông chủ yếu là thể loại tuyệt cú, tả cảnh điền viên sơn thuỷ và gửi gắm ước mơ trở về cố hương...Tuy nhiên cảnh yên bình ấy không kéo dài được lâu. Mùa thu năm ấy, một cơn gió lốc lật mất mái tranh Thảo Đường, ông làm bài thơ nổi tiếng Mao ốc vị thu phong sở phá ca, mơ ước “Có ngôi nhà lớn muôn gian để che chở cho kẻ nghèo khắp thiên hạ. Bao giờ nhà lớn sừng sững hiện ra, riêng lều ta nát, chịu chết rét cũng được”. Đầu năm Bảo Ứng (762) vì loạn ông đưa gia đình chạy loạn khắp nơi, gần hai năm sau mới trở về lại mái nhà tranh ở Thành Đô. Được Nghiêm Vũ tiến cử, Đỗ Phủ nhận chức Kiểm hiệu công bộ viên ngoại lang. Nghiêm Vũ mất, ông cũng thôi việc. Lúc này bao bạn thân của ông như Lý Bạch, Cao Thích lần lượt từ giã cõi đời, để lại cho ông nỗi buồn vô hạn. Ông lại phiêu bạt tới vùng Quỳ Châu.Qua bao nhiêu năm lưu lạc gian nan, giờ đây sức yếu, tuổi già, ông thường xuyên bị bệnh. Quỳ Châu là nơi có nhiều di tích nổi tiếng như thành Bạch Đế, Bát trận đồ của Gia Cát Võ Hầu, nhà Tống Ngọc, Dữu Tín,... nên ông làm năm bài Chư tướng, năm bài Vịnh hoài cổ tích, tám bài Thu hứng nổi tiếng. Trong hai năm ở Quỳ Châu ông sáng tác 437 bài thơ, chiếm ba phần mười toàn bộ thơ ca của ông, thơ luật chiếm đa số. Chất hiện thực trong thơ ông không thay đổi, vẫn dạt dào tình cảm yêu nước, yêu dân, tuy âm điệu có phần bi thương hơn trước. Ông bỏ công làm thơ luật nhiều hơn trước và đã đẽo gọt, đưa thơ luật lên đến đỉnh cao của nó.Năm Đại Lịch thứ 3 (768), Đỗ Phủ rời Quỳ Châu, lênh đênh trôi dạt khắp nơi đến Giang Lăng, Công An (Hồ Bắc), Nhạc Châu (Nhạc Dương, Hồ Bắc), rồi theo sông Tương ra Đàm Châu (Tương Đàm, Hồ Nam). Ở đây ông gặp lại danh ca Lý Quy Niên và làm bài tuyệt cú Giang Nam phùng Lý Quy Niên nổi tiếng. Đàm Châu có loạn, Đỗ Phủ lại cùng vợ con xuống thuyền đi Hành Châu (Hành Dương, Hồ Nam), dự định theo sông Hán về Trường An. Cuộc sống đói rét, bệnh tật, phiêu bạt cứ dày vò nhà thơ mãi. Mùa đông năm 770, bệnh tật nằm trên thuyền nghe gió thổi, Đỗ Phủ làm bài thơ ba mươi sáu vần Phong tật chu trung phục chẩm thư hoài. Đó cũng là thiên tuyệt bút của nhà thơ, vì chẳng bao lâu sau, mùa đông năm Đại Lịch thứ năm (770), Đỗ Phủ nhắm mắt lìa đời trong chiếc thuyền rách nát lênh đênh trên sông Tương. Những bước thăng trầm mà trầm nhiều hơn thăng của cuộc đời nhà thơ kết thúc.Các nhà thơ Đường hiếm có ai nghèo khổ, lao đao và chịu ảnh hưởng của chiến tranh và loạn lạc nhiều như ông. Sau khi Đỗ Phủ tạ thế, gia nhân vì nghèo túng quá, đành phải tạm đặt linh cữu thi sĩ tại Nhạc Châu (Nhạc Dương, Hoài Nam). Đến đời cháu là Đỗ Tự Nghiệp mới đến Nhạc Châu, đem linh thần về táng tại chân núi Thú Dương ở Lạc Dương (Hà Nam), gần mộ Đỗ Dự và Đỗ Thẩm Ngôn.Khi Đỗ Tự Nghiệp đưa linh thân Đỗ Phủ qua Kinh Châu, có gặp thi sĩ Nguyên Chẩn trên đường đi. Nguyên Chẩn viết một bài minh đề trên mộ Đỗ Phủ, nói rằng: “Từ khi có thi nhân đến giờ, không có ai vĩ đại bằng Tử Mỹ!” Đúng thế, Đỗ Phủ chẳng những vĩ đại đối với Trung Quốc mà còn vĩ đại đối với cả nhân loại nữa...Tác phẩm:Thơ Đỗ Phủ tập trung biểu hiện ba khía cạnh chủ yếu: tinh thần phản kháng cường quyền, lòng yêu thương nhân dân và nhiệt tình yêu nước thiết tha. Thường trong nhiều bài, ba nội dung ấy gắn bó với nhau, hỗ trợ cho nhau tạo nên giá trị hiện thực của thơ ca Đỗ Phủ. Tất cả đều xoay quanh một trục thống nhất là bản thân ông. Từ chính những khổ đau của bản thân mình, ông hoà chung nỗi đau của riêng mình với nỗi đau của nhân dân, của đất nước. Thơ ca của Đỗ Phủ chính là những thiên ký sự về đời ông, một cuộc đời thăng trầm mà trầm nhiều hơn thăng. Tuy chưa thoát khỏi thế giới quan của tư tưởng Nho gia hẹp hòi, nhưng đó là những hạn chế có tính chất thời đại, thơ ca của Đỗ Phủ không vì thế mà giảm đi giá trị của nó. Nhà thơ vẫn hoàn thành sứ mệnh nghệ thuật của mình một cách vẻ vang.Đỗ Phủ kiêm gồm nhiều thể thơ từ ngũ ngôn đến thất ngôn, cổ thể đến cận thể mà qua tay ông đều trở nên xuất sắc, nhuần nhuyễn. Thơ ông được dụng công gọt dũa rất công phu: “Làm người tính thích câu thơ đẹp, Đọc chẳng kinh người chết chẳng thôi” (Hí vi lục tuyệt cú). Ông sở trường về thơ ngũ ngôn, vốn là thể khó làm hay vì câu thơ ngắn, nhịp điệu đơn giản. Nhưng ông vẫn khéo truyền nỗi lòng chân thật, tha thiết vào thơ, nên những bài thơ ngũ ngôn của ông dù rất dài như Vịnh hoài ngũ bách tự, Tráng du, Thuật hoài,... vẫn đầy sức gợi cảm. Thơ thất ngôn đến tay ông mới thật sự đạt đến đỉnh cao, đặc biệt là thơ luật, được ông chăm sóc, đẽo gọt tỉ mỉ mà vẫn trôi chảy tự nhiên, ít ai bì kịp. Đỗ Phủ làm thơ rất dụng công, đúng như ông đã nói “Ngữ bất kinh nhân tử bất hưu” (Lời lẽ chưa kinh động lòng người thì chết chẳng yên). Hơn nữa, Đỗ Phủ nắm rất vững thanh vận trong ngôn ngữ Trung Quốc và sử dụng nó để phát huy được sức thể hiện và truyền cảm của thơ. Có những bài thơ dài hàng chục đến trăm câu, ông chỉ dùng độc vận, hoặc cũng có thể trong một bài ngắn ông lại đổi vần. Dùng vần trắc hay vần bằng ông đều có chủ định. Đỗ Phủ còn sáng tạo những hình ảnh thi vị, mới mẻ, giàu sức truyền cảm, sáng tạo những ý cảnh, khí phách rộng lớn. Ông thật xứng với danh xưng “Thi thánh” mà người đời sau tôn tặng.Đỗ Phủ tiếp thu có chọn lọc, kế thừa có phát huy những thành quả văn học quá khứ rồi hun đúc thành cái của mình, sáng tạo và mới mẻ. Nguyên Chẩn đời sau đánh giá: “Đỗ Tử Mỹ, trên thì làm mờ cả Phong Tao (Thi kinh, Sở từ), dưới thì kiêm cả Thẩm-Tống (Thẩm Thuyên Kỳ, Tống Chi Vấn), lời thơ vượt cả Tô-Lý (Tô Vũ, Lý Lăng), khí thơ nuốt cả Tào-Lưu (Tào Thực, Lưu Côn), che khuất đỉnh cao Nhan-Tạ (Nhan Diên, Tạ Linh Vận), nhuộm cả dòng thắm Dữu-Từ (Dữu Tín, Từ Lăng), có được tất cả thể chế của cổ kim, và hết thảy cái đặc sắc của từng thi sĩ. Người làm thơ xưa nay chưa từng có ai như Đỗ Tử Mỹ” (Đường cố kiểm hiệu Công bộ viên ngoại lang Đỗ quân mộ hệ minh).Đỗ Phủ để lại cho đời hơn 1400 bài thơ, phân thành hai loại lớn: cổ thể thi và cận thể thi. Cổ thể thi là loại thơ tự do, cận thể thi là loại thơ cách luật.- Cổ thể thi: 416 bài trong đó ngũ ngôn cổ thể 271 bài, thất ngôn cổ thể 145 bài.- Cận thể thi: 1037 bài trong đó luật thi có 772 bài, bài luật có 127 bài, tuyệt cú có 138 bài (31 bài ngũ ngôn, 107 bài thất ngôn).Các tác phẩm thơ của Đỗ Phủ được dịch và in thành sách ở Việt Nam:- Thơ Đỗ Phủ (NXB Văn học, 1962)- Thơ Đỗ Phủ (Nhượng Tống dịch, NXB Văn học, 1996)- Đỗ Phủ, nhà thơ thánh với hơn một nghìn bài thơ (Phan Ngọc dịch, NXB Văn hoá - Thông tin, 2001)- Thơ Đỗ Phủ (nhiều người dịch, NXB Thanh niên, 2004) Đỗ Phủ 杜甫 (12/2/712 - 770) tự Tử Mỹ 子美, hiệu Thảo Đường 草堂, Thiếu Lăng dã lão 少陵野老, người đời sau gọi là Đỗ Thiếu Lăng, Đỗ Lăng tẩu, Đỗ công bộ hay còn gọi là Lão Đỗ để phân biệt với Tiểu Đỗ là Đỗ Mục. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình quan lại lâu đời ở huyện Củng, nay thuộc tỉnh Hà Nam. Ông nội là Đỗ Thẩm Ngôn, một nhà thơ nổi tiếng thời Sơ Đường. Cha là Đỗ Nhàn, có làm quan.Thời niên thiếu tính từ năm 712 khi ông mới chào đời cho đến năm 746 kết thúc đợt ngao du lần thứ ba, với khoảng thời gian 35 năm, Đỗ Phủ sống giữa thời kỳ phồn vinh của xã hội phong kiến thời Đường. Công việc chính của ông lúc này là làm thơ, ngao du sơn thuỷ. Với trí thông minh hơn người, Đỗ Phủ bắt đầu sáng tác thơ ca vào lúc bẩy tuổi. Tài cộng với sự cần cù nhẫn nại: “Đọc sách vỡ muôn quyển, Hạ bút như…- Khuyết đề6
- Tân thu 8
Ngao du nam bắc (731-745) 27
- Ẩm trung bát tiên ca9
- Bồi Lý Bắc Hải yến Lịch Hạ đình3
- Dạ yến Tả thị trang10
- Du Long Môn Phụng Tiên tự9
- Dữ Lý thập nhị Bạch đồng tầm Phạm thập ẩn cư4
- Dữ Nhiệm Thành Hứa chủ bạ du nam trì5
- Đăng Duyện Châu thành lâu12
- Đề Trương thị ẩn cư kỳ 110
- Đề Trương thị ẩn cư kỳ 29
- Đối vũ thư hoài, tẩu yêu Hứa thập nhất bạ công4
- Đồng Lý thái thú “Đăng Lịch Hạ cổ thành viên ngoại tân đình”, đình đối Thước hồ2
- Hoạ ưng8
- Kỷ thượng nhân mao trai4
- Lâm Ấp xá đệ thư chí khổ vũ Hoàng Hà phiếm dật đê phòng chi hoạn bộ lĩnh sở ưu nhân ký thử thi dụng khoan kỳ ý2
- Long Môn2
- Lưu cửu pháp tào Trịnh Hà Khâu Thạch Môn yến tập5
- Lý giám trạch kỳ 13
- Lý giám trạch kỳ 23
- Phòng binh tào Hồ mã5
- Phụng ký Hà Nam Vi doãn trượng nhân2
- Quá Tống viên ngoại Chi Vấn cựu trang5
- Tạm như Lâm Ấp chí Thước Sơn hồ đình phụng hoài Lý viên ngoại, suất nhĩ thành hứng3
- Tặng Lý Bạch (Nhị niên khách Đông Đô)5
- Tặng Lý Bạch (Thu lai tương cố thượng phiêu bồng)11
- Tặng Trần nhị bổ khuyết4
- Thiên Bảo sơ, nam tào tiểu tư khấu cữu ư ngã thái phu nhân đường hạ luy thổ vi sơn, nhất quỹ doanh xích, dĩ đại bỉ hủ mộc, thừa chư phần hương từ âu, âu thậm an hĩ, bàng thực từ trúc, cái tư sổ phong, khâm sầm thiền quyên, uyển hữu trần ngoại sổ trí, nãi bất tri, hứng chi sở chí, nhi tác thị thi2
- Vọng nhạc (Đại Tông phù như hà)9
Trường An khốn đốn (746-755) 105
- Bạch Thuỷ minh phủ cữu trạch hỉ vũ, đắc qua tự4
- Bạch ty hành3
- Bần giao hành14
- Bệnh hậu ngộ Vương Kỳ ẩm tặng ca1
- Binh xa hành10
- Bồi chư quý công tử Trượng Bát câu huề kỹ nạp lương vãn tế ngộ vũ kỳ 17
- Bồi chư quý công tử Trượng bát câu huề kỹ nạp lương vãn tế ngộ vũ kỳ 26
- Bồi Lý kim ngô hoa hạ ẩm4
- Bồi Trịnh quảng văn du Hà tướng quân sơn lâm kỳ 16
- Bồi Trịnh quảng văn du Hà tướng quân sơn lâm kỳ 103
- Bồi Trịnh quảng văn du Hà tướng quân sơn lâm kỳ 23
- Bồi Trịnh quảng văn du Hà tướng quân sơn lâm kỳ 33
- Bồi Trịnh quảng văn du Hà tướng quân sơn lâm kỳ 43
- Bồi Trịnh quảng văn du Hà tướng quân sơn lâm kỳ 53
- Bồi Trịnh quảng văn du Hà tướng quân sơn lâm kỳ 63
- Bồi Trịnh quảng văn du Hà tướng quân sơn lâm kỳ 73
- Bồi Trịnh quảng văn du Hà tướng quân sơn lâm kỳ 83
- Bồi Trịnh quảng văn du Hà tướng quân sơn lâm kỳ 93
- Cao đô hộ thông mã hành3
- Cố vũ vệ tướng quân vãn từ kỳ 13
- Cố vũ vệ tướng quân vãn từ kỳ 23
- Cố vũ vệ tướng quân vãn từ kỳ 33
- Cửu nhật Dương Phụng Tiên hội Bạch Thuỷ Thôi minh phủ3
- Cửu nhật Khúc Giang3
- Cửu nhật ký Sầm Tham2
- Dạ thính Hứa thập nhất Tổn tụng thi ái nhi hữu tác2
- Dữ Hộ huyện Nguyên đại thiếu phủ yến Mỹ Bi3
- Đầu giản Hàm, Hoa lưỡng huyện chư tử6
- Đầu tặng Kha Thư khai phủ Hàn nhị thập vận1
- Đỗ Vị trạch thủ tuế3
- Đồng chư công “Đăng Từ Ân tự tháp”5
- Đông nhật hữu hoài Lý Bạch7
- Đông nhật Lạc thành bắc, yết Huyền Nguyên Hoàng Đế miếu1
- Hạ nhật Lý công kiến phỏng3
- Hậu xuất tái kỳ 16
- Hậu xuất tái kỳ 26
- Hậu xuất tái kỳ 36
- Hậu xuất tái kỳ 46
- Hậu xuất tái kỳ 56
- Hí giản Trịnh quảng văn kiêm trình Tô tư nghiệp6
- Huyền Đô đàn ca ký Nguyên dật nhân3
- Khiển hứng (Ký Tử hảo nam nhi)4
- Khổ vũ phụng ký Lũng Tây công kiêm trình Vương trưng sĩ1
- Khúc giang tam chương, chương ngũ cú6
- Khứ hĩ hành3
- Kiều Lăng thi tam thập vận, nhân trình huyện nội chư quan1
- Kim tịch hành - Tự Tề, Triệu tây quy chí Hàm Dương tác5
- Kính tặng Trịnh gián nghị thập vận3
- Ký Cao tam thập ngũ thư ký2
- Lạc Du viên ca3
- Lệ nhân hành6
- Mỹ Bi hành2
- Mỹ Bi tây nam đài1
- Nguỵ tướng quân ca3
- Phụng đồng Quách cấp sự “Thang đông linh tưu tác”2
- Phụng lưu tặng tập hiền viện Thôi, Vu nhị học sĩ2
- Phụng tặng thái thường Trương khanh nhị thập vận1
- Phụng tặng Tiên Vu kinh triệu nhị thập vận1
- Phụng tặng Vi tả thừa trượng nhị thập nhị vận6
- Phụng Tiên Lưu thiếu phủ tân hoạ sơn thuỷ chướng ca3
- Quắc quốc phu nhân7
- Sa Uyển hành1
- Tặng đặc tiến Nhữ Dương vương nhị thập vận1
- Tặng Điền cửu phán quan Lương Khâu3
- Tặng hàn lâm Trương tứ học sĩ1
- Tặng hiến nạp sứ khởi cư Điền xá nhân Trừng2
- Tặng tì bộ Tiêu lang trung thập huynh2
- Tặng Vi tả thừa trượng2
- Thán đình tiền cam cúc hoa8
- Thành Tây bi phiếm chu6
- Thị tòng tôn Tế1
- Thiên Dục phiêu kỵ ca6
- Thôi phò mã sơn đình yến tập3
- Thông mã hành1
- Thu vũ thán kỳ 110
- Thu vũ thán kỳ 210
- Thu vũ thán kỳ 39
- Thừa Thẩm bát trượng Đông Mỹ trừ thiện bộ viên ngoại, trở vũ vị toại trì hạ, phụng ký thử thi1
- Thướng Vi tả tướng nhị thập vận1
- Tiền xuất tái kỳ 17
- Tiền xuất tái kỳ 27
- Tiền xuất tái kỳ 36
- Tiền xuất tái kỳ 46
- Tiền xuất tái kỳ 56
- Tiền xuất tái kỳ 68
- Tiền xuất tái kỳ 77
- Tiền xuất tái kỳ 87
- Tiền xuất tái kỳ 96
- Tống Bùi nhị Cầu tác uý Vĩnh Gia5
- Tống Cao tam thập ngũ thư ký1
- Tống Khổng Sào Phủ tạ bệnh quy du Giang Đông, kiêm trình Lý Bạch7
- Tống Sái Hy Lỗ đô uý hoàn Lũng Hữu, nhân ký Cao tam thập ngũ thư ký2
- Tống Trương thập nhị tham quân phó Thục Châu, nhân trình Dương ngũ thị ngự3
- Tống Vi thư ký phó An Tây3
- Trịnh phò mã trạch yến động trung4
- Trùng du Hà thị kỳ 14
- Trùng du Hà thị kỳ 24
- Trùng du Hà thị kỳ 33
- Trùng du Hà thị kỳ 43
- Trùng du Hà thị kỳ 54
- Tuý ca hành - Biệt tòng điệt Cần lạc đệ quy, cần nhất tác khuyến2
- Tuý thì ca - Tặng Quảng Văn quán bác sĩ Trịnh Kiền7
- Từ khanh nhị tử ca2
- Tự kinh phó Phụng Tiên huyện vịnh hoài ngũ bách tự7
- Xuân nhật ức Lý Bạch14
Lưu vong làm quan (756-759) 249
- Ai giang đầu14
- Ai vương tôn8
- Bạch Sa độ4
- Bạch Thuỷ huyện Thôi thiếu phủ thập cửu ông cao trai tam thập vận1
- Bành Nha hành9
- Bắc chinh - Bắc quy chí Phụng Tường, mặc chế phóng vãng Phu Châu tác7
- Bất quy5
- Bệnh mã7
- Bi Thanh Bản11
- Bi Trần Đào12
- Biệt Tán thượng nhân2
- Bức trắc hành tặng Tất Diệu [Bức trắc hành tặng Tất Tứ Diệu]1
- Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ 111
- Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ 211
- Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ 311
- Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ 411
- Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ 511
- Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ 68
- Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ 711
- Cát Bá độ2
- Chí Đức nhị tải, Phủ tự kinh Kim Quang môn xuất, gian đạo quy Phụng Tường, Càn Nguyên sơ tòng Tả thập di di Hoa Châu duyện, dữ thân cố biệt, nhân xuất thử môn, hữu bi vãng sự7
- Chí nhật khiển hứng phụng ký bắc tỉnh cựu các lão lưỡng viện cố nhân kỳ 14
- Chí nhật khiển hứng phụng ký bắc tỉnh cựu các lão lưỡng viện cố nhân kỳ 25
- Cửu nhật Lam Điền Thôi thị trang11
- Cửu Thành cung1
- Dã vọng (Thanh thu vọng bất cực)14
- Di Nguyễn ẩn cư2
- Diêm tỉnh4
- Đại Vân tự Tán công phòng kỳ 12
- Đại Vân tự Tán công phòng kỳ 22
- Đại Vân tự Tán công phòng kỳ 32
- Đại Vân tự Tán công phòng kỳ 42
- Đảo y21
- Đắc gia thư2
- Đắc xá đệ tiêu tức (Loạn hậu thuỳ quy đắc)8
- Đắc xá đệ tiêu tức (Phong xuy tử kinh thụ)5
- Đắc xá đệ tiêu tức kỳ 1 (Cận hữu Bình Âm tín)5
- Đắc xá đệ tiêu tức kỳ 2 (Nhữ noạ quy vô kế)5
- Đề Lý tôn sư “Tùng thụ chướng tử” ca2
- Đề tỉnh trung viện bích4
- Đề Trịnh huyện đình tử5
- Đề Trịnh thập bát trước tác trượng cố cư3
- Đoan ngọ nhật tứ y3
- Đồ bộ quy hành3
- Độc chước thành thi5
- Độc lập5
- Đối tuyết (Chiến khốc đa tân quỷ)9
- Đồng bình4
- Đông lâu5
- Đông mạt dĩ sự chi đông đô Hồ Thành đông ngộ Mạnh Vân Khanh, phục quy Lưu Hạo trạch túc yến, ẩm tán nhân vi tuý ca1
- Đồng Quan lại7
- Giai nhân12
- Hạ dạ thán2
- Hạ nhật thán2
- Hàn Giáp5
- Hành thứ Chiêu Lăng1
- Hí tặng Văn Hương Tần thiếu phủ đoản ca5
- Hỉ tình1
- Hỉ văn quan quân dĩ lâm tặc cảnh, nhị thập vận1
- Hoạ cốt hành2
- Hoạ Giả Chí xá nhân “Tảo triều Đại Minh cung” chi tác9
- Hối nhật tầm Thôi Tập, Lý Phong1
- Huỳnh hoả10
- Hữu hoài Thai châu Trịnh thập bát tư hộ Kiền5
- Khiển hoài (Sầu nhãn khán sương lộ)8
- Khiển hứng ngũ thủ (I) kỳ 1 (Trập long tam đông ngoạ)4
- Khiển hứng ngũ thủ (I) kỳ 2 (Tích giả Bàng Đức công)5
- Khiển hứng ngũ thủ (I) kỳ 3 (Ngã kim nhật dạ ưu)4
- Khiển hứng ngũ thủ (I) kỳ 4 (Bồng sinh phi vô căn)4
- Khiển hứng ngũ thủ (I) kỳ 5 (Tích tại Lạc Dương thì)4
- Khiển hứng ngũ thủ (II) kỳ 1 (Sóc phong phiêu Hồ nhạn)5
- Khiển hứng ngũ thủ (II) kỳ 2 (Trường lăng nhuế đầu nhi)4
- Khiển hứng ngũ thủ (II) kỳ 3 (Tất hữu dụng nhi cát)4
- Khiển hứng ngũ thủ (II) kỳ 4 (Mãnh hổ bằng kỳ uy)4
- Khiển hứng ngũ thủ (II) kỳ 5 (Triêu phùng phú gia táng)4
- Khiển hứng ngũ thủ (III) kỳ 1 (Thiên dụng mạc như long)4
- Khiển hứng ngũ thủ (III) kỳ 2 (Địa dụng mạc như mã)4
- Khiển hứng ngũ thủ (III) kỳ 3 (Đào Tiềm tịch tục ông)4
- Khiển hứng ngũ thủ (III) kỳ 4 (Hạ công nhã Ngô ngữ)4
- Khiển hứng ngũ thủ (III) kỳ 5 (Ngô liên Mạnh Hạo Nhiên)4
- Khiển hứng tam thủ kỳ 1 (Há mã cổ chiến trường)5
- Khiển hứng tam thủ kỳ 2 (Cao thu đăng tái sơn)4
- Khiển hứng tam thủ kỳ 3 (Phong niên thục vân trì)4
- Khổ trúc4
- Khốc Trường Tôn thị ngự4
- Không nang5
- Khúc giang bồi Trịnh bát trượng nam sử ẩm5
- Khúc giang đối tửu12
- Khúc giang đối vũ16
- Khúc giang kỳ 129
- Khúc giang kỳ 231
- Khương thôn kỳ 1 11
- Khương thôn kỳ 27
- Khương thôn kỳ 37
- Kiêm hà4
- Kiếm Môn1
- Kiến huỳnh hoả9
- Ký Bành Châu Cao tam thập ngũ sứ quân Thích, Hào Châu Sầm nhị thập thất trưởng sử Tham tam thập vận1
- Ký Cao tam thập ngũ chiêm sự4
- Ký Lý thập nhị Bạch nhị thập vận4
- Ký Nhạc Châu Giả tư mã lục trượng, Ba Châu Nghiêm bát sứ quân lưỡng các lão ngũ thập vận1
- Ký Tán thượng nhân2
- Ký Trương thập nhị sơn nhân Bưu tam thập vận1
- Lạp nhật4
- Lập thu hậu đề6
- Long Môn các3
- Long Môn trấn1
- Lộ phùng Tương Dương Dương thiếu phủ nhập thành, hí trình Dương viên ngoại Oản2
- Lộc Đầu sơn1
- Lưỡng Đương huyện Ngô thập thị ngự giang thượng trạch1
- Lưu biệt Giả, Nghiêm nhị các lão lưỡng viện bổ khuyết, đắc vân tự2
- Lưu Hoa Môn5
- Lý Hộ huyện trượng nhân Hồ mã hành2
- Mộc Bì lĩnh1
- Mộng Lý Bạch kỳ 113
- Mộng Lý Bạch kỳ 211
- Nê Công sơn2
- Nghĩa cốt hành3
- Ngọc Hoa cung3
- Ngũ Bàn3
- Ngụ mục5
- Nguyên nhật ký Vi thị muội3
- Nguyệt (Thiên thượng thu kỳ cận)8
- Nguyệt dạ22
- Nguyệt dạ ức xá đệ19
- Nhân Hứa bát phụng ký Giang Ninh Mân thượng nhân4
- Nhất bách ngũ nhật dạ đối nguyệt6
- Nhật mộ (Nhật lạc phong diệc khởi)5
- Pháp Kính tự4
- Phát Đồng Cốc huyện3
- Phát Tần Châu2
- Phế huề4
- Phi Tiên các4
- Phiên kiếm5
- Phụng bồi Trịnh phò mã Vi Khúc kỳ 14
- Phụng bồi Trịnh phò mã Vi Khúc kỳ 24
- Phụng đáp Sầm Tham bổ khuyết kiến tặng5
- Phụng Hoàng đài4
- Phụng tặng Nghiêm bát các lão2
- Phụng tặng Vương trung doãn Duy5
- Phụng tống Quách trung thừa kiêm thái bộc khanh sung Lũng Hữu tiết độ sứ tam thập vận1
- Quan An Tây binh quá phó Quan Trung đãi mệnh kỳ 14
- Quan An Tây binh quá phó Quan Trung đãi mệnh kỳ 24
- Quan binh4
- Quan định hậu hý tặng6
- Quy yến4
- Sấu mã hành2
- Sơ nguyệt8
- Sơn tự (Dã tự tàn tăng thiểu)5
- Tá hoàn sơn hậu ký kỳ 14
- Tá hoàn sơn hậu ký kỳ 24
- Tá hoàn sơn hậu ký kỳ 33
- Tái Lô Tử2
- Tam Xuyên quan thuỷ trướng nhị thập vận1
- Tảo thu khổ nhiệt đồi án tương nhưng6
- Tặng Tất tứ Diệu4
- Tặng Vệ bát xử sĩ14
- Tân An lại7
- Tần Châu kiến sắc mục Tiết tam Cừ thụ tư nghị lang, Tất tứ Diệu trừ giám sát, dữ nhị tử hữu cố viễn, hỉ thiên quan kiêm thuật tác cư, hoàn tam thập vận1
- Tần Châu tạp thi kỳ 017
- Tần Châu tạp thi kỳ 028
- Tần Châu tạp thi kỳ 036
- Tần Châu tạp thi kỳ 045
- Tần Châu tạp thi kỳ 055
- Tần Châu tạp thi kỳ 065
- Tần Châu tạp thi kỳ 075
- Tần Châu tạp thi kỳ 085
- Tần Châu tạp thi kỳ 095
- Tần Châu tạp thi kỳ 105
- Tần Châu tạp thi kỳ 116
- Tần Châu tạp thi kỳ 125
- Tần Châu tạp thi kỳ 135
- Tần Châu tạp thi kỳ 145
- Tần Châu tạp thi kỳ 155
- Tần Châu tạp thi kỳ 165
- Tần Châu tạp thi kỳ 175
- Tần Châu tạp thi kỳ 185
- Tần Châu tạp thi kỳ 196
- Tần Châu tạp thi kỳ 205
- Tân hôn biệt11
- Tẩy binh mã7
- Tây Kỳ thôn tầm trí thảo đường địa, dạ túc Tán công thổ thất kỳ 11
- Tây Kỳ thôn tầm trí thảo đường địa, dạ túc Tán công thổ thất kỳ 21
- Thạch Cự các2
- Thạch Hào lại16
- Thạch Khám2
- Thái Bình tự tuyền nhãn1
- Thanh Dương giáp3
- Thành Đô phủ4
- Thị điệt Tá5
- Thiên hà6
- Thiên mạt hoài Lý Bạch15
- Thiết Đường giáp2
- Thôi thị đông sơn thảo đường4
- Thu địch5
- Thu kinh kỳ 13
- Thu kinh kỳ 24
- Thu kinh kỳ 34
- Thù Mạnh Vân Khanh6
- Thu nhật Nguyễn ẩn cư trí giới tam thập thúc5
- Thuật hoài5
- Thuỷ Hội độ2
- Thuỳ lão biệt6
- Tị địa5
- Tích biệt hành, tống Lưu bộc xạ phán quan1
- Tịch phong4
- Tích Thảo lĩnh2
- Tòng nhân mịch tiểu hồ tôn hứa ký3
- Tô Đoan, Tiết Phúc diên giản Tiết Hoa tuý ca2
- Tống Dương lục phán quan sứ tây phiên1
- Tống Giả các lão xuất Nhữ Châu5
- Tống hàn lâm Trương tư mã Nam Hải lặc bi4
- Tống Hứa bát thập di quy Giang Ninh cận tỉnh, Phủ tích thì thường khách du thử huyện ư Hứa sinh xử khất Ngoã Quan tự Duy Ma đồ dạng chí chư thiên mạt2
- Tống Linh Châu Lý phán quan5
- Tống Lý hiệu thư nhị thập lục vận1
- Tống nhân tòng quân3
- Tống Phàn nhị thập tam thị ngự phó Hán Trung phán quan1
- Tống suất phủ Trình lục sự hoàn hương1
- Tống tòng đệ Á phó Hà Tây phán quan1
- Tống Trịnh thập bát Kiền biếm Thai Châu tư hộ, thương kỳ lâm lão hãm tặc chi cố, khuyết vi diện biệt, tình hiện ư thi2
- Tống Trường Tôn cửu thị ngự phó Vũ Uy phán quan1
- Tống Vi thập lục bình sự sung Đồng Cốc quận phòng ngự phán quan1
- Tống viễn13
- Trịnh phò mã trì đài hỉ ngộ Trịnh quảng văn đồng ẩm3
- Trùng kinh Chiêu Lăng2
- Trừ giá5
- Túc Tán công phòng4
- Tuyên Chính điện thoái triều vãn xuất tả dịch4
- Tự kinh thoán chí hỷ đạt hạnh tại sở kỳ 16
- Tự kinh thoán chí hỷ đạt hạnh tại sở kỳ 24
- Tự kinh thoán chí hỷ đạt hạnh tại sở kỳ 34
- Tử Thần điện thoái trào khẩu hào3
- Tức sự (Văn đạo Hoa Môn phá)3
- Ức ấu tử4
- Ức đệ kỳ 111
- Ức đệ kỳ 210
- Vãn hành khẩu hào4
- Vạn Trượng đàm2
- Vãn xuất tả dịch3
- Văn Hương Khương thất thiếu phủ thiết khoái hí tặng trường ca2
- Vọng nhạc (Tây Nhạc lăng tằng tủng xứ tôn)4
- Vô gia biệt7
- Vũ quá Tô Đoan - Đoan trí tửu3
- Vũ tình (Thiên tế thu vân bạc)5
- Xích Cốc2
- Xích Cốc tây yêm nhân gia4
- Xuân túc tả tỉnh7
- Xuân vọng22
- Xúc chức4
Phiêu bạc tây nam (760-770) 1075
Trang 1 500
Trang 2 500
Trang 3 75
Tuyển tập chung
Đường thi tam bách thủ - 唐詩三百首
- Ai giang đầu14
- Ai vương tôn8
- Bát trận đồ22
- Biệt Phòng thái uý mộ10
- Binh xa hành10
- Các dạ16
- Chí Đức nhị tải, Phủ tự kinh Kim Quang môn xuất, gian đạo quy Phụng Tường, Càn Nguyên sơ tòng Tả thập di di Hoa Châu duyện, dữ thân cố biệt, nhân xuất thử môn, hữu bi vãng sự7
- Cổ bách hành6
- Dã vọng (Tây sơn bạch tuyết Tam Thành thú)19
- Đan thanh dẫn, tặng Tào Bá tướng quân4
- Đăng cao41
- Đăng lâu7
- Đăng Nhạc Dương lâu24
- Giai nhân12
- Giang Nam phùng Lý Quy Niên12
- Khách chí19
- Ký Hàn gián nghị5
- Lệ nhân hành6
- Lữ dạ thư hoài18
- Mộng Lý Bạch kỳ 113
- Mộng Lý Bạch kỳ 211
- Nguyệt dạ22
- Nguyệt dạ ức xá đệ19
- Phụng Tế dịch trùng tống Nghiêm công tứ vận9
- Quan Công Tôn đại nương đệ tử vũ “Kiếm khí” hành7
- Tặng Vệ bát xử sĩ14
- Thiên mạt hoài Lý Bạch15
- Thục tướng20
- Túc phủ9
- Văn quan quân thu Hà Nam, Hà Bắc11
- Vi Phúng lục sự trạch quan Tào tướng quân hoạ mã đồ3
- Vịnh hoài cổ tích kỳ 1 - Dữu Tín gia8
- Vịnh hoài cổ tích kỳ 2 - Tống Ngọc gia7
- Vịnh hoài cổ tích kỳ 3 - Vịnh Chiêu Quân11
- Vịnh hoài cổ tích kỳ 4 - Vĩnh An cung, Tiên Chủ miếu9
- Vịnh hoài cổ tích kỳ 5 - Vũ Hầu miếu9
- Vọng nhạc (Đại Tông phù như hà)9
- Xuân túc tả tỉnh7
- Xuân vọng22
Thiên gia thi - 千家詩
- Bồi chư quý công tử Trượng Bát câu huề kỹ nạp lương vãn tế ngộ vũ kỳ 17
- Bồi chư quý công tử Trượng bát câu huề kỹ nạp lương vãn tế ngộ vũ kỳ 26
- Cửu nhật Lam Điền Thôi thị trang11
- Đăng Duyện Châu thành lâu12
- Đăng Nhạc Dương lâu24
- Đề Huyền Vũ thiền sư ốc bích5
- Giang thôn14
- Hoạ Giả Chí xá nhân “Tảo triều Đại Minh cung” chi tác9
- Khúc giang kỳ 129
- Khúc giang kỳ 231
- Lữ dạ thư hoài18
- Nam lân - Dữ Chu sơn nhân10
- Ngọc Đài quán kỳ 24
- Quan Lý Cố Thỉnh tư mã đệ sơn thuỷ đồ kỳ 26
- Tần Châu tạp thi kỳ 196
- Tân thu 8
- Thu hứng kỳ 140
- Thu hứng kỳ 311
- Thu hứng kỳ 58
- Thu hứng kỳ 78
- Tiểu chí8
- Tuyệt cú mạn hứng kỳ 514
- Tuyệt cú mạn hứng kỳ 711
- Tuyệt cú tứ thủ kỳ 336
- Vũ miếu6
- Xuân túc tả tỉnh7
Giới thiệu về nhà thơ Đỗ Phủ
Đăng bởi Vanachi vào 10/02/2006 17:51Đã sửa 1 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 11/02/2006 07:31Có 4 người thích
Nếu Lý Bạch được người đời gọi là Thi Tiên thì Đỗ Phủ được gọi là Thi Thánh - vị Thánh trong làng thơ. Gọi là Thánh không chỉ vì tâm hồn cao đẹp mà còn vì nghệ thuật thơ ca bậc thầy của ông. Nhà thơ Nguyễn Du của chúng ta khi đi sứ Trung Quốc có đến viếng mộ ông và viết mấy câu thơ:
Thiên cổ văn chương thiên cổ sưBình sinh bội phục bất thường li(Nghìn thưở văn chương đúng bậc thầyTrọn đời khâm phục dám đơn sai)- Lỗi Dương Đỗ Thiếu lăng mộĐỗ Phủ sinh năm 712 mất năm 770, người huyện Củng tỉnh Hà Nam, xuất thân trong một gia đình Nho học, làm quan suốt mấy đời, nhưng đến đời ông thì sa sút nghiêm trọng. Ông lại sống trọn vẹn trong hoành cảnh loạn ly (loạn An Sử), ngược xuôi chạy loạn, gia đình ly tán, con chết đói... Và rồi ông cũng chết thảm thương vì đói và bệnh tật trong một chiếc thuyền rách nát trên sông Tương nơi đất khách quê người. Ông để lại hơn 1400 bài thơ.Thơ của Đỗ Phủ thấm máu và nước mắt của nhân dân trong thời buổi loạn ly. Nếu trong thơ Lý Bạch có dòng sông hát ca, chim muông ríu rít, vầng trăng duyên dáng thì trong thơ Đỗ Phủ dòng sông nức nở, vầng trăng thổn thức và chim muông, cỏ cây câm lặng, úa vàng.Người đời gọi thơ ông là một tập “thi sử” (một bộ sử viết bằng thơ). Men theo năm tháng của các bài thơ ra đời, chúng ta có thể thấy được những nét chính của đời sống chính trị, xã hội đời Đường trước và sau loạn An Sử. Trước loạn An Sử (755-763) hai hiện tượng xã hội nổi bật là thói ăn chơi xa hoa, dâm dât của vua quan và chiến tranh bành trướng xâm lược. Nhà thơ lớn của nhân dân đã cùng nhịp thở với trăm họ, đứng ở vị trí của những nạn nhân mà nói lên niềm uẩn ức không kìm nén được. Lệ nhân hành miêu tả cảnh yến tiệc linh đình của chị em Dương Quý Phi cùng với các vương tôn công tử bên bờ sông. Đũa làm bằng sừng tê ngưu. Thức ăn là bướu lạc đà. Kèn sáo vang động cả quỷ thần mà họ không buồn nghe, thức ăn quý do bếp nhà vua dâng họ không buồn gắp. Giọng thơ đều đều như khách quan mà không giấu được uẩn ức.Tự kinh đô phó Phụng Tiên (Từ kinh đô về huyện Phụng Tiên) làm vào năm 755, năm đó An Lộc Sơn đã khởi loạn nhưng chưa vào đến Trường An, cũng là năm đói kém, người chết như rạ. Nhưng Đường Minh Hoàng vẫn cùng Dương Quý Phi yến ẩm ở Ly Sơn. Đỗ Phủ vừa nhậm chức (một chức quan nhỏ, coi kho vũ khí). Trên đường về thăm nhà, mục kích cảnh tượng xa hoa, dâm dật của vua quan, ông làm một mạch 100 câu thơ gồm 500 chữ, tuôn chảy theo nỗi lòng uẩn ức bấy nay. Trong đó có những câu nổi tiếng được người đời truyền tụng:
Chu môn tửu nhục xúLộ hữu đống tử cốtVinh khô chỉ xích dịTrù trướng nan tái thuật(Cửa son rượu thịt ôiNgoài đường đầy xác chếtSướng khổ cách gang tấcQuặn lòng không nói được)Đất nước điêu linh, nhân dân cơ cực, nhưng triều đình vẫn liên tục phát động chiến tranh, mở mang bờ cõi. Đỗ Phủ đã đứng về phía những người dân bị bắt phu bắt lính, kịch liệt lên án chiến tranh bành trướng xâm lược. Binh xa hành (Bài ca xuất trận) phản ảnh tâm trạng của người ra đi và người tiễn đưa thật ảm đạm. Họ chỉ là con thiêu thân phục vụ tham vọng chinh phục nước Nam Chiếu (vùng Vân Nam bây giờ) để mở rộng biên cương. Nhà thơ còn làm các bài Tiền xuất tái, Hậu xuất tái (Xuất tái là ra cửa ải) châm biếm bọn tướng tá lấy việc chinh phạt để tiến thân. Ông lên tiếng chất vấn nhà vua:
Mỗi nước có biên thuỳChỉ cần chặn xâm lượcTàn sát để làm chi?Sự xa hoa, dâm dật, bỏ mặc chính sự cùng với việc động binh liên tục đã dẫn đến sự rối loạn của nhà Đường. Loạn An Sử nổ ra, triều đình phải mất 8 năm mới dẹp yên được. Nhân dân rơi vào cảnh lầm than, điêu đứng. Hai hiện tượng nổi bật trong những năm tháng loạn ly này là cảnh bắt lính, bắt phu và cảnh chia ly thê thảm. Chùm thơ Tam lại (ba bài nói về cảnh nha lại bắt lính, bắt phu ở Đồng Quan, Tân An và Thạch Hào). Tam biệt (ba bài nói về cảnh ly biệt giữa đôi vợ chồng già giữa đôi vợ chồng trẻ và giữa một người lính già với ngôi nhà bị phá rụi: Thuỳ lão biệt, Tân hôn biệt, Vô gia biệt). Bài Thạch Hào lại (Nha lại bắt lính ở Thạch Hào) đã vẽ nên một cảnh tượng điển hình: Nha lại chờ lúc mọi người ngủ say để xông vào nhà bắt lính. Cả gia đình (mà nhà thơ ngủ nhờ trên đường về nhậm chức ở Hoa Châu thăm vợ nơi tản cư) có ba con trai đều ra trận, hai đứa đã chết; trong nhà chỉ còn hai ông bà già và một cô con dâu với đứa bé còn bú trên tay. Thế mà Nha lại vẫn đòi người, ông già phải vượt tường trốn và bà già phải đi thay để nấu cơm cho quân sĩ. Nhà thơ tự nén mình trước tiếng khóc uẩn ức của xóm làng khi bọn Nha lại kéo đi, đêm đen lại trùm lên xóm làng hoang vắng. Bài Tân hôn biệt (Cuộc chia ly của đôi vợ chồng trẻ mới cưới) mô tả cảnh tượng thê thảm của người vợ trẻ:
Cưới chiều hôm, vắng sớm maiDuyên đâu lật đật cho người dở dang.Tam lại, Tam biệt là chùm thơ nổi tiếng của Đỗ Phủ. Gọi thơ ông là Thi sử bởi vì cái ấn tượng binh đao khói lửa nội chiến mà thơ ông gieo vào lòng người còn sâu sắc gấp trăm lần các bộ sách viết về thời này.Nhưng Đỗ Phủ không hề “viết sử” một cách khách quan. Ông đã đứng hẳn về phía “dân đen”, coi nỗi đau của họ như nỗi đau của chính mình, ước mong san sẻ gánh năng cơm áo và dằn vặt tâm linh với họ. Tư tưởng nhân đạo của Đỗ Phủ là đỉnh cao của chủ nghĩa nhân đạo dưới thời phong kiến. Một nhà nho suốt đời long đong lận đận nhưng luôn quan tâm đến vận nước, mà quan tâm đến vận nước cốt để giảm nhẹ gánh nặng cơm áo và sự dằn vặt tâm linh của người dân bình thường. Bài Mao ốc vi thu phong sở phá ca (Túp lều tranh bị gió cuốn sập) thể hiện rõ nhân cách của ông. Trên đường chạy loạn, nhờ người bạn giúp đỡ ông dựng được túp lều tranh, nhưng rồi bị gió phá sập. Trong cảnh màn trời chiếu đất ông đau đớn cho thân phận riêng và không quên nghĩ đến những “hàn sĩ” như mình. Ông có ước mơ thật cao cả:
Ước gì có được ngôi nhà vạn gianChe cho kẻ sĩ nghèo trong thiên hạ, ai nấy đều hân hoan.Ước mơ cũng được thể hiện trong bài Hựu trình Ngô lang (Lại nhắn người họ Ngô). Cũng trên đường chạy loạn, ông thuê được một căn nhà nhỏ. Trong vườn có cây táo, hằng ngày bà lão hàng xóm thường chui qua hàng rào nhặt táo rụng cầm hơi. Ra đi, ông nhắn người chủ mới chớ có rào kín mảnh vườn, để bà lão kia còn có thể sống qua ngày. Ước mơ thật tội nghiệp, nhưng cũng thật vĩ đại. Cuối cùng ông còn rút ra được bài học: ăn trộm là do nghèo đói, nghèo đói là do thuế khoá, chiến tranh.Chung quy, Đỗ Phủ đã cùng nhịp thở với nhân dân của mình trước vận nước và trong cảnh đói nghèo, loạn ly. Ông viết về mọi đề tài. Nhưng hầu như không có đề tài nào thoát ly thời cuộc. “Đỗ Phủ là nhà thơ chính trị vĩ đại nhất trong lịch sử văn học Trung Quốc” (Lịch sử văn học Trung Quốc, Viện Khoa học Trung Quốc, 1988).Khác với Lý Bạch - nhà thơ lãng mạn, ngòi bút Đỗ Phủ luôn bám sát đời sống, hay nói như Lương Khả Siêu, ông là nhà thơ “tả thực chi tiết”. Ông lại đặc biệt chú trọng ngôn từ thơ ca, chủ trương “ngữ bất kinh nhân, tử bất hưu” (lời thơ không làm người ta kinh hoàng thì chết không nhắm mắt). Do vậy thơ ông gieo vào lòng người đọc ấn tượng sâu sắc về cuộc sống, về nỗi cơ cực của nhân dân, về số phận “gian nan khổ hận” cùng cảnh ngộ với “dân đen” của chính ông. Đặc biệt Đỗ Phủ có nhiều bài luật thi rất chuẩn mực, chính tỏ sự tu dưỡng về thơ rất uyên thâm của Thi Thánh.Ảnh hưởng của Đỗ Phủ đến đời sau rất sâu sắc. Đó là ảnh hưởng về nhân cách, luôn luôn đồng cam cộng khổ với nhân dân, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ. Đó còn là ảnh hưởng về con đường sáng tác thơ ca: thành công của nhà thơ tuỳ thuộc vào vốn sống của nhà thơ, vào độ chính trong quá trình chiếm lĩnh hiện thực. Đó còn là tài năng thơ ca, một tài năng siêu việt được Nguyễn Du tôn làm bậc thầy của văn chương muôn thuở.Lộ tòng kim dạ bạch,Nguyệt thị cố hương minh.☆☆☆☆☆ 145.00
Từ khóa » Thơ đỗ Phũ
-
[Bài Thơ] Một Số Bài Thơ Hay Của Đỗ Phủ - Sưu Tầm
-
Thơ Đỗ Phủ: Top 6 Bài Thơ Hay Của Đỗ Phủ - Dr. Khỏe Review
-
Những Bài Thơ Của Nhà Thơ Đỗ Phủ - TKaraoke
-
THƠ ĐỖ PHỦ - TRANG THƠ HOÀNG NGUYÊN CHƯƠNG
-
Đỗ Phủ – Wikipedia Tiếng Việt
-
Thi Ca Hoài Niệm - Giới Thiệu Về Nhà Thơ Đỗ Phủ Nếu Lý Bạch được ...
-
Đỗ Phủ: Ánh Trăng Sáng Muôn Thuở Của Thơ Ca Trung Hoa - Revelogue
-
Một Bài Thơ Đường Của Đỗ Phủ
-
Đỗ Phủ - “Thi Thánh” Thời Đường, Định Hình Thơ Ca Trung Hoa ...
-
Nhà Thơ Đỗ Phủ Tiểu Sử Cuộc đời Và Sự Nghiệp - WRHC
-
Đỗ Phủ - Những Vần Thơ Còn Mãi Với Thời Gian | VOV.VN
-
Tác Giả: Đỗ Phủ - Giỏi Văn