Trang Thơ Lưu Trọng Lư (100 Bài Thơ) - Thi Viện

Ảnh đính kèmChân dung 934.56Nước: Việt Nam (Hiện đại)103 bài thơ1 bình luận27 người thích
  • Bình luận

Thơ đọc nhiều nhất

- Tiếng thu- Nắng mới- Một mùa đông- Đôi mắt- Thơ sầu rụng

Thơ thích nhất

- Tiếng thu- Nắng mới- Một mùa đông- Một chút tình- Tình điên

Thơ mới nhất

- Qua đèo Hải Vân- Có những vườn- Ngò cải đơm hoa- Mẻ chài sớm ấy- Buổi đầu vỗ cánh

Tác giả cùng thời kỳ

- Hàn Mặc Tử (221 bài)- Bàng Bá Lân (56 bài)- Vũ Trọng Phụng (2 bài)- J. Leiba (9 bài)- Nguyễn Huy Tưởng (3 bài) Tạo bởi Vanachi vào 15/03/2005 10:33, đã sửa 2 lần, lần cuối bởi Cammy vào 04/04/2008 04:55 Lưu Trọng Lư (19/6/1912 – 10/8/1991) là một nhà thơ, nhà văn, nhà soạn kịch Việt Nam, quê làng Cao Lao Hạ, xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình quan lại xuất thân nho học. Ông học đến năm thứ ba tại trường Quốc học Huế thì ra Hà Nội làm văn, làm báo để kiếm sống. Ông là một trong những nhà thơ khởi xướng Phong trào Thơ mới và rất tích cực diễn thuyết bênh vực “Thơ mới” đả kích các nhà thơ “cũ”. Sau Cách mạng tháng Tám, ông tham gia Văn hoá cứu quốc ở Huế. Trong kháng chiến chống Pháp, ông hoạt động tuyên truyền, văn nghệ ở Bình Trị Thiên và Liên khu IV. Sau năm 1954, ông tiếp tục hoạt động văn học, nghệ thuật: hội viên Hội nhà văn Việt Nam từ năm 1957, đã từng làm Tổng thư ký Hội nghệ sỹ sân khấu Việt Nam. Ông mất tại Hà Nội. Con trai thứ chín của ông, Lưu Trọng Ninh cũng là một đạo diễn phim khá nổi tiếng của Việt Nam. Ông đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2000.Tác phẩm tiêu biểu:Thơ- Tiếng thu (1939)- Toả sáng đôi bờ (1959)- Người con gái sông Gianh (1966)- Từ đất này (1971)Sân khấu- Nữ diễn viên miền Nam (cải lương)- Cây thanh trà (cải lương)- Xuân Vỹ Dạ (kịch nói)- Anh Trỗi (kịch nói)- Hồng Gấm, tuổi hai mươi (kịch thơ, 1973)Văn xuôi- Người sơn nhân (truyện, 1933)- Chiếc cáng xanh (truyện, 1941)- Khói lam chiều (truyện, 1941)- Mùa thu lớn (tuỳ bút, hồi ký, 1978)- Nửa dêm sực tỉnh (hồi ký, 1989) Lưu Trọng Lư (19/6/1912 – 10/8/1991) là một nhà thơ, nhà văn, nhà soạn kịch Việt Nam, quê làng Cao Lao Hạ, xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình quan lại xuất thân nho học. Ông học đến năm thứ ba tại trường Quốc học Huế thì ra Hà Nội làm văn, làm báo để kiếm sống. Ông là một trong những nhà thơ khởi xướng Phong trào Thơ mới và rất tích cực diễn thuyết bênh vực “Thơ mới” đả kích các nhà thơ “cũ”. Sau Cách mạng tháng Tám, ông tham gia Văn hoá cứu quốc ở Huế. Trong kháng chiến chống Pháp, ông hoạt động tuyên truyền, văn nghệ ở Bình Trị Thiên và Liên khu IV. Sau năm 1954, ông tiếp tục hoạt động văn học, nghệ thuật: hội viên Hội nhà văn Việt Nam từ năm 1957, đã từng làm Tổng thư ký Hội nghệ sỹ sân khấu Việt Nam. Ông mất tại Hà Nội. Con trai thứ chín của ông, Lưu Trọng Ninh…
  1. À ơi!
  2. Bài ca vĩnh cửu
  3. Bài thơ cuối cùng của Lưu Trọng Lư
  4. Bức thư đêm giao thừa
  5. Chải lại đời anh
  6. Chảy thành sông
  7. Chiếc ghế
  8. Chiều nay, ai đẹp hơn anh?
  9. Chuông điểm
  10. Có lẽ nào anh chết
  11. Có những vườn
  12. Con chim non
  13. Đi giữa vườn nhân
  14. Đôi mắt
  15. Đường ta đi thế đấy bạn lòng ơi!
  16. Em có nghe
  17. Em thời gian, ngừng tay!
  18. Giữa mùa gió thổi
  19. Hồn lẫn xác
  20. Lại mùa phượng đỏ
  21. Lại tiễn con
  22. Lót ổ
  23. Mây
  24. Miếng đất
  25. Mộng Oanh Oanh
  26. Ngò cải đơm hoa
  27. Ngựa say
  28. Nhật kí nửa nằm nửa ngồi: viết
  29. O tiếp tế
  30. Ông La Hán hở sườn
  31. Phật nằm
  32. Phật nghìn tay
  33. Qua đèo Hải Vân
  34. Thu Hạ Long
  35. Tiếng hát hôm nay
  36. Tiếng vạc đêm Niu Đenly
  37. Tội giặc
  38. Tráng sĩ
  39. Trên bãi biển
  40. Tuổi 80
  41. Tự sự đêm
  42. Vì sương thu đổ
  43. Vòng chuỗi ngọc
  44. Vô đề
  45. Vô đề

Tiếng thu (1939) 52

  1. Hôm qua
  2. Nắng mới 3
  3. Thơ sầu rụng
  4. Bao la sầu
  5. Đan áo 1
  6. Lá mồng tơi
  7. Mộng chiều hè
  8. Túp lều cũ
  9. Giang hồ
  10. Sứ giả
  11. Khi thu rụng lá
  12. Một chút tình
  13. Tình điên
  14. Mưa... mưa mãi
  15. Tiếng thu 6
  16. Còn chi nữa 1
  17. Hoa xoan
  18. Thuyền mộng
  19. Hoàng hôn
  20. Xuân về Vắng khách thơ
  21. Gió
  22. Trăng lên
  23. Hoa bên đường
  24. Điệu hát lẳng lơ
  25. Lại nhớ Lại nhớ Vân
  26. Vắng chàng
  27. Xin rước cô em
  28. Trên bãi biển
  29. Trường hận
  30. Lá bàng rơi
  31. Suối mây
  32. Lòng cô phụ
  33. Đã khuya rồi
  34. Một mùa đông 1
  35. Chị em
  36. Đợi
  37. Mây trắng
  38. Chiều cổ
  39. Điệu huyền Những điệu huyền lạc
  40. Khi yêu
  41. Chia ly
  42. Hương lòng
  43. Cảnh thiên đường
  44. Im lặng
  45. Chiếc cáng điều
  46. Thú đau thương
  47. Núi xa
  48. Hồn nghệ sĩ
  49. Lại uống
  50. Trăng lên
  51. Bâng khuâng
  52. Ngày xưa

Người con gái sông Gianh (1966) 5

  1. Người con gái sông Gianh
  2. Nói cho mà biết
  3. Em Mai
  4. Buổi đầu vỗ cánh
  5. Mẻ chài sớm ấy

Tuyển tập chung

100 bài thơ Việt Nam hay nhất thế kỷ XX (2007)

  1. Tiếng thu 6

Thi nhân Việt Nam 1932-1941 (1942)

  1. Chiều cổ
  2. Còn chi nữa 1
  3. Điệu huyền Những điệu huyền lạc
  4. Giang hồ
  5. Một mùa đông 1
  6. Nắng mới 3
  7. Thơ sầu rụng
  8. Thú đau thương
  9. Tiếng thu 6
  10. Tình điên
  11. Xuân về Vắng khách thơ

Thơ Việt Nam 1945-1985 (1985)

  1. Ngò cải đơm hoa
Ảnh đại diện

Chân dung và đối thoại - Bài 03: Lưu Trọng Lư

Đăng bởi Vanachi vào 02/10/2006 18:02

Lưu Trọng Lư là nhà thơ tiên phong của phong trào Thơ mới. Nhận định về nghệ thuật thơ ông, nhà phê bình thiên tài Hoài Thanh đã có những nhận xét thật chuẩn xác: Tôi biết có kẻ trách Lư cẩu thả, lười biếng, không biết chọn chữ, không chịu khó gọt giũa câu thơ. Nhưng Lư có làm thơ đâu Lư chỉ để lòng mình tràn lan trên mặt giấy.Nhận định này dường như đã thành nỗi ám ảnh, và rồi suốt đời, Lưu Trọng Lư cứ loạng choạng, cứ bập bõm bước trong cái vòng kim cô mà Hoài Thanh đã tiên đoán và vạch ra ngay từ khi ông mới xuất hiện trên thi đàn,Còn về con người Lưu Trọng Lư, thiết tưởng cũng chẳng có ai hiểu ông hơn Hoài Thanh: Cả đời Lư cũng là một bài thơ, nếu quả như người ta vẫn nói, thi sĩ là một kẻ ngơ ngơ ngác ngác, chân bước chập chững trên đường đời thì có lẽ Lư thi sĩ hơn ai hết.Quả đúng vậy, và nếu chọn một bài thơ thơ nhất của Việt Nam, nghĩa là ngoài thơ ra, nó không có gì bấu víu, thì đó chính là Tiếng thu. Đây là bài hay nhất trong đời thơ Lưu Trọng Lư, cũng là bài thơ thơ nhất của thi ca Việt Nam hiện đại:

Em không nghe mùa thuDưới trăng mờ thổn thức?Em không nghe rạo rựcHình ảnh kẻ chinh phuTrong lòng người cô phụEm không nghe rừng thuLá thu kêu xào xạcCon nai vàng ngơ ngác,Đạp trên lá vàng khô...
Bài thơ vẻn vẹn có 9 câu, chia làm ba đoạn, mỗi đoạn lại so le, các ý trong bài thơ rời rạc, khấp khểnh, chẳng ý nào ăn nhập với ý nào. Nếu cứ theo cách hiểu máy móc của những nhà phê bình quen thói bắt bẻ, cứ đè thơ ra mà tìm tư tưởng, tìm ý nghĩa thì đây là bài thơ đầu Ngô mình Sở. Đã thế, tác giả còn tỏ ra vụng về, tỳ vết của sự thô vụng ấy nằm trong hai câu chẳng thơ tí nào, nó như câu văn xuôi bình giảng văn học của học sinh phổ thông:
Hình ảnh kẻ chinh phuTrong lòng người cô phụ
Ấy vậy mà khi gộp tất cả lại, nằm trong một tổng thể, bài thơ hay đến, lạ lùng, người ta không còn thấy dấu vết thô vụng đâu nữa. Đây là điều duy nhất xảy ra ở văn học Việt Nam và chỉ xảy ra có một lần. Cái hay của bài thơ này không nằm ở câu chữ. Nó hoàn toàn siêu thoát, là cái hồn phảng phất đâu đó đằng sau những con chứ rất sáng tỏ mà lại vời vợi mông lung kia. Người ta chỉ cảm thấy được, chứ không thể nói ra được một cách rạch ròi. Đây là bức tranh thiên nhiên được vẽ bằng hồn, bằng cả điệu nhạc rất riêng của tâm hồn thi sĩ. Bởi thế, người đọc cũng phải dùng hồn để chiêm ngưỡng nó, chứ không thể ngắm nó bằng lý trí tỉnh táo. Đã không ít nhà phê bình nghiên cứu mang lý trí ra để làm con dao cùn mổ xẻ những con chữ rất ngơ ngác này. Có người còn viện đến cả thi pháp học để cố hiểu cho bằng được bài thơ, lấy thi pháp làm chìa khoá mở cánh cửa thực dụng, đi vào cõi mù mờ tâm linh này. Bằng cách vận dụng thi pháp, có người cho đây là bài thơ nói về nỗi cô đơn không có sự chia sẻ. Không phải ngẫu nhiên bài thơ có 9 câu mà đã có đến ba câu điệp “Em không nghe”:
Em không nghe mùa thuEm không nghe rạo rựcEm không nghe rừng thu...
Em không nghe, còn anh thì nghe thấy hết. Nghe thấy hết mà không nói ra được. Đây là cuộc đối thoại mà kẻ đối thoại lại ẩn sau sự câm lặng. Hoặc giả em cũng đã nghe thấy, nhưng anh vẫn hỏi như vậy, nghĩa là anh không hiểu em. Đằng nào thì cũng vẫn cứ là thiếu niềm đồng cảm. Một bên thì thổn thức, rạo rực, kêu xào xạc, một bên thì không nghe, không nghe, không nghe, cả con nai ngơ ngác, đạp trên lá vàng khô, nghĩa là nó cũng không nghe nôt. Hiểu một cách sống sít như thế thì thật thô thiển. Nhà phê bình đã kéo những đám mây ngũ sắc đang bay bảng lảng trong không trung, rồi rải xuống đường làm rơm rạ lót chân, và như thế còn đâu cánh rừng thu, tâm hồn thu cho con nai vàng trú ngụ. Mấy câu điệp khúc ấy thực chất chỉ để tạo giai điệu rất đặc biệt cho bài thơ này. ở đây, nhạc điệu cũng là một phần nội dung chính làm nên hồn vía bài thơ. Còn ở góc độ khác, cũng nhìn bằng con mắt lý trí, có người còn cho rằng đây là bài thơ Lưu Trọng Lư thâu cóp của nước ngoài. Thực tế trong bếp núc sáng tác, có thể có sự trùng hợp ngẫu nhiên. Người bình luận còn viện cớ rằng: Thực tế Việt Nam làm gì có khu rừng vàng. Đấy là rừng châu âu. Rừng Việt Nam là rừng luốm nhuốm. Mùa thu Việt Nam đúng như Nguyễn Du mô tả trong Kiều: Rừng thu rừng biếc chen hồng? Và con nai Việt Nam cũng nhanh nhẹn lắm, tinh ranh lắm, nó đâu có ngơ ngác? Ơ hay, Lưu Trọng Lư có nhìn thiên nhiên bằng con mắt thịt đâu! Lại phải mời Hoài Thanh về làm luật sư bào chữa cho ông thôi: Trong thơ Lư, nếu có cả chim kêu, hoa nở, ta cũng chớ tin. Hay ta hãy tin rằng tiếng ấy, màu kia chỉ có ở trong mộng. Mộng! Đó mới là quê hương của Lư. Thế giới thực của ta với bao nhiêu thanh sắc huy hoàng. Lư không nghe thấy gì đâu. Sống ở thế kỷ 20, ngày ngày nện gót trên các con đường Hà Nội mà người cứ mơ màng thấy mìn gò ngựa ở những chốn xa xăm nàoTương truyền khi viết bài thơ này, Lưu Trọng Lư đến thăm nhà một người bạn. Rồi nhân cớ thấy cái bình gốm cổ có vẽ con nai đứng giữa núi non. Lưu Trọng Lư bèn vịnh ngay bài thơ này. Thực chất, nếu chuyện đó là thật, thì con nai trên bình gốm chỉ là cái cớ rất nhỏ, là tiếng động rất nhỏ đánh thức con nai vàng và khu rừng vàng trong tâm hồn Lưu Trọng Lư thức dậy và toả hương. Nhờ thế, thi ca Việt Nam đã có một kiệt tác thật hiếm có, ngỡ như đó là khúc nhạc huyền bí của thần linh, chứ quyết không phải là tiếng ca phàm tục của người đời...

Trần Đăng KhoaLộ tòng kim dạ bạch,Nguyệt thị cố hương minh. 74.86

Từ khóa » Tác Phẩm Của Lưu Trọng Lư