Trang Thơ Tố Hữu - Nguyễn Kim Thành (250 Bài Thơ, 44 Bài Dịch)

Ảnh đính kèmChân dung

Đang tải...

Chân dung thời trẻ

Đang tải...

Tố Hữu năm 1945 12144.35Nước: Việt Nam (Hiện đại)250 bài thơ, 48 bài dịch3 bình luận179 người thích
  • Bình luận

Thơ đọc nhiều nhất

- Việt Bắc- Lượm- Từ ấy- Bác ơi!- Người con gái Việt Nam

Thơ thích nhất

- Tạm biệt- Từ ấy- Việt Bắc- Bác ơi!- Lượm

Thơ mới nhất

- Thăm Bác chiều đông- Qua cổ tháp- Quyết để kháng- Tằm tơ Bảo Lộc- Mừng thọ bác Nguyễn Phan Chánh

Bài dịch đọc nhiều nhất

- “Em ơi đợi anh về...”- Sa hành đoản ca- Biển đêm- Thướng sơn- Độc dạ khiển hoài

Tác giả cùng thời kỳ

- Chế Lan Viên (576 bài)- Võ Quảng (82 bài)- Đinh Hùng (85 bài)- Nguyễn Xuân Sanh (15 bài)- Phạm Hầu (17 bài)

Dịch giả nhiều bài nhất

- Anna Akhmatova (1 bài) Tạo bởi Vanachi vào 16/03/2005 18:06, đã sửa 1 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 17/05/2006 12:30 Tố Hữu (4/10/1920 - 9/12/2002) tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh tại làng Phù Lai, gần cố đô Huế. Tố Hữu đến với thi ca khá sớm, từ năm 18 tuổi. Cùng năm đó, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 4/1939, ông bị quân Pháp bắt. Tháng 3/1942, ông vượt ngục Đác Giây, tiếp tục hoạt động cách mạng ở Thanh Hoá. Cách mạng tháng Tám, Tố Hữu làm Chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa Huế.Năm 1946, tập thơ đầu tay Từ ấy ra đời, tập hợp các tác phẩm viết từ 1937 đến 1946, chia làm ba phần: Máu lửa (27 bài), Xiềng xích (30 bài) và Giải phóng (14 bài). Ba phần thơ là ba chặng hoạt động cách mạng của Tố Hữu. Chặng đầu là cái nhìn hiện thực, tố cáo xã hội đương thời, gắn với lòng say mê lý tưởng xoá áp bức bất công, xây dựng cuộc sống hạnh phúc, nhân ái. Chặng thứ hai là thơ trong tù, với những bài thơ xuất sắc của một tâm hồn chiến sĩ đa cảm. Chặng cuối là thơ vận động cách mạng tiến tới khởi nghĩa và cách mạng thành công - những bài thơ say đắm, sôi sục và hào hùng. Với Từ ấy, Tố Hữu lấy lại lòng tin vào đường lối văn học cách mạng cho cả nhà văn lẫn bạn đọc, khẳng định phẩm chất thẩm mỹ mới của thơ Việt Nam.Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, thơ Tố Hữu với các bài Phá đường, Bầm ơi... cùng với thơ ca của phong trào quần chúng đã trở thành một gợi ý có sức thuyết phục về phương pháp sáng tác hiện thực - lấy cuộc sống thực tế làm cốt lõi của thơ, hướng cảm xúc của công chúng vào những tình cảm cao cả đánh giặc cứu nước. Tập thơ Việt Bắc là tiếng hát của toàn dân kháng chiến. Với lời thơ bình dị, Tố Hữu đã đi từ tâm tình cá thể đến tâm tình của cộng đồng, phát hiện và biểu dương những tình cảm cao cả. Từ Việt Bắc, hình ảnh người dân yêu nước được khắc hoạ và trở thành biểu tượng mỹ học cho một giai đoạn thơ ca.Năm 1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, những kế hoạch 5 năm xây dựng đất nước được triển khai. Tập thơ Gió lộng thể hiện nỗi niềm phấn chấn của người xây dựng đất nước: “Gió lộng đường khơi rộng đất trời”. Thời kỳ này, thơ Tố Hữu cũng lộng gió, đó là gió của tâm hồn với Em ơi Ba Lan, Mẹ Tơm, Người con gái Việt Nam, Tiếng chổi tre...Ra trận là tập thơ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đề tài mở rộng như đánh dấu những sự kiện chính trị, quân sự của đất nước, trong đó có Lá thư Bến Tre, có lời dặn của anh Trỗi, có kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du, có nước mắt khóc Hồ chủ tịch... Mỗi bài thơ cho thấy Tố Hữu có khuynh hướng khái quát thời đại. Ông hướng tới những tình cảm phổ quát, cộng hưởng được với lòng người. Đề tài trong thơ ông rất thời sự mà ý thơ thấm thía, sâu, bền.Tập thơ gần đây nhất của Tố Hữu là Một tiếng đờn. Ông vẫn thuỷ chung với nguồn đề tài của đời sống cách mạng, của toàn đất nước. Đôi khi tưởng chạm tới một điều gì riêng tư của tuổi cuối đời nhìn lại: “Đêm cuối năm riêng một ngọn đèn”. Ở tập thơ này, Tố Hữu trở về bút pháp nội tâm, rất gần với thời kỳ Từ ấy. Có một sự đấu tranh nội tâm rất mạnh: “Mới bảy mươi sao đã gọi là già”. Bút pháp không tung hoành hào sảng mà trầm xuống trong chiêm nghiệm. Trong cái bình đạm của giọng thơ, có sức rắn lại của ý chí: “Ta lại đi, như từ ấy ra đi; Lòng hăm hở tưởng như mình trẻ lại”.Sau một thời gian bệnh nặng, ông đã tạ thế vào 9h15’ ngày 9/12/2002 tại Bệnh viện 108. Tố Hữu được coi là một con chim đầu đàn của thi ca Việt Nam hiện đại. Có những giai đoạn, thơ ông đã trở thành chỗ dựa tâm hồn cho mọi người. Ông từng kinh qua nhiều chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước: Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ.Tác phẩm:- Lượm (1949)- Từ ấy (1946)- Việt Bắc (1954)- Gió lộng (1961)- Ra trận (1962-1971)- Máu và hoa (1977)- Một tiếng đờn (1992)- Ta với ta (1999)- Xây dựng một nền văn nghệ lớn xứng đáng với nhân dân ta, thời đại ta (tiểu luận, 1973)- Cuộc sống cách mạng và văn học nghệ thuật (tiểu luận, 1981) Tố Hữu (4/10/1920 - 9/12/2002) tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh tại làng Phù Lai, gần cố đô Huế. Tố Hữu đến với thi ca khá sớm, từ năm 18 tuổi. Cùng năm đó, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 4/1939, ông bị quân Pháp bắt. Tháng 3/1942, ông vượt ngục Đác Giây, tiếp tục hoạt động cách mạng ở Thanh Hoá. Cách mạng tháng Tám, Tố Hữu làm Chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa Huế.Năm 1946, tập thơ đầu tay Từ ấy ra đời, tập hợp các tác phẩm viết từ 1937 đến 1946, chia làm ba phần: Máu lửa (27 bài), Xiềng xích (30 bài) và Giải phóng (14 bài). Ba phần thơ là ba chặng hoạt động cách mạng của Tố Hữu. Chặng đầu là cái nhìn hiện thực, tố cáo xã hội đương thời, gắn với lòng say mê lý tưởng xoá áp bức bất công, xây dựng cuộc sống hạnh phúc, nhân ái. Chặng thứ hai là thơ trong…
  1. Nhật ký đường về1
  2. Qua biên giới
  3. Tạm biệt 4
  4. Thăm Bác chiều đông
  5. Tri âm

Từ ấy (1946) 74

  1. Đi Tây
  2. Hai cái chết
  3. Lạnh lùng1

Máu lửa 27

  1. Mồ côi
  2. Hai đứa bé3
  3. Tương tri
  4. Đi đi em! 3
  5. Hồn chiến sĩ2
  6. Vú em4
  7. Lão đầy tớ
  8. Xuân lòng
  9. Hầm người
  10. Dửng dưng
  11. Hỏi cụ Ngáo
  12. Tiếng hát sông Hương 2
  13. Chiều
  14. Tháp đổ
  15. Hãy đứng dậy
  16. Lao Bảo
  17. Liên hiệp lại
  18. Như những con tầu
  19. Từ ấy 9
  20. Tiếng sáo Ly Quê
  21. Quyết để kháng
  22. Đông Kinh nhuộm máu
  23. Tình thương với chiến tranh
  24. Ly rượu thọ10
  25. Hi vọng
  26. Những người không chết
  27. Ý xuân

Xiềng xích 30

  1. Tâm tư trong tù4
  2. Trưa tù
  3. Con chim của tôi
  4. Quanh quẩn
  5. Nhớ người
  6. Khi con tu hú 9
  7. Nhớ đồng 5
  8. Song thất
  9. 14 tháng 7
  10. Giờ quyết định
  11. Tranh đấu
  12. Dậy lên thanh niên1
  13. Năm xưa...
  14. Đông
  15. Châu Ro
  16. Đôi bạn
  17. Trăng trối 1
  18. Con cá, chột nưa 3
  19. Quyết hy sinh
  20. Bà má Hậu Giang 4
  21. Qua cổ tháp
  22. Người lính đêm
  23. Ba tiếng
  24. Tiếng chuông nhà thờ
  25. Cảm thông
  26. Một tiếng rao đêm
  27. Dậy mà đi! 1
  28. Đời thợ
  29. Người về
  30. Tiếng hát đi đày

Giải phóng 14

  1. Dưới trưa
  2. Tương thân
  3. Đêm giao thừa
  4. Tiếng hát trên đê
  5. Đói! Đói!
  6. Vỡ bờ
  7. Đi
  8. Xuân đến
  9. Hồ Chí Minh
  10. Huế tháng tám 1
  11. Thưa các ông nghị
  12. Giết giặc
  13. Xuân nhân loại
  14. Vui bất tuyệt1

Việt Bắc (1954) 25

  1. Đêm xanh
  2. Tình khoai sắn
  3. Trường tôi1
  4. Lạnh lạt
  5. Cá nước 1
  6. Phá đường
  7. Bà mẹ Việt Bắc1
  8. Giữa thành phố trụi
  9. Sợ
  10. Lên Tây Bắc
  11. Bà Bủ
  12. Bầm ơi! 7
  13. Lượm 42
  14. Em bé Triều Tiên
  15. Mưa rơi5
  16. Voi
  17. Bắn
  18. Bài ca của người du kích
  19. Bài ca tháng mười
  20. Đời đời nhớ Ông13
  21. Sáng tháng năm 1
  22. Hoan hô chiến sĩ Điện Biên 4
  23. Ta đi tới 9
  24. Việt Bắc 11
  25. Lại về

Gió lộng (1961) 27

  1. Xưa... nay
  2. Quê mẹ 3
  3. Hai anh em
  4. Quang vinh Tổ quốc chúng ta1
  5. Chị là người mẹ
  6. Trên miền Bắc mùa xuân
  7. Hoa tím
  8. Qua Liễu Châu
  9. Phạm Hồng Thái
  10. Đường sang nước bạn2
  11. Mục Nam Quan
  12. Trước Krem-lin
  13. Với Lê-nin 1
  14. Mùa thu mới
  15. Người con gái Việt Nam 13
  16. Ba bài thơ trăng, bài 1
  17. Ba bài thơ trăng, bài 2
  18. Ba bài thơ trăng, bài 3
  19. Thù muôn đời muôn kiếp không tan
  20. Bay cao
  21. Em ơi... Ba Lan...
  22. Ba mươi năm đời ta có Đảng2
  23. Tiếng chổi tre 2
  24. Tiếng ru8
  25. Cánh chim không mỏi
  26. Bài ca mùa xuân 1961 3
  27. Mẹ Tơm 3

Ra trận (1972) 32

  1. Tâm sự
  2. Có thể nào yên?
  3. Lá thư Bến Tre
  4. Giữa ngày xuân
  5. Miền Nam2
  6. Trên đường thiên lý
  7. Từ Cu-ba 2
  8. Hãy nhớ lấy lời tôi! 7
  9. Tiếng hát sang xuân
  10. Tiễn đưa
  11. Đường vào
  12. Chiếc áo xanh
  13. Bài ca lái xe đêm
  14. Những ngọn đèn
  15. Mẹ Suốt
  16. Ê-mi-ly, con 1
  17. Kính gửi cụ Nguyễn Du
  18. Xuân sớm
  19. Chào xuân 67
  20. Tấm ảnh
  21. Táo rụng
  22. Chuyện thơ
  23. Một con người
  24. Bài ca xuân 68 4
  25. Gửi người đi Pari
  26. Chuyện em...
  27. Xuân 69
  28. Bác ơi! 10
  29. Theo chân Bác 4
  30. Lều cỏ Lê-nin
  31. Tuổi 25
  32. Bài ca xuân 71 1

Máu và hoa (1977) 13

  1. Xin gửi Miền Nam
  2. Cây hồng
  3. Thăm trại Ba Vì
  4. Gặp anh Hồ Giáo
  5. Rôm, hoàng hôn
  6. Sta-lin-grát một ngày xuân
  7. Việt Nam, máu và hoa 1
  8. Nước non ngàn dặm 5
  9. Đường của ta đi
  10. Toàn thắng về ta
  11. Vui thế hôm nay...
  12. Bài ca quê hương
  13. Với Đảng, mùa xuân

Một tiếng đờn (1992) 74

  1. Một khúc ca 9
  2. Phút giây...
  3. Mừng bạn, mừng ta
  4. Mừng thọ bác Nguyễn Phan Chánh
  5. Một nhành xuân
  6. Bài thơ đang viết
  7. Đêm cuối năm
  8. Sáng đầu năm
  9. Màu tôi yêu
  10. Làng Thượng1
  11. Ngày và đêm
  12. Ca vui
  13. Xuân đấy
  14. Ngẫu hứng
  15. Đêm xuân 85
  16. Ngọn lửa
  17. Sta-lin-grát anh hùng
  18. Gửi theo anh Xuân Diệu
  19. Phồn Xương
  20. Đêm thu quan họ
  21. Hà Trung
  22. Luy Lâu
  23. Cẩm Thuỷ
  24. Ngọc Lặc
  25. Như Xuân
  26. Nông Cống
  27. Tĩnh Gia
  28. Hoằng Hoá
  29. Quảng Xương
  30. Hậu Lộc4
  31. Vườn nhà1
  32. Nhớ về Anh
  33. Đảng và thơ1
  34. Thật giả
  35. Dưỡng sinh
  36. Lạc đường
  37. Quảng cáo
  38. Cái bánh đời
  39. Hôn anh
  40. Nhớ Chế Lan Viên
  41. Bảy mươi1
  42. Giao thừa
  43. Chào năm 2000!
  44. Một tiếng đờn1
  45. Một thoáng Cà Mau
  46. Anh sáo mù
  47. Chị và em
  48. Đêm trăng Năm Căn
  49. Đồng Thoại Sơn
  50. Nhà hoạ sĩ Tô Ngọc Vân
  51. Chợ Đồng Xuân
  52. Mới
  53. Lạ chưa?
  54. Vườn cam Tường Lộc
  55. Đồng Tháp Mười
  56. Nuôi trăn
  57. Tằm tơ Bảo Lộc
  58. Xưởng nhà
  59. Có một ngày như thế
  60. Chị bí thư nhà máy
  61. Hát trên dàn khoan dầu
  62. Lòng Anh
  63. Hiên ngang Cu-ba
  64. Chân lý vẫn xanh tươi1
  65. Dầu và máu
  66. Xuân đang ở đâu...
  67. Xuân hành 92
  68. Ta lại đi
  69. Toà án Mỹ
  70. Trưa tháng tư, Sài Gòn
  71. Chùa Hương
  72. Anh cùng em
  73. Chân trời mới
  74. Duyên thầm

Tuyển tập chung

100 bài thơ Việt Nam hay nhất thế kỷ XX (2007)

  1. Khi con tu hú 9

Thơ Việt Nam 1945-1985 (1985)

  1. Bài ca mùa xuân 1961 3
  2. Ê-mi-ly, con 1
  3. Mẹ Tơm 3
  4. Ta đi tới 9
  5. Việt Bắc 11
  6. Việt Nam, máu và hoa 1
  7. Với Đảng, mùa xuân
  8. Vui bất tuyệt1

Thơ dịch tác giả khác

Armand Monjo (Pháp)

  1. Giá nào A quel prix1

Bertolt Brecht (Đức)

  1. Những người thợ dệt ở Kujan-Bulak tưởng niệm Lenin Die Teppichweber von Kujan-Bulak ehren Lenin1

Cao Bá Quát (Việt Nam)

    Thơ chữ Hán

    1. Biệt Phạm Đôn Nhân lang trung4
    2. Cấm sở cảm sự, túng bút ngẫu thư4
    3. Đáp Trần Ngộ Hiên4
    4. Đắc gia thư, thị nhật tác4
    5. Đắc Hà thành cố nhân thư thoại cập gia tình kiêm vấn cận tác5
    6. Để gia6
    7. Đoàn Tính lâm hành bả tửu vi biệt, tẩu bút dữ chi4
    8. Độc dạ khiển hoài7
    9. Đối vũ kỳ 17
    10. Hàn dạ tức sự4
    11. Hí tặng Phan sinh4
    12. Hiểu quá Hương giang6
    13. Hoành Sơn quan4
    14. Hữu sở tư3
    15. Lạc Sơn lữ trung5
    16. Lưu viện du nguyệt văn đắc tái phát Đà Nẵng, thị dạ đồng Vũ Hoài Phủ thống ẩm7
    17. Phó Nam cung, xuất giao môn biệt chư đệ tử6
    18. Quá Bình Định dương phận vọng Cù Mông sơn4
    19. Quá Dục Thuý sơn9
    20. Sa hành đoản ca7
    21. Tài mai7
    22. Tân mông hồi bộ tuý trung hữu tác1
    23. Vịnh Thanh Hoá miêu tử sơn4

Charles Baudelaire (Pháp)

    Hoa khổ đau (1857) » Chán chường và lý tưởng

    1. Kẻ thù L'ennemi3
    2. Thu ca I (Kìa đang đến cảnh giá băng tăm tối) Chant d’automne I (Bientôt nous plongerons dans les froides ténèbres)4

Desanka Kačar (Croatia)

  1. “Ở Kordun, từng mộ một...” “Na Kordunu grob do groba...” • Cho đời tự do 3

Ethel Rosenberg (Mỹ)

  1. Nếu thầy mẹ chết If we die4

Hồ Chí Minh (Việt Nam)

    Thơ chữ Hán

    1. Thướng sơn6

Konstantin Simonov (Nga)

  1. “Aliosa nhớ chăng...” “Ты помнишь, Алеша...”2
  2. “Em ơi đợi anh về...” “Жди меня, и я вернусь...” • Đợi anh về15

Louis Aragon (Pháp)

  1. Hành khúc Marche française2
  2. Nhà thơ tặng đảng của mình Du poète à son parti3

Mustai Karim (Nga)

  1. Ba ngày tuyết rơi Тяжелый снег идет три дня1

Nguyễn Du (Việt Nam)

    Bắc hành tạp lục

    1. Long thành cầm giả ca 13

Nicolás Guillén (Cu Ba)

  1. Những con đại bàng Las águilas1
  2. Quả bom nguyên tử Bomba atómica1

Paul Verlaine (Pháp)

    Thơ sao Thổ (1866)

    1. Thu ca Chanson d’automne 14

Petőfi Sándor (Hungary)

  1. Cuộc chiến tranh ấy Háború volt...1
  2. Đả đảo vua chúa A királyok ellen1
  3. Một ý nghĩ cứ dày vò ta mãi Egy gondolat bánt engemet1
  4. Tiếng ta ca hát Dalaim1
  5. Vợ và gươm Feleségem és kardom1

Stepan Sipachev (Nga)

  1. Hai ngày tháng Две даты1
  2. Tóc bạc Седина1

Victor Hugo (Pháp)

    Tia sáng và bóng tối

    1. Biển đêm Oceano nox 4

    Những khúc hát đường phố và núi rừng

    1. Chiều, mùa gieo giống Saison des semailles, le soir1
Ảnh đại diện

Trình bày hiểu biết của mình về nhà thơ Tố Hữu và tóm tắt sự nghiệp sáng tác và phong cách thơ Tố Hữu

Đăng bởi tôn tiền tử vào 18/03/2015 11:12

Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh năm 1920 ở làng Phú Lai – Quảng Điền – Thừa Thiên Huế, mất ngày 9/12/2002 tại Hà Nội. Ông thân sinh là một nhà nho nghèo nhưng rất yêu thơ, ham sưu tầm ca dao, tục ngữ. Từ nhỏ, Tố Hữu đã được cha dạy làm thơ theo lối cổ. Mẹ Tố Hữu là con của một nhà nho cũng rất yêu ca dao, dân ca xứ Huế và giàu lòng thương con. Tố Hữu mồ côi từ năm lên 12 tuổi, một năm sau lại phải xa gia đình vào học trường Quốc học Huế. Quê hương, gia đình cũng có ảnh hưởng rất lớn đến tâm hồn thơ Tố Hữu.Lớn lên trong cảnh “Phận nghèo, nước mất, dân nô lệ”, nhưng rất may Tố Hữu đã được Đảng giác ngộ dìu dắt. Năm 1983, ông được kết nạp Đảng. Ông đã từng bị thực dân cầm tù qua các nhà lao Thừa Thiên, Tây Nguyên... Năm 1945, ông là Chủ tịch uỷ ban khởi nghĩa ở Huế. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ cho đến năm 1986, Tố Hữu liên tục giữ vững những cương vị trọng yếu trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, từng là Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.Ở Tố Hữu, con người chính trị và con người nhà thơ thống nhất chặt chẽ, sự nghiệp thơ gắn liền với sự nghiệp cách mạng “là hình thức tươi đẹp của hoạt động cách mạng”. Ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I – 1996.Những chặng đường thơ của Tố Hữu:Thơ Tố Hữu gắn bó chặt chẽ với cuộc đấu tranh cánh mạng nên các chặng đường thơ cũng song hành với các giai đoạn đấu tranh ấy, đồng thời thể hiện sự vận động trong tư tưởng và nghệ thuật của nhà thơ.Tập Từ ấy (1937-1946): Gồm ba phần Máu lửa, Xiềng xích, Giải phóng, tương ứng với ba chặng đường trong mười năm hoạt động cách mạng của nhà thơ.Máu lửa là tiếng reo náo nức của một tâm hồn được giác ngộ lý tưởng: Từ ấy... và rộn vang tiếng chim.Nhờ đó, nhà thơ đã nhận ra được ách áp bức giai cấp, những bất công của xã hội và thân phận của con người lao khổ. Ông hướng tâm hồn mình đến cảm thông với những em bé mồ côi, lão đầy tớ, cô gái giang hồ, em bé đi ở và khơi dậy ở họ lòng căm thù, ý chí chiến đấu và niềm tin ở tương lai.Xiềng xích là bản quyết tâm thư của người chiến sĩ cách mạng tự đặn lòng mình quyết không khuất phục trước uy lực và sự tàn bạo của kẻ thù (Trăng trối, Con cá chột nưa...) và luôn luôn tha thiết yêu đời, khát khao tự do và hành động. Đây là phần đặc sắc của tập thơ.Giải phóng – Cách mạng tháng Tám thành công, nhà thơ say sưa nồng nhiệt ca ngợi thắng lợi, ngợi ca nền độc lập, ngây ngất trong “niềm vui bất tận” với cảm hứng dâng trào trước cuộc đổi đời vĩ đại của nhân dân, dân tộc.Tập Việt Bắc (1947-1945):Quân thù trở lại, cả dân tộc bước vào cuộc khống chiến anh dũng. Việt Bắc là “thủ đô kháng chiến”, nơi có Đảng, Bác Hồ lãnh đạo toàn dân đánh giặc. Việt Bắc là bản anh hùng ca ca ngợi cuộc kháng chiến anh hùng và những con người bình dị mà anh hùng của cuộc kháng chiến (như các em thiếu nhi, các anh bộ đội, các chị phụ nữ, các bà mẹ... và trên tất cả, hình ảnh tập trung, tiêu biểu cho phẩm chất dân tộc là hình ảnh Bác Hồ). Tập thơ còn ca ngợi những tình cảm điển hình của con người kháng chiến như tình yêu nước, tình yêu đồng bào, tình quân dân, tình cảm miền ngược với miền xuôi, lòng yêu thiên nhiên, kính yêu Đảng, Bác Hồ... và niềm tin tưởng ở ngày mai tươi sáng.Vào giai đoạn cuối với chiến công Điện Biên, hoà bình lập lại, miền Bắc được giải phóng đã chắp cánh cho hồn thơ Tố Hữu bay bổng với những cảm hửng sử thi mang hào khí thời đại, Việt Bắc là thành tựu xuất sắc nhất của văn học kháng chiến chống Pháp.Tập Gió lộng (1955-1961):Bước vào giai đoạn này cách mạng Việt Nam có hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và giải phóng niềm Nam tiến tới thống nhất nước nhà:

Rộn ràng thay cảnh quê hươngNửa công trường, nửa chiến trường xôn xao
Thơ Tố Hữu bám sát nhiệm vụ chính trị đó: Tập Gió lộng vừa thể hiện niềm vui, niềm tự hào và tin tưởng ở công cuộc xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc, vừa bày tỏ tình cảm thiết tha với niềm Nam và ý chí thống nhất nước nhà, tình cảm quốc tế rộng lớn.Trong niềm vui lớn với cuộc sống hiện tại, Tố Hữu không quên nghĩ về quá khứ để bày tỏ tình cảm biết ơn ông cha và những người đi trước mở đường. Và từ đó thấm thía ân tình cách mạng (Ba mươi năm đời ta có Đảng, Mẹ Tơm...).Tập Gió lộng tiếp tục phát triển cảm hứng sử thi và khuynh hướng khái quát với một cái tôi trữ tình đa dạng hơn và một nghê thuật biểu hiện già dặn và nhuần nhị hơn.Hai tập Ra trận (1962-1971), Máu và hoa (1972- 1977) là những chặng đường thơ Tố Hữu trong những năm chống Mĩ quyết liệt và hào hùng của dân tộc cho tới ngày toàn thắng. Thơ Tố Hữu lúc này là khúc ca ra trận, là mệnh lệnh tiến công, là lời kêu gọi, cổ vũ hào hùng cả dân tộc “khắp thành thị thông thôn” vùng lên quyết đập “tan đầu Mĩ Nguỵ”. Ra trận cũng dành hẳn một trường ca theo chân Bác để tái hiện hình ảnh Bác trên những chặng đường lịch sử trong hơn nửa thế kỉ.Máu và hoa là những suy ngẫm của nhà thơ về những hi sinh to lớn của dân tộc (máu) để tạo nên những chiến công (hoa) chói lọi của lịch sử “Phải bao máu thấm trong lòng đất; Mới ánh hồng lên sắc tự hào”.Thơ Tố Hữu những năm chống Mỹ cứu nước mang đậm tính chính luận và chất sử thi, nhiều chỗ vươn tới âm hưởng anh hùng ca.Từ năm 1978 lại đây, thơ Tố Hữu được tập hợp trong hai tập Một tiếng đờn (1992) và Ta với ta (1999).Trải qua những thăng trầm, những trải nghiệm trước cuộc đời, nhà thơ muốn bày tỏ những suy tư về cuộc sống, về lẽ đời, hướng tới những quy luật phổ quát và tìm kiếm những giá trị bền vững. Giọng thơ vì thế cũng trầm lắng, thấm đượm chất suy tưởng.Thơ Tố Hữu là một bằng chứng sống cho sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chính trị và nghệ thuật. Con đường thơ của ông là con đường tìm tòi sự kết hợp hài hoà hai yếu tố, hai cội nguồn là dân tộc và cách mạng trong hình thức đẹp đẽ của thơ ca. Với ngôn ngữ, thể thơ giàu tính đại chúng, dân tộc, cách mạng, thơ Tố Hữu đã truyền được cho hàng triệu độc giả niềm say mê lý tưởng cách mạng.Với một sự nghiệp thơ phong phú, đồ sộ, Tố Hữu đã định hình cho mình một phong cách riêng.“Sống là hành động, thơ cũng hành động. Với Tố Hữu thơ là hình thức tươi đẹp của hoạt động cách mạng, của sự sống” (Đặng Thai Mai). Đó là bí quyết thành công của thơ Tố Hữu và đó cùng là cội nguồn sâu xa tạo nên phong cách đặc sắc trong thơ Tố Hữu.Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị, đồng thời là một chiến sĩ cách mạng, Vì vậy, đối với ông, thơ trước hết phải là phương tiện đắc lực phục vụ cho sự nghiệp cách mạng, cho những nhiệm vụ chính trị được hình thành trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Với ông, thơ chính trị đã trở thành thơ trữ tình sâu sắc.Tố Hữu ít nói đến đời tư, đời thường. Những vấn đề đời sống được nhà thơ đề cập đến chủ yếu trên phương diện chính trị. Ông ca ngợi lý tưởng, ca ngợi những con người mang lý tưởng cộng sản, biểu dương những tình cảm cách mạng, ca ngợi nhân dân ca ngợi đất nước. Những vấn đề chính trị ấy trở thành nguồn cảm hứng, nguồn cảm xúc chân thật, sâu xa và thành lẽ sống, niềm tin... Bởi vậy, với Tố Hữu chính trị trở thành cái riêng tư và được nhà thơ diễn đạt bằng ngôn ngữ tâm tình, ngôn ngữ của tình yêu, tình mẹ con, tình bạn bè một cách tự nhiên không gượng ép.Bao trùm trong thơ Tố Hữu là vấn đề lý tưởng, vấn đề lẽ sống: Lẽ sống cách mạng, lẽ sống cộng sản “Tả tình hay tả cảnh, kể chuyện mình hay là chuyện người, với Tố Hữu, cũng chỉ để nói cho được cái lý tưởng ấy mà thôi”.Trước Cách mạng tháng Tám, nhà thơ khẳng định lẽ sống của con người là con đường cách mạng. Đó là con đường duy nhất có thể giải thoát cho mọi số phận cá nhân, khỏi cảnh áp bức, đoạ đầy đau khổ: Như những con tàu, Những người không chết, Trăng trối, Con cả chột nưa, Từ ấy. Từ Việt Bắc trở đi, Tố Hữu thường chủ yếu đặt vấn đề lẽ sống của dân tộc, và tiếp đó là mối quan hệ giữa dân tộc và thời đại.Đi liền với lẽ sống lớn là những tình cảm lớn, niềm vui lớn của con người cách mạng, niềm say mê lý tưởng, tình đồng chí, lòng yêu mến nhân dân, đất nước, ân nghĩa của cách mạng, của Đảng lãnh tụ, tình cảm quốc tế: Ta, Việt Bắc, 30 năm, Mẹ Tơm, Nước non ngàn dặm... Sáng tháng Năm, Bác ơi, Miền Nam... Một nhành xuân... Thơ Tố Hữu ở những bài hay nhất thường là có sự kết hợp cả ba chủ đề lẽ sống lớn, niềm vui lớn và ân tình cách mạng: Ta, Việt Bắc, Mẹ Tơm, Bác ơi, 30 năm...Thơ Tố Hữu ở giai đoạn sau cách mạng mang khuynh hướng sử thi. Chủ yếu đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa lịch sử và có tính chất toàn dân. Cái “tôi” trữ tình trong thơ Tố Hữu từ buổi đầu là cái “tôi” chiến sỹ, rồi đến cái “tôi” công dân, về sau là cái “tôi” nhân dân, dân tộc, cách mạng: Ta đi tới, Việt Bắc, nhiều bài thơ xuân trong Gió lộng và các bài thơ khác trong Ra trận... Nhận vật trữ tình của Tố Hữu là những con người đại diện cho những phẩm chất dân tộc, thậm chí mang tầm vóc lịch sử, thời đại: Hình tượng anh giải phóng quân Nguyễn Văn Trỗi, Trần Thị Lý, Mẹ Suốt...Cảm hứng của Tố Hữu là cảm hứng lịch sử dân tộc chứ không phải là cảm hứng thế sự, đời tư. Nổi bật lên trong thơ Tố Hữu là vấn đề vận mệnh dân tộc, cộng đồng chứ không phải vấn đề số phận cá nhân. Nói đúng hơn số phận cá nhân hoà vào số phận dân tộc, cộng đồng.Về mặt nghệ thuật, thơ Tố Hữu dạt dào cảm hứng lãng mạn. Thơ Tố Hữu dạt dào cảm hứng lãng mạn hướng về lý tưởng cộng sản và tương lai xã hội chủ nghĩa. Thể hiện cuộc sông bằng cảm quan ấy, thế giới hình tượng trong thơ Tố Hữu là thế giới của cái cao cả, cái lý tưởng, của ánh sáng, gió lộng, niềm tin.Thơ Tố Hữu còn có giọng điệu rất dễ nhận ra đó là giọng điệu tâm tình, là tiếng nói của tình thương mến. Thơ Tố Hữu là thơ cách mạng, chứ không phải thơ tình yêu... Nhưng thơ anh là thơ của một tình nhân, anh nói các vấn đề bằng trái tim của một người say đắm. Cái sức mạnh lớn nhất của Tố Hữu là quả tim anh” (Chế Lan Viên). Điều này dược thể hiện rõ nhất qua cách xưng hô, trò chuyện, tâm sự với đối tượng “anh em ơi”,“ban đời ơi”, “đồng bào ơi”, “anh vệ quốc quân ơi”... “anh chị em ơi”, “em ơi... cho đến cả thiên nhiên đất nước “Xuân ơi xuân”, “Hương giang ơi!”... Giọng tâm tình, tiếng nói yêu thương này có liên quan đến chất Huế của hồn thơ Tố Hữu, nhưng chủ yếu là do quan hệ giữa nhà thơ và bạn đọc, do quan niệm của Tố Hữu về thơ “Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí”.Nghệ thuật thơ Tố Hữu rất giàu tính dân tộc. Tính dân tộc thể hiện ở thế giới bình tượng, phong cảnh quê hương, đất nước thân thuộc, ở hình ảnh con người rất đỗi Việt Nam Tính dân tộc còn thể hiện ở việc Tố Hữu thể hiện, sử dụng các thể thơ mang đậm tính chất “truyền thống dân tộc như lục bát (các bài thơ Việt Bắc, Kính gửi cụ Nguyễn Du, Nước non ngàn dặm... Kết hợp cả giọng thơ cổ điển và dân gian thể hiện những nội dung tình cảm cách mạng mà có gốc rễ truyền thống, tinh thần dân tộc, làm phong phú cho thể thơ lục bát, thơ 7 chữ của Tố Hữu: Quê mẹ, Mẹ Tơm, Theo chân Bác, trang trọng, có màu sắc cổ điển nhưng vẫn biến hoá linh hoạt, diễn tả được nhiều trạng thái cảm xúc.Về ngôn ngữ, Tố Hữu không mạnh ở sáng tạo từ mà thường sử dụng từ ngữ, lối nói quen thuộc với dân tộc, thậm chí cả những ước lệ, những so sánh ví von truyền thống, nhưng lại biểu hiện được nội dung mới của thời đại.Về nhạc điệu, thơ Tô Hữu rất giàu nhạc điệu, một biểu hiện tính dân tộc của nghệ thuật ở bề sâu. Tố Hữu có biệt tài trong việc sử dụng các từ láy, dùng các vần và phối hợp các thanh điệu... kết hợp với nhịp thơ, tạo thành nhạc điệu, phong phú cho các câu thơ, diễn tả được cái nhạc điệu bên trong của tâm hồn, một nhạc điệu tâm tình mà bề sâu của nó là điệu cảm xúc của dân tộc, tâm hồn dân tộc: Em ơi Ba Lan, Mẹ Tơm, Xuân 1961, Quê Mẹ, Nước non ngàn dặm...Với những nét phong cách vừa phong phú vừa đa dạng, vừa sâu sắc, hấp dẫn nói trên, Tố Hữu rất xứng đáng là “Lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam”.

(Nguyễn Thị Thanh Huyền, giáo viên dạy văn tại trường THPT chuyên Hùng Vương - Việt Trì - Phú Thọ)tửu tận tình do tại 104.60 Ảnh đại diện

Xin phép phổ nhạc 5 bài thơ của bác Tố Hữu

Đăng bởi Anh Chi vào 21/07/2015 22:36Có 1 người thích

Kính gửi trang Thi Viện.netMình là Nguyễn Thị Anh Chi, sống tại TP. HCM. Mình có tìm hiểu gia đình bác Tố Hữu nhưng chỉ biết bác có một bác gái. Không thấy bác có con cháu gì. Mình muốn xin phép về phía bác để soạn nhạc phổ thơ 5 bài của bác là bài: Bài ca mùa xuân 1961, Mẹ Tơm, Hát trên giàn khoan dầu, Trăng, Tiếng ru. Nhưng mình vừa được tin bác gái cũng đã ra đi. Cho nên mình không biết liên hệ như thế nào để mượn phép. Hôm nay mình đăng lên đây và mong BQT thivien.net và các thành viên xem trang coi như mình có xin phép trước để làm nhạc. Khi làm xong nhạc, mình sẽ đăng link lên đây để cho coi trước. Phần nhạc mình soạn theo sát nguyên văn vần thơ. (Hoặc nếu bạn nào biết tin con cháu bác Tố Hữu ở đâu xin chỉ bảo).Kính chào.

74.43 Ảnh đại diện

Thơ Tố Hữu

Đăng bởi Hưng SG vào 19/02/2016 17:43

Vâng, tôi rất khoái thơ Tố Hữu, nhất là bài Sta-lin! Sta-lin, trong đó tâm đắc nhất là câu:Ông Sta-lin ơi ! Ông Sta-lin ơi !Hỡi ơi Ông mất ! Đất trời có không ?Thương cha thương mẹ thương chồngThương mình thương một thương Ông thương mườiTrời đất có biết không, Sta-lin là Ông lận mà; trong khi Bác chỉ là con của Ông thôi. Thế thì ta phải thương Ông hơn cha, hơn bác 10 lần là đúng.

233.09

Từ khóa » Tố Hữu Bài Thơ