Trao đổi Nghiệp Vụ Năm 2012 - HỌC VIỆN TÒA ÁN

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
    • Sơ đồ Tổ chức
    • Lịch sử phát triển
    • Ban Giám đốc
    • Các Phòng, Khoa
  • Tuyển Sinh Đại học, Cao học
  • Đào tạo - Bồi dưỡng
    • Thông báo
    • Lịch học - Lịch thi
    • Chương trình, kế hoạch
    • Văn bản - Quy chế
    • Kết quả học tập
  • Trao đổi nghiệp vụ
    • Nghiên cứu khoa học
    • Hỏi đáp nghiệp vụ
    • Văn bản nghiệp vụ mới
  • Hợp tác quốc tế
    • Hoạt động chung
    • Các dự án
  • Hoạt động tình nguyện
  • Thư viện Tài liệu
--Liên kết nhanh-- Hệ thống VBPL Sổ tay Thẩm phán Cổng thông tin TANDTC Trang thông tin TAND tỉnh Thừa Thiên Huế Trang thông tin TAND tỉnh Hà Tĩnh Trang thông tin TAND tỉnh Vĩnh Long Trang thông tin TAND tỉnh Hưng Yên Tel: 0432.693.693 Fax: 0432.693.693 Email: [email protected] Bản đồ đến Học viện Tòa án
7222457
Trao đổi nghiệp vụ Trao đổi nghiệp vụ năm 2012
PHẦN I

PHẦN I

CÁC VẤN ĐỀ VỀ HÌNH SỰ

Câu hỏi 1. Những trường hợp được đương nhiên xóa án tích theo Nghị Quyết 33 năm 2009 (và Nghị quyết 32 năm 1999) của Quốc Hội có giống những trường hợp đương nhiên xóa án tích quy định tại Điều 64 Bộ luật hình sự không?

Trả lời:

Là một chế định của pháp luật hình sự nên “đương nhiên xóa án tích” theo Điều 64 Bộ luật hình sự (BLHS) và “đương nhiên xóa án tích” theo Nghị quyết số 33 năm 2009 của Quốc hội (và Nghị quyết 32 năm 1999) cũng đều chung một hệ quả pháp lý: đương nhiên xóa án tích là trường hợp được coi là chưa can án mà không cần có sự xem xét, quyết định của Tòa án.

Tuy nhiên, do có tính chất pháp lý khác nhau (đối tượng, điều kiện, ý nghĩa pháp lý…) nên đây là hai trường hợp hoàn toàn khác nhau:

Đương nhiên xóa án tích theo quy định Điều 64 BLHS là trường hợp đương nhiên xóa án tích theo các điều kiện quy định của BLHS.

Điều 64 BLHS quy định những trường hợp sau thì được đương nhiên xóa án tích:

Một là: Là người được miễn hình phạt;

Hai là: Người bị kết án không phải về các tội quy định tại chương XI và chương XXIV của Bộ luật này, nếu từ khi chấp hành xong bản án và không phạm tội mới trong khoảng thời gian nhất định nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

“a) Một năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;

b) Ba năm trong trong trường hợp hình phạt là tù đến ba năm;

c) Năm năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên ba năm đến mười lăm năm;

d) Bảy năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên mười lăm năm”.

Đương nhiên xóa án tích theo Nghị quyết số 33 năm 2009 của Quốc Hội là trường hợp xóa án tích theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS (Nội dung của Nghị quyết này cũng tương tự như Nghị quyết số 32/1999/NQ-QH10 ngày 21/12/1999 về việc thi hành BLHS năm 1999). Theo quy định tại điểm d, đ, e Nghị quyết số 33 năm 2009 của Quốc Hội thì đối với các trường hợp đã bị kết án về tội phạm theo BLHS năm 1999 nhưng Luật sửa đổi, bổ sung không quy định đó là tội phạm nữa thì những người này đương nhiên được xóa án tích.

Nói cách khác, đương nhiên xóa án tích tại Điều 64 BLHS là trường hợp xóa án tích có điều kiện theo quy định của BLHS (ví dụ người bị kết án mà không thuộc trường hợp được miễn hình phạt thì phải chấp hành xong hình phạt và không phạm tội mới trong thời gian…), còn đương nhiên xóa án tích theo Nghị quyết 33 năm 2009 của Quốc Hội (và Nghị quyết số 32 năm 1999) là hệ quả tất yếu khi Luật sửa đổi, bổ sung quy định hành vi đó không phải là tội phạm nữa nên không cần thỏa mãn điều kiện về xóa án tích của BLHS.

Câu hỏi 2. BLHS có một số tội danh được quy định ghép các hành vi phạm tội khác nhau vào cùng một điều luật (Tội danh ghép), ví dụ Điều 230 về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khi quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự. Nếu một người phạm tội đủ cấu thành tất cả các tội ghép như trong điều luật thì Tòa án xét xử tất cả các tội như điều luật quy định hay chỉ xét xử về một tội chung?

Trả lời:

BLHS có quy định nhiều tội danh ghép, đây là các tội phạm độc lập khác nhau, có cấu thành tội phạm khác nhau nhưng được quy định cùng trong một điều luật.

Về nguyên tắc xử lý hình sự, người thực hiện nhiều hành vi phạm tội mà mỗi hành vi đều đủ dấu hiệu cấu thành các tội độc lập thì phải chịu trách nhiệm hình sự về từng tội độc lập. Khi xét xử, Tòa án áp dụng Điều 50 của BLHS để quyết định hình phạt chung về trường hợp phạm nhiều tội.

Ví dụ: A mua bán một loại tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy và bị bắt, khi khám nhà phát hiện người đó còn tàng trữ một loại tiền chất khác nhưng không nhằm mục đích để mua bán. Trong trường hợp này, A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội mua bán tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy” và “Tội tàng trữ tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 195 của BLHS. Nếu mỗi tội A bị phạt 5 năm tù thì tổng hợp hình phạt A phải chịu là 10 năm tù.

Tuy nhiên cần lưu ý: Trong các tội danh ghép, nếu người phạm tội thực hiện nhiều hành vi phạm tội nhưng các hành vi đó có liên quan chặt chẽ với nhau (hành vi phạm tội này là điều kiện để thực hiện hoặc là hệ quả tất yếu của hành vi phạm tội kia) thì chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội.

Ví dụ: B mua ma túy tại Quảng Ninh rồi vận chuyển về Hà Nội và tàng trữ ma túy đó tại quận Đống Đa để bán và bị bắt thì B chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội với tên tội danh là “Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều 194 của BLHS và chỉ phải chịu một chung một hình phạt.

Tham khảo Thông tư số liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 hướng dẫn một số quy định tại chương XVIII “các tội phạm về ma túy”

Câu hỏi 3. Điều 115 BLHS quy định: “Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm”. Quy định như vậy có trái với Điều 12 BLHS “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm”hay không ?

Trả lời:

Điều 115 BLHS quy định chỉ người đã thành niên (đủ 18 tuổi)mới phải chịu trách nhiệm hình sự về “Tội giao cấu với trẻ em” mà không trái với Điều 12 BLHS, bởi vì:

Điều 2 BLHS đã khẳng định rõ: “chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”.

Mỗi một tội phạm cụ thể có cấu thành tội phạm khác nhau, các tội phạm khác nhau có thể có sự giống nhau nhất định nhưng không bao giờ hoàn toàn giống nhau.

Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự là một dấu hiệu pháp lý về mặt chủ thể của tội phạm được phản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm và được quy định là một quy định chung tại Điều 12 BLHS “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm”.

Tuy nhiên, đối với một số tội phạm cụ thể, tùy thuộc vào chính sách hình sự, đường lối xử lý, mục đích và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm mà BLHS có quy định riêng về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Nói cách khác, cấu thành tội phạm của loại tội này “Tội giao cấu với trẻ em” (Điều 115) và “Tội dâm ô với trẻ em” (Điều 116) được BLHS quy định là cấu thành tội phạm đặc biệt, chủ thể thực hiện tội phạm phải là người đủ 18 tuổi trở lên (người đã thành niên) mới cấu thành tội phạm.

Câu hỏi 4. Một người dùng gậy đập phá tài sản của người khác trong đó có những tài sản bị phá hỏng hoàn toàn (trị giá trên 2 triệu đồng) có những tài sản chỉ hư hỏng một phần (trị giá cũng trên 2 triệu đồng). Vậy, định tội danh là “Tội hủy hoại tài sản” hay “Tội hủy hoại và cố ý làm hư hỏng tài sản”?

Trả lời:

“Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” là một tội ghép, vì vậy việc truy cứu trách nhiệm hình sự phải tuân theo nguyên tắc xử lý về tội ghép, tức là nếu người thực hiện có cả hành vi hủy hoại và hành vi cố ý làm hư hỏng mà mỗi hành vi đều đủ dấu hiệu cấu thành hai tội độc lập thì phải chịu trách nhiệm hình sự về từng tội độc lập. Khi xét xử, Tòa án áp dụng Điều 50 của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt chung về trường hợp phạm nhiều tội.

Về ý chí chủ quan của Tội hủy hoại và Tội cố ý làm hư hỏng tài sản, mặc dù khác nhau về mục đích của tội phạm, nhưng không phải trường hợp nào cũng xác định được ý chí chủ quan của người phạm tội. Thực tiễn trong hầu hết các trường hợp chỉ có thể xác định được sự khác nhau về tính chất mức độ thiệt hại gây ra của hành vi trái pháp luật. Do đó, để phân biệt là Tội hủy hoại hay cố ý làm hư hỏng tài sản thì hậu quả thiệt hại thường được xem là cơ sở chủ yếu để xác định tội danh.

Cùng một hành vi phạm tội như nhau, nếu tài sản chỉ bị hư hại một phần thì cấu thành tội cố ý làm hư hỏng tài sản, nhưng nếu tài sản bị hủy hoại hoàn toàn thì cấu thành tội hủy hoại tài sản.

Thực tiễn phạm tội cho thấy, hành vi phạm tội có thể làm cho nhiều tài sản bị thiệt hại, trong đó có tài sản chỉ bị hư hỏng một phần, có tài sản bị hủy hoại hoàn toàn (tài sản bị hư hỏng và tài sản bị hủy hoại đều có giá trị trên hai triệu đồng); có trường hợp nhiều tài sản mà giá trị tài sản bị hiệt hại lại khác nhau, trong đó có tài sản bị thiệt hại giá trị dưới hai triệu đồng và có tài sản bị thiệt hại trên hai triệu đồng.

Theo nguyên tắc một hành vi phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội phạm nên người phạm tội chỉ phải chịu về một tội và thực tiễn xét xử cho phép thực hiện nguyên tắc cộng tổng giá trị thiệt hại của tài sản bị hủy hoại và tài sản bị hư hỏng để xác định giá trị thiệt hại chung (Thông thường Tội bị truy cứ trách nhiệm hình sự là tội danh mà giá trị tài sản bị thiệt hại nhiều hơn).

Ví dụ 1: A đập phá tài sản của người khác, tổng thiệt hại được xác định là 10 triệu nhưng phần tài sản bị hủy hoại là 7 triệu đồng và phần tài sản bị hư hỏng giá trị là 3 triệu đồng thì A phải chịu trách nhiệm hình sự về tội hủy hoại tài sản với mức thiệt hại xác định là 10 triệu đồng.

Ví dụ 2: B đập phá tài sản của người khác, tổng thiệt hại được xác định là 10 triệu nhưng phần tài sản bị hủy hoại là 2 triệu đồng và phần tài sản bị hư hỏng giá trị là 8 triệu đồng thì A phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý làm hư hỏng tài sản với mức thiệt hại xác định là 10 triệu đồng.

Câu hỏi 5. Trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán được phân công xét xử vụ án hình sự triệu tập bị can và bị hại để hòa giải phần bồi thường dân sự trong vụ án hình sự có vi phạm về thủ tục tố tụng hình sự không?

Trả lời:

BLTTHS không quy định thủ tục Thẩm phán triệu tập bị can và bị hại để thực hiện việc hòa giải vì hòa giải trong tố tụng hình sự không phải là thủ tục bắt buộc (trừ trường hợp việc giải quyết vấn đề dân sự được tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự theo Điều 28 BLTTHS thì trình tự, thủ tục phải theo tố tụng dân sự). Tuy nhiên, nếu đương sự hoặc bị can (trường hợp bị can được tại ngoại) có đề nghị hoặc Thẩm phán xét thấy cần thiết mà Thẩm phán triệu tập các bên để thương lượng, thỏa thuận với nhau về việc bồi thường thì cũng không coi là vi phạm thủ tục tố tụng hình sự.

Thực tiễn xét xử cho thấy khi đương sự và bị can có yêu cầu, cơ quan tiến hành tố tụng vẫn tạo điều kiện cho các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự và trường hợp các bên tự nguyện thỏa thuận được với nhau thì Tòa án công nhận việc thỏa thuận của các đương sự và sự thỏa thuận này được ghi vào phần quyết định của bản án (mà không ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự).

Câu hỏi 6. Bị cáo bị xử phạt tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 12 tháng. Trường hợp này có được xem xét đề nghị rút ngắn thời gian thử thách trong giai đoạn thi hành án hay không?

Trả lời:

“Rút ngắn thời gian thử thách” được quy định tại Khoản 4 Điều 60 BLHS trong trường hợp người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án có thể rút ngắn thời gian thử thách. Về nguyên tắc, thời gian thử thách là từ một đến năm năm và không được ít hơn hình phạt tù.

Khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch số 08/TTLT/BCA-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 14/8/2012 quy định về điều kiện rút ngắn thời gian thử thách của án treo như sau: Người được hưởng án treo có thể được Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực quyết định rút ngắn thời gian thử thách của án treo khi có đủ các điều kiện sau:

a) Đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách của án treo;

b) Có nhiều tiến bộ, được thể hiện bằng việc trong thời gian thử thách thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ của người được hưởng án treo; chấp hành đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy chế nơi làm việc; tích cực lao động, học tập và sửa chữa lỗi lầm; thực hiện đầy đủ các hình phạt bổ sung, nghĩa vụ khác theo quyết định của bản án;

c) Được Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát giáo dục người được hưởng án treo đề nghị rút ngắn thời gian thử thách bằng văn bản.

Như vậy, pháp luật hình sự không hạn chế trường hợp được rút ngắn thời gian thử thách, chỉ cần thỏa mãn quy định tại Khoản 1 Điều 4 Thông tư 08/TTLT/BCA-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 14/8/2012 là đủ điều kiện rút ngắn thời gian thử thách, mà không phụ thuộc vào thời gian thử thách đã được ấn định ở mức thấp nhất là 12 tháng.

Do vậy, bị cáo bị xử phạt tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 12 tháng nếu đáp ứng điều kiện luật định thì cũng thuộc trường hợp được đề nghị rút ngắn thời gian thử thách

Tuy nhiên, mức rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo một năm được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 và 4 Điều 4 Thông tư này như sau:

“Người được hưởng án treo một năm chỉ được rút ngắn thời gian thử thách một lần từ một tháng đến một năm”.

“Trường hợp người được hưởng án treo lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và có đủ các điều kiện được hướng dẫn tại khoản 1 Điều này, thì Tòa án có thể quyết định rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại”.

Lưu ý: “Người được hưởng án treo một năm” quy định tại Khoản 2 Điều 4 Thông tư 08/TTLT/BCA-BTP-TANDTC-VKSNDTC là một năm thời gian thử thách (12 tháng thời gian thử thách).

Câu hỏi 7. Khoản 1 Điều 61 BLHS quy định “…bị bệnh nặng thì được hoãn thi hành án cho đến khi sức khỏe hồi phục”. Vậy người bị kết án do tiêm chích ma túy bị hoại tử chi dưới, phải tháo khớp háng, giám định mất 76% sức khỏe vĩnh viễn (1 trường hợp mất 83% sức khỏe vĩnh viễn), vận động khó khăn, phải có dụng cụ hỗ trợ có được coi là bị bệnh nặng không?

Trả lời:

Tiết a điểm 7.1Mục 7 Nghị quyết 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 hướng dẫn về trường hợp bị bệnh nặng quy định tại Điều 61 BLHS thì: “người bị bệnh nặng, tức là bị bệnh đến mức không thể đi chấp hành hình phạt tù được và nếu bắt đi chấp hành hình phạt tù sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ; do đó, cần thiết phải cho họ được hoãn chấp hành hình phạt tù để họ có điều kiện chữa bệnh; ví dụ: ung thư giai đoạn cuối, xơ gan cổ chướng, lao nặng độ 4 kháng thuốc, bại liệt, suy tim độ 3 trở lên, suy thận độ 4 trở lên, HIV chuyển giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội và có tiên lượng xấu... Phải có kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên về việc người bị xử phạt tù bị bệnh nặng và nếu bắt họ đi chấp hành hình phạt tù sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ”.

Quy định này đã xác định điều kiện được coi là bị bệnh nặng, bao gồm:

- Không thể đi chấp hành hình phạt tù và nếu bắt đi chấp hành hình phạt tù sẽ nguy hiểm đến tính mạng

- Phải có kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên về việc người bị xử phạt tù bị bệnh nặng và nếu bắt họ đi chấp hành hình phạt tù sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ.

Như vậy, điều kiện quyết định để cho người bị kết án được hoãn chấp hành hình phạt tù là họ phải bị đau ốm tới mức không thể đi chấp hành hình phạt tù được, việc đi chấp hành hình phạt tù sẽ rất nguy hiểm đến tính mạng của họ. Mục đích của việc hoãn chấp hành hình phạt tù trong các trường hợp này là nhằm tạo cho họ có điều kiện để chữa bệnh.

Người bị mất phần trăm sức khỏe vĩnh viễn vẫn không thuộc trường hợp không thể đi chấp hành hình phạt tù. Do vậy, người bị hoại tử chi dưới, phải tháo khớp háng (giám định mất 76% sức khỏe vĩnh viễn hoặc 83% sức khỏe vĩnh viễn) không được coi là bị bệnh nặng để làm căn cứ hoãn thi hành án.

Tuy nhiên, Cơ quan thi hành án hình sự sẽ có chế độ hợp lý khi thi hành hình phạt tù đối với các trường hợp như thế này.

Câu hỏi 8. Người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH hai thành viên đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự (được tại ngoại) có được quyền đại diện cho Công ty để khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án và tham gia tố tụng giải quyết vụ án không?

Trả lời:

Người bị truy cứu trách nhiệm hình sự không đồng nghĩa với việc bị tước bỏ tất cả các quyền công dân, mà họ chỉ bị hạn chế một số quyền nhất định theo quyết định của Tòa án, ngay cả khi bị áp dụng hình phạt tù, người bị kết án cũng vẫn còn các quyền không bị Tòa án tước bỏ.

Ví dụ người đang bị giam giữ vẫn có quyền xin ly hôn (kể cả trường hợp bị kết án giam).

Vì vậy, Người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH hai thành viên đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự (được tại ngoại) vẫn có quyền đại diện cho Công ty để khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án và tham gia tố tụng giải quyết vụ án nếu tại thời điểm đó họ đang là người đại diện theo quy định của pháp luật mà chưa bị cơ quan có thẩm quyền cách chức, đình chỉ, tạm đình chỉ vv… chức vụ.

Tuy nhiên, trường hợp này Tòa cần giải thích cho người đại diện đó biết họ nên ủy quyền cho người khác vì họ có thể bị giam trong trường hợp cần thiết theo quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng.

Câu hỏi 9.

A và B bị Viện kiểm sát truy tố về tội cố ý gây thương tích khoản 3 Điều 104 BLHS. Các bên lập xong biên bản về việc bồi thường dân sự, trong đó C (cha của A) bồi thường cho gia đình bị hại E 70 triệu, D (cha của B) bồi thường cho gia đình E 70 triệu. Khi hồ sơ chuyển sang Tòa án, Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung vì thấy rằng chưa đủ căn cứ để kết tội A. Sau khi nhận lại hồ sơ, Viện kiểm sát đình chỉ vụ án đối với A, chuyển hồ sơ cho Tòa án chỉ truy tố B. Tại phiên tòa C (và A) yêu cầu gia đình E phải trả lại 70.000.000 đồng tiền đã nộp bồi thường.

Hỏi: Tòa án có chấp nhận yêu cầu của C không? Nếu có chấp nhận thì tính án phí thế nào? Gia đình B có phải chịu án phí? Nếu không chấp nhận thì C có phải chịu án phí không?

Trả lời:

Trong trường hợp này, khi xét xử nếu có căn cứ A có liên quan đến hành vi cố ý gây thương tích và có nghĩa vụ liên đới cùng với B bồi thường thiệt hại (nhưng không bị truy tố) thì yêu cầu của A và C (cha của A) không được chấp nhận.

Trường hợp có căn cứ xác định A không có nghĩa vụ bồi thường mà toàn bộ thiệt hại do B bồi thường thì chập nhận yêu cầu của A và C (cha của A) buộc gia đình E phải hoàn trả lại số tiền A (C) đã bồi thường.

Về án phí có hai trường hợp xảy ra sau:

- Nếu A có nghĩa vụ liên đới bồi thường thì về nguyên tắc phải chịu án phí, nhưng do bồi thường trước khi xét xử nên không phải chịu án phí.

- Nếu A không có nghĩa vụ liên đới bồi thường thì buộc E phải trả lại tiền cho A nhưng cũng không tính án phí. Trong trường hợp này, nếu xác định tổng thiệt hại là 140 triệu thì B phải bồi thường thêm cho E 70 triệu nữa và phải chịu án phí trên 70 triệu này.

Câu hỏi 10.

Bị cáo có 05 lần phạm tội trộm cắp tài sản nhưng 01 lần thuộc trường hợp được đương nhiên xóa án tích theo Nghị quyết số 33 của Quốc hội.

Hỏi bị cáo có bị xem là “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” theo hướng dẫn tại Điểm a, Tiểu mục 5.1 và 5.2 Mục 5 Nghị quyết số 01/2006/HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán không?

Trả lời:

Tại Mục 5. Nghị quyết số 01/2006/HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán quy định:

“Chỉ áp dụng tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:

a. Cố ý phạm tội từ năm lần trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích;

b. Người phạm tội đều lấy các phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính”.

Tại điểm e, khoản 2, Điều 1 của Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12 quy định: “Những người đã chấp hành xong hình phạt hoặc được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc phần hình phạt còn lại quy định tại điểm đ khoản này thì đương nhiên được xoá án tích”.

Như vậy, căn cứ vào các quy định trên thì bị cáo này chỉ tính 4 lần phạm tội (do 1 lần đương nhiên được xóa án tích) nên không áp dụng tình tiết “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”.

Câu hỏi 11. Người có nghĩa vụ liên quan bị buộc bồi thường cho bị hại hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác trong cùng vụ án có phải chịu án phí dân sự không?

Trả lời:

Theo khoản 3 Điều 22 của Pháp lệnh Án phí, lệ phí Tòa án thìnghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự được thực hiện theo quy định tại Điều 27 của Pháp lệnh này.

Theo đó, trong mọi trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan buộc phải thực hiện bồi thường thiệt hại cho người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác phải chịu án phí theo quy định tại Pháp lệnh Án phí, lệ phí Tòa án.

Câu hỏi 12.

Điều 177 BLTTHS quy định thời hạn tạm giam không quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 176 ba mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, bốn mươi lăm ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, hai tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, ba tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Hỏi: Thời hạn chuẩn bị xét xử có bao gồm cả thời hạn để mở phiên tòa (15 ngày) hay không?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 176 BLTTHS thì trong trường hợp thông thường sau khi nhận hồ sơ vụ án, trong thời hạn ba mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, bốn mươi lăm ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, hai tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, ba tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra một trong những quyết định: Đưa vụ án ra xét xử hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án. Đây được coi là thời hạn chuẩn bị xét xử.

Nếu ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà. Đây được coi là thời hạn mở phiên tòa.

Như vậy, thời hạn chuẩn bị xét xử không bao gồm thời hạn mở phiên tòa.

Câu hỏi 13.

Trong vụ án vi phạm các quy định về điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ, người bị hại là anh A đã bị chết. Cha mẹ anh A không còn, anh A đã ly hôn vợ, chỉ có con trai của anh A là C mới có 9 tuổi. Vậy khi tham gia tố tụng thì con trai của anh A là người duy nhất có thể là người đại diện hợp pháp của anh A, nhưng theo quy định của pháp luật thì người đại diện hợp pháp phải là người đã thành niên.

Hỏi: Trường hợp này phải giải quyết như thế nào để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh A cũng như con trai của anh A?

Trả lời:

Theo Khoản 1 Điều 141 BLDS về đại diện theo pháp luật quy định: Cha, mẹ là người đại diện theo pháp luật cho con chưa thành niên.

Trong tình huống này, con trai A là người đại diện hợp pháp của A tham gia tố tụng. Tuy nhiên, vì C là người chưa thành niên nên mẹ C (đã ly hôn A) là người đại diện theo pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con trong vụ án vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà A là người bị hại.

Câu hỏi 14.

Bị cáo A là sinh viên Trường Đại học L nghỉ tết về thăm quê và phạm tội trộm cắp tài sản tại huyện C, tỉnh N. Tòa án huyện C, tỉnh N tuyên phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo A vẫn theo học tại Trường Đại học L và Tòa án huyện C ra quyết định thi hành án. Công an huyện C không thi hành án được do bị cáo A không có mặt tại địa phương và thông báo bị cáo A đã đi học 04 năm, chỉ khi nghỉ tết mới về quê. Qua xác minh, bị cáo A vẫn đang học tại Đại học L nhưng thuê nhà trọ.

Hỏi: Tòa án huyện C tuyên giao bị cáo cho cơ quan, tổ chức nào giám sát giáo dục, quản lý trong thời gian chấp hành cải tạo không giam giữ? Nếu Tòa án huyện C đã tuyên giao bị cáo cho cơ quan giám sát giáo dục thì có giao quyết định thi hành án cho cơ quan đó hay không? Tòa án nhân dân huyện C ra quyết định thi hành án và ủy thác về đâu để thi hành án đối với bị cáo A?

Trả lời:

Khi xét xử Tòa án có trách nhiệm xác định rõ nơi cư trú của bị cáo ở đâu thì tuyên giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành cải tạo không giam giữ.

Việc giao quyết định thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 72 Luật Thi hành án hình sự:“Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau đây:

a) Người chấp hành án;

b) Viện kiểm sát cùng cấp;

c) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người chấp hành án làm việc;

d) Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở.”

Sau khi ra quyết định thi hành án Tòa án gửi quyết định đến Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người đó cư trú để thi hành theo quy định tại Điều 73 Luật Thi hành án hình sự.

Lưu ý: Theo Luật Thi hành án hình sự không còn thủ tục ủy thác thi hành án hình sự nữa.

Câu hỏi 15.

Bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố về tội giết người theo Khoản 2 Điều 93 BLHS, do vậy, trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan tố tụng đã không yêu cầu cử người bào chữa cho bị cáo, nhưng qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, Tòa án thấy hành vi của bị cáo thuộc Khoản 1 Điều 93 BLHS. Tòa án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát đề nghị Truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 93 nhưng Viện kiểm sát không chấp nhận điều tra bổ sung, giữ nguyên Quyết định truy tố và cho rằng việc trả hồ sơ của Tòa án không thuộc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo Thông tư liên tịch hướng dẫn về các trường hợp trả hồ sơ điều tra bổ sung.

Hỏi: Tòa án xét xử theo Khoản 1 Điều 93 thì có vi phạm thủ tục tố tụng và giới hạn của việc xét xử không.

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 196 BLTTHS và Nghị quyết 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 11 năm 2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số điều trong phần 3 về xét xử sơ thẩm của BLTTHS thì: “Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật, có nghĩa là với những hành vi mà Viện kiểm sát truy tố, Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản nặng hơn hoặc theo khoản nhẹ hơn so với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật.

Như vậy, nếu Tòa án xét xử theo khoản nặng hơn trong cùng một điều luật mà Viện Kiểm sát truy tố thì không vi phạm về giới hạn của việc xét xử.

Tuy nhiên, nếu Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 93 BLHS (khoản có khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình) trong khi Viện Kiểm sát chỉ truy tố khoản 2 Điều 93 BLHS mà bị cáo không có người bào chữa ngay từ giai đoạn điều tra thì vi phạm về thủ tục tố tụng theo khoản 2 Điều 57 BLTTHS.

PHẦN II

CÁC VẤN ĐỀ VỀ DÂN SỰ,

HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Câu hỏi 1. Anh A làm đơn yêu cầu Tòa án chia thừa kế quyền sử dụng đất của ông B nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) lạimang tên ông X.Trong trường hợp này, Tòa án thụ lý vụ án dân sự hay vụ án hành chính? Nếu thụ lý vụ án dân sự thì có thể chia thừa kế của ông B trong khi GCNQSDĐ vẫn mang tên ông X được không?

Trả lời:

Vụ án dân sự hay vụ án hành chính là phụ thuộcvào quan hệ tranh chấp là quan hệ dân sự hay quan hệ hành chính. Quan hệ tranh chấp xác định bởi đối tượng tranh chấp và chủ thể tranh chấp; nói cách khác là ai khởi kiện? kiện ai? Yêu cầu khởi kiện là gì?

Nếu việc khởi kiện để bảo vệ quyền dân sự thì đó là vụ án dân sự (ví dụ: yêu cầu chia thừa kế). Nếu việc khởi kiện là yêu cầuphán quyết về một quyết định hành chính, hành vi hành chính và đối tượng khởi kiện là cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện các công vụ hành chính thì đó là vụ án hành chính (ví dụ: khởi kiện yêu cầu hủy GCNQSDĐ ).

Trong trường hợp khởi kiện vụ án dân sự như xin chia thừa kế của ông B thì Tòa án vẫn có quyền giải quyết việc chia thừa kế trong khi GCNQSDĐ vẫn mang tên ông X. Đất tranh chấp đã có GCNQSDĐ là căn cứ xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp vụ án dân sự là của Tòa án. Khi đã xác định thẩm quyền thuộc về Tòa án thì Tòa án có quyền hạn xác định thực chất đất đó là của ai chứ không phụ thuộc vào giấy chứng nhận đã được cấp cho ai. Khi Tòa án giải quyết vụ án dân sự mà xác định tài sản đó là của ai và chia thừa kế thì căn cứ vào quyết định của Tòa án, cơ quan hành chính có nghĩa vụ thay đổi giấy chứng nhận theo quyết định của Tòa án căn cứ vào Điểm đ Khoản 5 Điều 41 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai (sau đây viết tắt là Nghị định 181/2004/NĐ-CP).

Khoản 5 Điều 41 nêu trên quy định:

“ Trong quá trình sử dụng đất, những trường hợp sau đây phải được cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

đ) Ranh giới thửa đất bị thay đổi khi thực hiện kết quả hòa giải thành về tranh chấp đất đai được Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền công nhận; thực hiện quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc chia tách hoặc sáp nhập tổ chức; thực hiện văn bản về việc chia tách hoặc sáp nhập tổ chức kinh tế phù hợp với pháp luật; thực hiện việc xử lý nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp, bảo lãnh; thực hiện quyết định hành chính giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai, thực hiện bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án; thực hiện văn bản công nhận kết quả đấu giá quyền sử dụng đất phù hợp pháp luật; thực hiện việc chia tách quyền sử dụng đất theo văn bản phù hợp với pháp luật đối với hộ gia đình hoặc nhóm người có quyền sử dụng đất chung…”.

Theo các quy định hiện hành như nêu ở trên thì Tòa án có thể giải quyết vụ án dân sự và có phán quyết về quyền sử dụng đất khác với GCNQSDĐ đã được cấp mà không phải hủy giấy này. Người được giao quyền sử dụng đất theo bản án dân sự cũng không cần phải khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu hủy giấy chứng nhận cũ; họ có quyền yêu cầu cơ quan hành chính cấp giấy chứng nhận mới theo bản án dân sự, và nếu không được cấp theo đúng quy định thì họ có quyền khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu phải cấp GCNQSDĐ mới.

Câu hỏi 2. Tòa án nhận được đơn khởi kiện của ông T yêu cầu giải quyết vụ án chia thừa kế, nhưng tài liệu chứng cứ kèm theo đơn chưa đủ. Tòa án đã yêu cầu ông T bổ sung đơn khởi kiện và gia hạn thời hạn bổ sung đơn khởi kiện, nhưng ông T vẫn không nộp đủ. Tòa án trả lại đơn khởi kiện. Sau đó, ông T khởi kiện lại nhưng thời hiệu khởi kiện đã hết. Trong trường hợp này có thể tính thời hiệu khởi kiện kể từ ngày nộp đơn khởi kiện lần đầu hay không?

Trả lời:

Nếu Tòa án quyết định trả lại đơn khởi kiện và quyết định trả lại đơn khởi kiện đã có hiệu lực (nếu có khiếu nại thì cũng đã được giải quyết khiếu nại) thì việc khởi kiện lần đó đã chấm dứt. Do vậy thời hiệu khởi kiện tính từ lần nộp đơn sau, không được tính từ lần nộp đơn trước.

Cần phải phân biệt nghĩa vụ nộp tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện với việc bổ sung đơn khởi kiện. Đơn khởi kiện chưa đầy đủ về mặt nội dung thì phải bổ sung, nếu không bổ sung đầy đủ nội dung thì đơn đó chưa hợp lệ, Tòa án không thể nhận đơn đó để thụ lý. Còn tài liệu, chứng cứ là những căn cứ chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện thì họ có quyền xuất trình trong suốt quá trình giải quyết vụ án và ngay cả tại phiên tòa chứ không đòi hỏi phải xuất trình ngay trước khi thụ lý vụ án.

Hình thức, nội dung đơn khởi kiện được quy định cụ thể tại Điều 164 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).

Theo quy định tại Điều 6 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 3/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì:

Về nguyên tắc, khi gửi đơn khởi kiện cho Toà án, người khởi kiện phải gửi kèm theo tài liệu, chứng cứ để chứng minh họ là người có quyền khởi kiện và những yêu cầu của họ là có căn cứ và hợp pháp. Tuy nhiên, trong trường hợp vì lý do khách quan nên họ không thể nộp ngay đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, thì họ phải nộp các tài liệu, chứng cứ ban đầu chứng minh cho việc khởi kiện là có căn cứ. Các tài liệu, chứng cứ khác, người khởi kiện phải tự mình bổ sung hoặc bổ sung theo yêu cầu của Toà án trong quá trình giải quyết vụ án.”

Như vậy, không phải cứ không đủ chứng cứ kèm theo thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện. Ngay từ khi chưa thụ lý vụ án thì Tòa án không thể đã có kết luận người khởi kiện không xuất trình đủ tài liệu, chứng cứ để trả lại đơn khởi kiện. Do đó, việc trả lại đơn khởi kiện với lý do không xuất trình đủ tài liệu, chứng cứ là không đúng.

Câu hỏi 3.

A là nguyên đơn khởi kiện đòi lại nhà ở của mình do B đang chiếm hữu, sử dụng. Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết không chấp nhận yêu cầu của A. Sau đó, A kháng cáo. Tòa án cấp phúc thẩm xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của A, buộc B phải trả lại ngôi nhà đó cho A (Bản án đã được cưỡng chế thi hành). Vụ án bị kháng nghị giám đốc thẩm. Quyết định giám đốc thẩm đã hủy toàn bộ bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm để xét xử lại từ đầu theo thủ tục sơ thẩm.

Vụ án được chuyển lại cho Tòa án cấp sơ thẩm. Tòa sơ thẩm đã thông báo gọi A đến Tòa ánđể tiếp tục thụ lý giải quyết vụ án, nhưng A không đến (vì A đã được sử dụng, quản lý ngôi nhà).

Trường hợp này Tòa án phải giải quyết như thế nào? Nếu B làm đơn khởi kiện yêu cầu A phải trả nhà cho mình (trở thành nguyên đơn) thì Tòa án có thụ lý vụ án mới hay chỉ cần thay đổi địa vị tố tụng giữa nguyên đơn và bị đơn và tiếp tục giải quyết vụ án ?

Trả lời:

Đây là trường hợp có quyết định giám đốc thẩm sau khi bản án đã được đưa ra thi hành xong, nguyên đơn trong vụ kiện đã được giao tài sản. Như vậy, khi thụ lý sơ thẩm lại thì tình trạng tranh chấp đã khác với tình trạng tranh chấp khi xử sơ thẩm trước đây. Tòa án giải quyết sơ thẩm lại phải giải quyết vụ án mới với tất cả những tình tiết mới.

Ví dụ: Khi xét xử sơ thẩm lần đầu, nhà đang do B sử dụng nên khi chấp nhận yêu cầu đòi nhà của A thì Tòa án phải quyết định buộc B giao nhà cho A. Khi xét xử sơ thẩm lại thì người sử dụng nhà là A và A đã có sửa chữa lại nhà thì Tòa án có thể vẫn chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn A nhưng không có việc buộc B phải giao nhà cho A; nếu bác yêu cầu của A thì Tòa án phải giải quyết định cả việc A phải giao lại nhà cho B và cả việc thanh toán chi phí sửa chữa (nếu A có yêu cầu).

Tuy nhiên, khi thụ lý lại vụ án, địa vị tố tụng của các đương sự vẫn xác định theo vụ án cũ nên A vẫn là nguyên đơn. Nguyên đơn được triệu tập đếnlần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án phải ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 192 BLTTDS.

Trường hợp B làm đơn khởi kiện đòi lại nhà thì B là nguyên đơn của vụ án mới mà A là bị đơn. Đây không phải là trường hợp thay đổi địa vị tố tụng quy định tại Điều 219 BLTTDS vì yêu cầu của B không phải là yêu cầu phản tố (phản tố phải là yêu cầu về một quan hệ tranh chấp khác). Việc Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do A là nguyên đơn không cản trở quyền khởi kiện của B và thụ lý vụ án mới (theo quy định tại Điều 193 BLTTDS) và cũng không phải là trường hợp “sự việc đã được giải quyết…” quy định ở Điểm c Khoản 1 Điều 168 BLTTDS.

Câu hỏi 4. Anh A nộp đơn đến Tòa án huyện X xin ly hôn với chị B, đồng thời yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng đất tại huyện X. Nguồn gốc đất là do bà C (mẹ của chị B) lập văn bản cho anh A và chị B có xác nhận của anh trai của chị B nhưng bà C vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án xác định các anh, chị, em của chị B là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (trong đó có một người chị của chị B đã định cư ở nước ngoài trước khi Tòa án thụ lý vụ án). Trường hợp này Tòa án huyện X có tiếp tục giải quyết hay không?

Trả lời:

Khoản 4 Điều 56 BLTTDS quy định: “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Toà án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.”

Anh A có yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng đất trong vụ án ly hôn. Đất đã đượcbà C lập văn bản cho nhưng bà C chưa được cấp GCNQSDĐ nên việc cho đất chưa hoàn tất về thủ tục. Tòa án phải giải quyết việc cho đất đã hợp pháp và hoàn thành chưa. Do vậy, việc Tòa án giải quyết yêu cầu chia tài sản là quyền sử dụng đất có liên quan trực tiếp tới quyền tài sản của các thừa kế của bà C. Tòa án xác định các anh chị em của chị B là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng.

Khoản 1 Điều 56 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 33 BLTTDS thì những tranh chấp “ có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài…không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện”. Do vậy , vụ án nêu trên không thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyên X. Đây là trường hợp thụ lý sai thẩm quyền, Tòa án đã thụ lý không đúng thẩm quyền phải căn cứ vào khoản 1 Điều 37 BLTTDS ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền và xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý.

Cũng cần lưu ý là trường hợp nêu trên khác với trường hợp “Không thay đổi thẩm quyền giải quyết của Tòa án” quy định tại Điều 412 BLTTDS và Khoản 5 Điều 7 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao. Đó là trường hơp Tòa án đã thụ lý đúng thẩm quyền, trong quá trình giải quyết mới xuất hiện những yếu tố mới (như có đương sự ra nước ngoài hay từ nước ngoài trở về Việt Nam…) thì Tòa án đã thụ lý vẫn tiếp tục giải quyết vụ án đó.

Câu hỏi 5. Những trường hợp ly hôn có yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng đất mà các bên đã có hợp đồng chuyển nhượng (có công chứng hoặc chưa công chứng) nhưng vì những lý do khác nhau mà chưa đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Tòa án phải giải quyết như thế nào? Có cần phải tách yêu cầu chia tài sản bằng một vụ án khác để giải quyết hay không?

Trả lời:

Trong vụ án ly hôn, đương sự có quyền yêu cầu chia tài sản chung, tài sản chung có thể bao gồm: tiền, vật, quyền tài sản.

Trong vụ án ly hôn, đương sự cũng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết toàn bộ tài sản chung hoặc một phần tài sản chung, còn một phần tài sản chung họ cũng có quyền yêu cầu chưa giải quyết hoặc tách ra giải quyết trong vụ án khác.

Đối với việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì đây là một giao dịch của vợ chồng về tài sản. Nếu có yêu cầu giải quyết trong cùng vụ án ly hôn (hoặc vợ, hoặc chồng, hoặc người tham gia giao dịch) thì Tòa án phải giải quyết và việc giải quyết thì như các hợp đồng chuyển nhượng khác, cụ thể là:

- Hợp đồng đã được công chứng là hợp đồng đã có hiệu lực pháp luật thì giải quyết theo các quy định của pháp luật về hợp đồng đã có hiệu lực.

- Hợp đồng chưa được công chứng là hợp đồng vô hiệu do vi phạm về hình thức thì được giải quyết theo các quy định của pháp luật về hợp đồng vô hiệu.Câu hỏi 6

Câu hỏi 6. Trong vụ án tranh chấp thừa kế là quyền sử dụng đất. Nếu thửa đất được cấp giấy CNQSDĐ cho một người không đúng thì Tòa án có đồng thời hủy giấy CNQSDĐ đó không? Nếu hủy giấy CNQSDĐ đất thì có đưa Uỷ ban nhân dân nơi cấp giấy vào tham gia tố tụng không?

Trả lời:

Khoản 1 Điều 32a BLTTDS quy định: “Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết. Trong trường hợp này, cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng.”

Như vậy, trong trường hợp nêu trên nếu việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là rõ ràng trái pháp luật thì Tòa án có quyền hủy GCNQSDĐ đã được cấp. Nếu Tòa án dự kiến sẽ hủy GCNQSDĐ đó thì phải đưa Ủy ban nhân dân đã cấp giấy chứng nhận đó tham gia tố tụng và thẩm quyền của Tòa án được xác định theo Luật tố tụng hành chính.Ví dụ: cơ quan cấp GCNQSDĐ là UBND cấp huyện thì Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự và hủy GCNQSDĐ là TAND án cấp huyện; nếu cơ quan cấp GCNQSDĐ là UBND cấp tỉnh thì thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự và hủy GCNQSDĐ là TAND cấp tỉnh. Như vậy, sẽ có tình trạng vụ án dân sự đang thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện, do có dự kiến hủy quyết định hành chính, vụ án trở thành thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh.

Cần chú ý là điều kiện để áp dụng Điều 32a trên là quyết định cá biệt phải rõ ràng trái pháp luật. Trong trường hợp chưa phải rõ ràng trái pháp luật thì Tòa án không được giải quyết ngay trong vụ án dân sự. Việc Tòa án không giải quyết hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không làm cản trở Tòa án giải quyết vụ án dân sự. Sau khi Tòa án có bản án, quyết định về việc giải quyết vụ án dân sự thì cơ quan hành chính có nghĩa vụ thay đổi giấy chứng nhận theo quyết định của Tòa án căn cứ vào Điểm đ, Khoản 5 Điều 41 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ.

Trường hợp cơ quan hành chính không thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án thì đương sự có quyền khởi kiện vụ án hành chính.

Câu hỏi 7.

Năm 2005, UBND huyện A cấp giấy CNQSDĐ đất diện tích 550m2 đất đình làng cho thôn B để xây dựng nhà văn hóa thôn. Trước khi cấp giấy CNQSDĐ, ông C đãchiếm một phần diện tích đất trênlàm nhà ở.

Năm 2012, Trưởng thôn B đã làm đơn kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông B phải trả lại đất và bồi thường cho thôn do sử dụng đất trái pháp luật là 93.000.000 đồng.

Vụ kiện trên có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án không? Trưởng thôn hay già làng có được quyền tham gia tố tụng không?

Trả lời:

Thôn không phải là một pháp nhân và cũng không phải là một chủ thể độc lập theo quy định của pháp luật dân sự. Theo quy định của pháp luật dân sự thì chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự là cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình.

Thôn không phải là một pháp nhân nên Trưởng thôn không đương nhiên thay mặt cho thôn trong các quan hệ pháp luật dân sự và tố tụng dân sự. Ủy ban nhân dân cấp đất cho thôn là cấp cho cộng đồng dân cư thôn đó nên Trưởng thôn phải tham gia tố tụng với tư cách là người được cộng đồng dân cư ủy quyền.

Như vậy, chủ thể tố tụng là cộng đồng dân cư, cộng đồng dân cư cũng là người được giao đất, là chủ sử dụng đất nên có quyền khởi kiện yêu cầu người đang chiếm giữ một phần đất trả lại đất. Do đó, đây là quan hệ tranh chấp dân sự, đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên thuộc thẩm quyền của Tòa án.

Quyền tham gia tố tụng phải là đại diện theo ủy quyền của cộng đồng dân cư. Đại diện ở đây có thể là Trưởng thôn hoặc người khác được cộng đồng dân cư ủy quyền tham gia tố tụng.

Câu hỏi 8. Trong vụ án ly hôn mà bị đơn đang bị tạm giam, thi hành án phạt tù thì Tòa án có thể hòa giải tại trại giam được không?

Trả lời:

Khoản 1 Điều 180 BLTTDS quy định:

“1. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Toà án tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hoà giải hoặc không tiến hành hoà giải được quy định tại Điều 181 và Điều 182 của Bộ luật này.”

Trường hợp một bên đương sự (bị đơn) đang bị tạm giam, đang thi hành án phạt tù thì không thuộc trường hợp không được hòa giải theo Điều 181 BLTTDS, do vậy, việc hòa giải phải được thực hiện trừ trường hợp không tiến hành hòa giải được theo Điều 182 BLTTDS.

Về nguyên tắc, chưa có quy định cơ quan đang quản lý người bị tạm giam, trại giam nơi người �ang thi hành án phạt tù phải có nghĩa vụ dẫn giải người bị tạm giam, người đang thi hành án phạt tù đi thực hiện công việc riêng hay việc giải quyết vụ án dân sự. Vì vậy,việc hòa giải được tiến hành nếu cơ quan đang quản lý người bị tạm giam, trại giam nơi người đang thi hành án phạt tù tổ chức được việc hòa giải tại trại giam. Trường hợp cơ quan đang quản lý người bị tạm giam, trại giam nơi người đang thi hành án phạt tù không tổ chức được việc hòa giải thì phải coi là trường hợp không tiến hành hòa giải được.

Pháp luật không quy định về địa điểm tiến hành hòa giải giữa các đương sự nên việc hòa giải nói chung được thực hiện tại trụ sở của Tòa án nhưng cũng có thể được thực hiện ở nơi khác, kể cả nơi đương sự (bị đơn) đang bị tạm giam hay thi hành án phạt tù.

Câu hỏi 9. Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, Tòa án đã định giá tài sản. Một bên đương sự khiếu nại cho rằng giá mà Hội đồng định giá là thấp và có đưa ra một số chứng cứ chứng minh. Tòa án đã trưng cầu định giá lại. Khi có kết quả định giá lại, đương sự này vẫn không đồng ý với kết quả định giá mặc dù không đưa được chứng cứ chứng minh và cũng không có đơn đề nghị định giá lại. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, kiểm sát viên tham gia phiên tòa, nghiên cứu hồ sơ vụ án có kiến nghị đề nghị Tòa án xem xét lại kết quả định giá. Trường hợp này Tòa án có phải tiến hành định giá lại không?

Trả lời:

Cần phải phân biệt quyền yêu cầu định giá tài sản,tức là quyền yêu cầu giám định về giá cả là một quyền tố tụng của đương sự, khác với quyền đánh giá của đương sự về kết quả định giá, giá cả của tài sản tranh chấp. Do vậy, nếu đương sự không có yêu cầu định giá mà chỉ cho rằng kết quả định giá chưa đúng thì chưa có căn cứ để Tòa án quyết định định giá lại. Tòa án tự quyết định định giá lại trong trường hợp này là không đúng.

Sau khi có kết quả định giá lại mà đương sự vẫn có ý kiến về kết quả định giá thì đó là quyền của đương sự. Cũng như ý kiến kiến nghị của Kiểm sát viên về định giá cũng sẽ được Hội đồng xét xử xem xét khi giải quyết vụ án.

Câu hỏi 10. Anh A nộp đơn yêu cầu Tòa án cho ly hôn với chị B. Trong quá trình Tòa án giải quyết, anh A và chị B đã thỏa thuận ly hôn và thỏa thuận về việcnuôi con chung. Tuy nhiên, về tài sản thì còn có một mảnh đất mà chị B đã ký chuyển nhượng cho C và anh A không đồng ý việc chuyển nhượng này. Chị B thừa nhận chị đã đã ký vào hợp đồng và được công chứng (trong hợp đồng ghi phần bên bán có cả tên của anh A). Hiện nay C đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tòa án có giải quyết về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này trong cùng một vụ án hay tách ra giải quyết bằng một vụ án khác?

Trả lời:

Đây là trường hợp ly hôn có tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là tài sản chung vợ chồng.

Khoản 1 Điều 5 BLTTDS quy định:

“1. Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.”

Với nguyên tắc quy định như trên, khi ly hôn, đương sự yêu cầu giải quyết về tài sản nào thì Tòa án giải quyết tài sản đó. Vợ chồng có thể tự giải quyết chia tài sản và việc tự chia ấy cũng là có hiệu lực nếu thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Vợ chồng cũng có quyền thỏa thuận về việc chia tài sản và yêu cầu Tòa án công nhận. Đối với tài sản tranh chấp thì vợ chồng cũng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết đối với từng loại tài sản và có thể yêu cầu giải quyết ở các thời điểm khác nhau, các vụ án khác nhau. Do vậy, nếu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà có đương sự yêu cầu giải quyết cùng với vụ án ly hôn (hoặc anh A, hoặc chị B, hoặc C) thì quan hệ tranh chấp này cần phải được giải quyết.Câu hỏi 11

Câu hỏi 11. Ông C kết hôn với bà V năm 1975, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T. Năm 1978, ông C kết hôn với bà H cũng có đăng ký kết hôn. Năm 2012, bà H nộp đơn yêu cầu xin ly hôn với ông C và bà V cũng yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản. Vậy bà V tham gia tố tụng với tư cách gì? Đây là vụ án ly hôn hay là việc hủy hôn nhân trái pháp luật?

Trả lời:

Ông C kết hôn lần đầu vào năm 1975 theo đúng quy định của pháp luậtnên hôn nhân giữa ông C và bà V là hợp pháp.

Năm 1978 là thời điểm luật Hôn nhân gia đình năm 1959 đã có hiệu lực thi hành trong cả nước (từ 25/3/1977) nên việc ông C đang có vợ lại đăng ký kết hôn với bà H là trái pháp luật.

Tuy nhiên, hiện nay bà H không yêu cầu hủy hôn nhân giữa bà và ông C mà yêu cầu xin ly hôn, có nghĩa là yêu cầu xác định quan hệ hôn nhân giữa bà và ông C là hợp pháp và được giải quyết vấn đề tài sản như quan hệ hôn nhân hợp pháp thì Tòa án phải thụ lý vụ án ly hôn theo khởi kiện của nguyên đơn chứ không phải thụ lý vụ án về việc hủy hôn nhân trái pháp luật.

Như vậy, trong vụ án, bà H đã là nguyên đơn, ông C là bị đơn nên bà V có yêu cầu giải quyết về tài sản thì tư cách tham gia tố tụng của bà C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Khi giải quyết vụ án thì căn cứ vào các quy định của pháp luật, nếu xác định là quan hệ hôn nhân trái pháp luật thì Tòa án xử hủy quan hệ hôn nhân trái pháp luật và giải quyết tài sản theo tính chất của từng mối quan hệ hôn nhân (quan hệ giữa ông C và bà V là quan hệ hôn nhân hợp pháp thì giải quyết quan hệ tài sản được hình thành từ quan hệ hôn nhân hợp pháp; quan hệ giữa ông C và bà H là quan hệ hôn nhân không hợp pháp thì chia tài sản chung giữa những người không có quan hệ hôn nhân, không được công nhận quan hệ vợ chồng).

Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về hậu quả của việc hủy việc kết hôn trái pháp luật là:

1. Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên nam, nữ phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.

2. Quyền lợi của con được giải quyết như trường hợp cha mẹ ly hôn.

3. Tài sản được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; tài sản chung được chia theo thỏa thuận của các bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con.

Cũng lưu ý là: Bà V có quan hệ hôn nhân hợp pháp với ông C nên quan hệ tài sản giữa hai người là quan hệ tài sản theo quy định của hôn nhân hợp pháp. Bà V có quyền xin ly hôn và chia tài sản chungvà cũng có thể không yêu cầu ly hôn nhưng vẫn có quyền yêu cầu chia tài sản chung (chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo quy định tại Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình).

Câu hỏi 12.

Ông A và bà B sinh được 5 người con là C, D, H, E và G. Cả 5 người con đều đã có gia đình riêng. Năm 2002, bà B chết. Năm 2006, ông A chết. Năm 2004, ông A có di chúc để lại tài sản cho người con gái út là chị G. Bản di chúc này do chị G viết theo lời của ông A. Hai ngày sau, chị G đưa cho chị D và chị H ký và hai mươi ngày sau đưa bản di chúc cho chính quyền địa phương xác nhận.

Những người con khác không đồng ý với bản di chúc nên đã khởi kiện yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo pháp luật. Hỏi bản di chúcnhư trên có hợp pháp không?

Trả lời:

Di chúc được lập vào năm 2004 nên việc xác định di chúc hợp pháp phải căn cứ vào pháp luật có hiệu lực thi hành ở thời điểm lập di chúc là BLDS năm 1995. Trong trường hợp di chúc của ông A có đủ các điều kiện hợp pháp nhưng quyết định cả về di sản của bà B thì di chúc của ông A cũng chỉ có hiệu lực với phần di sản của ông A.

Khoản 1 Điều 655 BLDS năm 1995 quy định:

“1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.”

Khoản 1 trên đây là quy định về điều kiện hợp pháp của bản di chúc nói chung.

Từ Khoản 2 đến Khoản 5 Điều 655 BLDS năm 1995 là quy định về việc lập di chúc hợp pháp đối với một số trường hợp đặc biệt.

Di chúc của ông A được làm vào năm 2004, năm 2006 ông A mới chết.Khoản 2 Điều 654 BLDS năm 1995 về di chúc miệng quy định: “Sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ”. Do đó, di chuc của ông A lập năm 2004 không được công nhận là di chúc miệng hợp pháp.

Điều 659 BLDS năm 1995 về di chúc bằng văn bản có người làm chứng quy định: “ Trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúc thì có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc”.Trong trường hợp này có hai người làm chứng nhưng hai người này lại thuộc trường hợp pháp luật quy định không được làm chứng vì là người hưởng thừa kế nên đây cũng không được coi là di chúc bằng văn bản có người làm chứng hợp pháp.

Đối với trường hợp di chúc có chứng thực thì Khoản 1 Điều 661 BLDS năm 1995 quy định:

“Việc lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải tuân theo thủ tục sau đây:

1. Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố. Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn ký vào bản di chúc.”

Như vậy, di chúc có chứng thực được coi là hợp pháp khi người lập di chúc là người trực tiếp thể hiện ý chí, thể hiện nội dung bản di chúc trước người có thẩm quyền chứng thực. Trường hợp này bản di chúc lại do chị G mang đến chính quyền địa phương để xác nhận nên đây cũng chưa phải là bản di chúc hợp pháp.

Ngoài ra, hình thức của di chúc này cũng không phù hợp với một loại di chúc nào khác được quy định trong BLDS năm 1995 nên nó không đủ điều kiên công nhận hợp pháp.

Câu hỏi 13. Trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, người anh có tên trong sổ mục kê và bản đồ địa chính nhưng không sử dụng đất mà người em đã sử dụng đất đó và làm nhà ở từ năm 1980 cho đến nay. Người em đã có tên trong bản đồ địa chính được lập năm 1994-1995. Đến năm 2007, người em được nhà nước cấp GCNQSDĐ. Năm 2012, người anh mới khởi kiện yêu cầu người em trả lại đất. Tòa án có cơ sở chấp nhận yêu cầu của người anh không?

Trả lời:

Quyền sử dụng đất của cá nhân được hình thành do được Nhà nước giao quyền sử dụng đất, được thừa kế quyền sử dụng đất, được chuyển nhượng quyền sử dụng đất, và còn được hình thành do được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất.

Khoản 3 Điều 4 Luật Đất đaiquy định: “Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định là việc Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho người đó”

Trong trường hợp này, người em đã sử dụng đất liên tục, lâu dài, ổn định và đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đã hình thành quyền sử dụng đất hợp pháp. Người anh tuy có tên trong sổ mục kê nhưng không quản lý, sử dụng, không thực hiện các nghĩa vụ của người sử dụng đất nên quyền sử dụng của người anh đối với diện tích đất này đã không còn tồn tại.

Khikiện đòi lại tài sản, người kiện đòi tài sản phải chứng minh được mình là chủ sở hữu của tài sản; đối với đất thì phải chứng minh được mình là người sử dụng hợp pháp. Người anh không còn quyền sử dụng đất nữa nên Tòa án phải bác yêu cầu đòi lại đất của người anh.

Câu hỏi 14. Ông A chuyển nhượng cho ông B 100 m2 đất ở. Hợp đồng chuyển nhượng chỉ do hai bên ký nhận với nhau mà không được công chứng, chứng thực. Theo thỏa thuận, ông A đã giao giấy tờ về đất cho ông B và ông B đã thanh toán đủ tiền cho ông A. Nhưng khi ông B làm thủ tục sang tên thì bị anh C cản trở (anh C là con trai của ông A, được ông A cho làm xưởng mộc trên đất). Ông B làm đơn khởi kiện tại Tòa án. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông A và ông B đã thỏa thuận trả lại tiền, trả lại đất cho nhau và đề nghị Tòa án công nhậnsự thỏa thuận này? Tòa án có ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự được không?

Trả lời:

Trước hết phải xác định được ông B khởi kiện là khởi kiện với nội dung gì? Từ đó mới xác định quan hệ tranh chấp có phải là quan hệ tranh chấp dân sự và có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án hay không.

Trong trường hợp ông B yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng hợp pháp hay là yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì đều là tranh chấp dân sự. Tuy nhiên, có thuộc thẩm quyền của Tòa án hay không thì còn căn cứ vào Điều 136 Luật đất đai 2003.

Điều 136 về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai quy định:

“1. Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết”.

Như vậy, nếu ông A có một trong những loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật đất đai thì tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Đây là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chưa có công chứng, chứng thực nên là hợp đồng chưa có hiệu lực. Tuy nhiên, không có ai yêu cầu tiếp tục hoàn thiện việc ký kết và thực hiện hợp đồng mà chỉ thỏa thuận về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu thì thỏa thuận này không trái pháp luật và Tòa án có thể ra quyết định công nhận sự thỏa thuận theo quy định tại Điều 187 BLTTDS.

Theo quy định tại Điều 187 BLTTDS về việc công nhận sự thỏa thuận khi có đương sự vắng mặt khi hòa giải thì:“thỏa thuận đó chỉ có giá trị đối với những người có mặt và được Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt”.

Trong vụ án nêu trên, nếu ông B khởi kiện yêu cầu buộc ông A hoàn thiện và thực hiên hợp đồng chuyển nhượng đất thì ông B là nguyên đơn, ông A là bị đơn, và anh C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, thỏa thuận trả lại tiền, trả lại đất của ông A và ông B không ảnh hưởng gì đến quyền, nghĩa vụ của anh C nên dù anh C không tham gia thỏa thuận thì Tòa án vẫn có thể công nhận thỏa thuận của ông A và ông B.

Trong trường hợp ông B khởi kiện chỉ yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả tuyên bố vô hiệu thì khởi kiện này không có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của anh C nên anh C không phải tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Câu hỏi 15.

Năm 2004, ông N và bà M ký hợp đồng nhận chuyển nhượng của ông T và bà D 100m2 đất (đất đã có GCNQSDĐ) với giá 88 triệu đồng. Hai bên đã ký hợp đồng, giao nhận tiền, đã nhận đất và xây tường bao quanh. Khi làm thủ tục sang tên GCNQSDĐ thì không thực hiên được vì UBND tỉnh có thông báo thuộc khu vực quy hoạch khu liên hợp thể thao.

Năm 2011, UBND tỉnh lại cho phép chuyển nhượng do thay đổi quy hoạch. Bên nhận chuyển nhượng yêu cầu bên chuyển nhượng đến Công chứng nhà nước để hoàn chỉnh hợp đồng. Bên bán từ chối với lý do bên mua đã sửa chữa hợp đồng.

Tháng 10/2012, ông N, bà Mkhởi kiện yêu cầu công nhận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất.Ông T và bà D cho rằng hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu do bị sửa chữa, đồng thời cho rằng đã hết thời hiệu khởi kiện.

Trường hợp nêu trên có còn thời hiệu khởi kiện không? Tòa án thụ lý vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất hay tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất?

Trả lời:

Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 159 BLTTDS thì: “Trong trường hợp pháp luật không có quy định khác về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu thì thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu được quy định như sau:

a)Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm”.

Như vậy, thời hiệu khởi kiện nói chung là 2 năm kể từ ngày “quyền và lợi ích hợp pháp …bị xâm phạm” trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Nói cách khác là nếu pháp luật có quy định thời hiệu riêng cho một loại tranh chấp (ví dụ thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là 10 năm kể từ ngày mở thừa kế) thì phải áp dụng thời hiệu riêng, nếu không có quy định thời hiệu riêng thì áp dụng thời hiệu chung theo Điều 159 nêu trên.

Nội dung khởi kiện là yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất theo hợp đồng chuyển nhượng, tức là bên khởi kiện thừa nhận đất này vốn thuộc quyền sử dụng của bị đơn nên không phải là trường hợp tranh chấp về quyền sử dụng đất (tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất) theo quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao. Tranh chấp về quyền sử dụng đất thì không bị hạn chế về thời hiệu khởi kiện nhưng trường hợp này là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng nên vẫn có thời hiệu khởi kiện. Hợp đồng chuyển nhượng trong vụ án này là hợp đồng chưa có hiệu lực (hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải đến khi được công chứng hoặc chứng thực mới có hiệu lực) nên không áp dụng thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng (Điều 427 BLDS) nhưng cũng không phải là yêu cầu tuyên bố vô hiệu nên không áp dụng thời hiệu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu (theo Điều 136 BLDS) nên thời hiệu khởi kiện được tính theo Khoản 3 Điều 159 BLTTDS là 2 năm kể từ thời điểm mà nguyên đơn cho rằng bị đơn đã xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Thời gian UBND tỉnh tạm dừng không cho phép chuyển nhượng là trở ngại phải được trừ ra khỏi thời hiệu. Sau khi UBND tỉnh tiếp tục cho phép chuyển nhượng, phía nguyên đơn yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hợp đồng (công chứng) và thực hiện nốt hợp đồng (sang tên quyền sử dụng) mà ông T và bà D không thực hiện là thời điểm được xác định bắt đầu của thời hiệu khởi kiện (năm 2011). Vì vậy, ông N và bà M nộp đơn khởi kiện vào tháng 10/2012 là còn trong thời hiệu khởi kiện.Câu hỏi 16

Câu hỏi 16. Trong việc giải quyết tranh chấp đất trồng rừng, khi tiến hành đo đạc, Tòa án triệu tập nhiều lần các hộ liền kề để xác định ranh giới nhưng người được triệu tập cố tình không có mặt. Tòa án xử lý thế nào?

Trả lời:

Trước hết phải xác định những “hộ liền kề” nêu ở trên tham gia tố tụng với tư cách nào, họ là bị đơn? là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan? hay là nhân chứng? Tùy theo địa vị tố tụng của họ mà xác định trách nhiệm của họ trong việc chứng minh và tham gia vào các hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án.

Xác định ranh giới là xác định một tình tiết quan trọng của vụ án. Việc xác định này phải căn cứ vào các chứng cứ mà các bên xuất trình, trong đó có thể có việc phải “xem xét, thẩm định tại chỗ” chứ không phải trong mọi trường hợp Tòa án phải xem xét, thẩm định tại chỗ.

Khi xem xét, thẩm định tại chỗ thì phải thực hiện đúng quy định tạiĐiều 89 BLTTDS. Hộ liền kề nếu là đương sự thì họ có quyền được báo để chứng kiến nhưng nếu họ đã được báo mà không có mặt là họ từ bỏ quyền của mình; họ không nhất thiết phải có mặt nên Khoản 2 Điều 89 mới quy định phải có “chữ ký hoặc điểm chỉ của đương sự nếu họ có mặt”.

Hộ liền kề nếu là nhân chứng thì áp dụng các quy định của pháp luật về nhân chứng. Đã là nhân chứng thì họ không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, họ chỉ là người biết những tình tiết có ý nghĩa là chứng cứ giải quyết vụ án; họ có thể bị dẫn giải đến Tòa án để khai báo, có thể phải chịu những chế tài nghiêm khắc do khai báo gian dối nhưng không nhất thiết cứ phải có mặt họ thì mới xác định được quyền sử dụng đất hợp pháp của các đương sự.

Câu hỏi 17. UBND huyện cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, mặc dù đã ký nhưng chưa giao cho hộ gia đình lý do chưa thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Trong quá trình sử dụng đất có tranh chấp. Vậy giấy CNQSDĐ có được coi như là đã cấp và có giá trị pháp lý chưa?

Trả lời:

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 4 Luật đất đai thì GCNQSDĐ là giấy chứng nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Khi GCNQSDĐ đã được cấp có thẩm quyền ký và lưu hành làgiấy chứng nhận đã được cấp (không đòi hỏi đã giao cho người sử dụng đất hay chưa) và có đầy đủ giá trị pháp lý.

Trường hợp GCNQSDĐ đã được cấp mà chưa nộp thuế sử dụng đất không ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của GCNQSDĐ vì đây là trường hợp người sử dụng đất còn nợ một nghĩa vụ tài sản chứ không phải là điều kiện hạn chế hiệu lực của GCNQSDĐ. GCNQSDĐ đã được cấp rồi, nay đổi lại giấy chứ không phải thu hồi lại GCNQSDĐ nên trong thời gian chưa giao giấy mới vẫn là trường hợp đã được cấp GCNQSDĐ; nếu có tranh chấp ở thời kỳ này là trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết tranh chấp của TAND.

Câu hỏi 18. Trong vụ án ly hôn, người chồng là nguyên đơn chỉ yêu cầu Tòa án xem xét giải quyếtquan hệ hôn nhân, người vợ lại yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết cả vấn đề về tài sản chung nhưng lại không chịu nộp tiền tạm ứng án phí chia tài sản. Tòa án có giải quyết luôn vấn đề tài sản trong vụ án không?

Trả lời:

Người chồng là nguyên đơn chỉ yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết vấn đề quan hệ hôn nhân. Người chồng đã nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật (Điều 130 BLTTDS) nên việc giải quyết quan hệ hôn nhân được tiến hành bình thường.

Về yêu cầu chiatài sản chung, phải có yêu cầu thì Tòa án mới giải quyết. Do vậy nếu người vợ có yêu cầu Tòa án xem xét vấn đề tài sản chung thì người vợ là nguyên đơn trong quan hệ này và người vợ phải thực hiện các quy định của pháp luật về vấn đề nộp án phí (Điều 130, 171 BLTTDS; Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của HĐTP TANDTChướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án). Nếu người vợ không nộp tiền tạm ứng án phí thì Tòa án không giải quyết việc chia tài sản chung.

Trongtrường hợp này Tòa án chỉ giải quyết quan hệ hôn nhân và tuyên bố chưa giải quyết vấn đề tài sản chung.

Câu hỏi 19. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án và đề nghị Tòa án công nhận sự thỏa thuận. Vậy Tòa án phải đợi đến ngày mở phiên mới công nhận sự thỏa thuận của đương sự hay Thẩm phán có thể ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự ngay? án phí trong trường hợp này được tính 50% hay 100%?

Trả lời:

Khi đã ra “Quyết định đưa vụ án ra xét xử” có nghĩa đã kết thúc giai đoạn tố tụng “Hòa giải và chuẩn bị xét xử”, mọi quyết định về vụ án phải được giải quyết tại phiên tòa. Khi Tòa án không thay đổi “quyết định đưa vụ án ra xét xử” thì không có quyền giải quyết về vụ án, kể cả việc hòa giải.

Thực tế, có nhiều trường hợp trong thời gian từ khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đến khi mở phiên tòa các đương sự lại có sự thỏa thuận với nhau về vụ án. Cũng chính vì vậy, quy định về việc xét xử tại phiên tòa được bắt đầu từ việc hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không.

Điều 220 BLTTDS quy định: “Chủ tọa phiên tòa hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không. Trong trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự về việc giải quyết vụ án”.Vì vậy, sau khi Tòa án đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì việc công nhận sự thỏa thuận của đương sự là tại phiên tòa, do Hội đồng xét xử công nhận. Theo quy định tại Khoản 11 và Khoản 12 Điều 27 Pháp lệnh Án phí, lệ phí Tòa án thì đương sự vẫn phải chịu 100% án phí nếu thỏa thuận tại phiên tòa. Tuy vậy, theo quy định tại Khoản 3 Điều 16 Nghị quyết 01/2012/NQ - HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án thì trường hợp này chỉ phải chia 50% án phí.

Câu hỏi 20. Vụ án dân sự được hòa giải thành, theo quy định của pháp luật các đương sự phải nộp 50% án phí. Tuy nhiên, phía nguyên đơn là Cơ quan bảo hiểm xã hội là đối tượng theo quy định không phải nộp tạm ứng án phí và án phí. Vậy trong trường hợp này 50% án phí là bị đơn phải nộp toàn bộ 50% án phí hay 25% án phí?

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 131 BLTTDS nếu trong quá trình hòa giải các bên đương sự tự hòa giải được thì họ chỉ phải nộp 50% án phí, mức 50% án phí ở đây là tổng mức án phí mà các bên phải nộp. Cũng theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án thì: “Cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước” thì không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí. Trường hợp này nguyên đơn sẽ được miễn nộp vì Cơ quan bảo hiểm xã hội là đối tượng không phải nộp án phí. Người duy nhất phải nộp án phí là bị đơn nên bị đơn phải nộp toàn bộ 50% án phí theo quy định của pháp luật.

Câu hỏi 21. Trong vụ án ly hôn, bị đơn không thường xuyên có mặt tại nơi cư trú. Đây là trường hợp không đủ điều kiện tuyên bố mất tích. Tòa án có thụ lý vụ án ly hôn và cho ly hôn được hay không?

Trả lời:

Trong trường hợp này thì không đủ điều kiện tuyên bố mất tích vì theo quy định tại khoản 3 Điều 330 BLTTDS thì:”Gửi kèm theo đơn yêu cầu là chứng cứ để chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đã biệt tích hai năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hoặc đã chết…” mà đây chỉ là việc bị đơn không thường xuyên có mặt tại nơi cư trú.

Đối với trường hợp đã tuyên bố mất tích thì người chồng (hay vợ) của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn, Tòa án cho ly hôn theo quy định tại Khoản 2 Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình.

Đối với trường hợp không đủ điều kiện tuyên bố mất tích thì không phải là không cho ly hôn. Tại Điểm b Mục 2 Phần II Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đìnhđã có hướng dẫn về trường hợp ly hôn với người cố tình dấu địa chỉ ở nước ngoài, cụ thể là:

“Nếu thông qua thân nhân của họ mà biết rằng họ vẫn có liên hệ với thân nhân ở trong nước, nhưng thân nhân của họ không cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án, cũng như không thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết để gửi lời khai về cho Toà án, thì coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Nếu Toà án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết, thì Toà án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung. Sau khi xét xử Toà án cần gửi ngay cho thân nhân của bị đơn bản sao bản án hoặc quyết định để những người này chuyển cho bị đơn, đồng thời tiến hành niêm yết công khai bản sao bản án, quyết định tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi bị đơn cư trú cuối cùng và nơi thân nhân của bị đơn cư trú để đương sự có thể sử dụng quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật tố tụng”.

Hướng dẫn nêu trên là hướng dẫn sau nên đã thay thế hướng dẫn tại Mục 8 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình (theo Mục 8 nêu trên thì Tòa án bác yêu cầu xin ly hôn nếu không đủ điều kiện tuyên bố mất tích). Trường hợp hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2003 cũng tương tự như trường hợp cố tình dấu địa chỉ của bị đơn ở trong nước vì vậy có cơ sở để áp dụng hướng dẫn này thụ lý vụ án xin ly hôn và nếu có đủ căn cứ theo Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình thì cho ly hôn.

PHẦN III

CÁC VẤN ĐỀ VỀ KINH DOANH,

THƯƠNG MẠI, LAO ĐỘNG

Câu hỏi 1

Câu hỏi 1.

Công ty TNHH A kinh doanh xăng dầu. Ông Nguyễn Văn B có một xe ôtô tải chuyên đi chở hàng thuê, nhưng không có giấy phép kinh doanh. Công ty A và ông B ký hợp đồng bán lẻ xăng dầu với nội dung: Hàng ngày ông B lái xe ô tô đến cửa hàng bán lẻ xăng dầu công ty A đổ xăng vào ô tô, hai bên ghi sổ và ký xác nhận từng ngày, cứ sau 30 ngày thì ông B thanh toán tiền trả công ty A.

Hai bên thực hiện hợp đồng được 5 tháng thì chấm dứt hợp đồng. Công ty A và ông B đã đối chiếu sổ sách thì ông B còn phải trả thanh toán trả Công ty A tiền mua xăng là 20 triệu đồng. Công ty A làm biên bản và ông B ký xác nhận nợ số tiền trên. Do ông B không trả được nợ nên Công ty A khởi kiện ra toà án.

Vụ việc trên toà án thụ lý giải quyết theo vụ án kinh doanh thương mại hay vụ án dân sự?

Trả lời:

Tranh chấp kinh doanh, thương mại cũng là một dạng của tranh chấp dân sự, nhưng là tranh chấp dân sự đặc biệt.Vì vậy, pháp luật quy định trình tự, thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại có những điểm khác so với tranh chấp dân sự thông thường.

Điều 29 BLTTDS quy định:

1. Tranh chấp phát sinh tronghoạt động kinh doanh, thương mạigiữa cá nhân, tổ chứccó đăng ký kinh doanh với nhauvàđều có mục đích lợi nhuận bao gồm:

…”

Như vậy, theo quy định tại Điều 29 BLTTDS thì một tranh chấp được coi là tranh chấp kinh doanh, thương mại phải thỏa mãn 2 điều kiện là cả hai bên đều phải có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận. Tuy nhiên, tại Điểm b Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao quy định: “Tòa Kinh tế có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết các tranh chấp và các yêu cầu về kinh doanh, thương mại quy định tạiĐiều 29 và Điều 30 của BLTTDS; các tranh chấp về kinh doanh, thương mại mà một hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh nhưng đều có mục đích lợi nhuận”. Theo hướng dẫn của Nghị quyếtnêu trên thì trong trường hợp một hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh nhưng cả hai bên đều có mục đích lợi nhuận vẫn là tranh chấp kinh doanh, thương mại.

Trong trường hợp trên, tuy lái xe không có đăng ký kinh doanh, nhưng việc vận chuyển hàng hóa là hoạt động thường xuyên và có mục đích lợi nhuận, nên tranh chấp giữa Công ty TNHH A và ông Nguyễn Văn B là tranh chấp kinh doanh thương mại, Tòa án thụ lý giải quyết theo vụ án kinh doanh thương mại.

Câu hỏi 2. Tranh chấp về việc vay nợ giữa một công ty TNHH với chủ hiệu cầm đồ. Việc vay nợ không ký kết hợp đồng bằng văn bản mà Giám đốc công ty TNHH chỉ viết biên nhận vay nợ và ký nhưng không có dấu và nói là vay về để kinh doanh. Tòa án thụ lý vụ án dân sự hay kinh doanh, thương mại.

Trả lời:

Xác định là vụ án kinh doanh, thương mại khi cả hai bên đều có mục đích lợi nhuận. Mục đích lợi nhuận về phía hiệu cầm đồ thì đã rõ nhưng về phía Giám đốc công ty TNHH thì phải làm rõ có phải vay cho Công ty hay không.

Hợp đồng là sự thỏa thuận của hai hoặc nhiều bên làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ. Hợp đồng có thể là hợp đồng miệng, có thể là hợp đồng bằng văn bản. Biên bản nhận nợ cũng chính là một loại hợp đồng bằng văn bản. Tuy nhiên, những loại hợp đồng mà pháp luật quy định phải tuân theo một hình thức nhất định (như phải được công chứng, được đăng ký…) thì việc giao kết phải tuân theo quy định mới có giá trị pháp lý. Hợp đồng vay tiền của hiệu cầm đồ không đòi hỏi phải công chứng, chứng thực hay theo mẫu nào nhất định nên việc biên nhận như nêu ở trên cũng là hợp đồng cho vay không vi phạm về hình thức.

Vấn đề cần làm rõ là chủ thể vay là Công ty TNHH hay là cá nhân Giám đốc. Nếu đã đóng dấu Công ty thì giao dịch mà Giám đốc thực hiện là nhân danh Công ty, Công ty phải chịu trách nhiệm về giao dịch của Giám đốc là người đại diện theo pháp luật của Công ty (Công ty là bên vay tiền). Nếu không đóng dấu Công ty nhưng thực tế đã nhập tiền về sử dụng cho Công ty thì chủ thể vay vẫn là Công ty. Khi chủ thể vay là Công ty thì nội dung “vay để kinh doanh” trong biên nhận là đúng, và do vậy, quan hệ này là quan hệ kinh doanh, thương mại.

Nếu là việc Giám đốc lợi dụng danh nghĩa Công ty để vay riêng thì Công ty không chịu trách nhiệm do không đóng dấu Công ty nên chưa phải là nhân danh Công ty, không rõ mục đích lợi nhuận nên phải giải quyết theo thủ tục vụ án dân sự.

Câu hỏi 3. Ngân hàng chính sách xã hội khởi kiện đòi tiền vay vốn (bằng hợp đồng tín dụng) của hộ gia đình (thuộc diện hộ gia đình nghèo, được cho vay qua Hội phụ nữ). Tranh chấp này xác định là vụ án kinh doanh thương mại hay vụ án dân sự?

Trả lời:

Ngân hàng chính sách xã hội được thành lập trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng phục vụ người nghèo được thành lập theo Quyết định số 230/QĐ-NH5 ngày 01/9/1995 của Thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam để thực hiện tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Điểm 2 Điều 4 Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác quy định: “Hoạt động của Ngân hàng chính sách xã hội không vì mục đích lợi nhuận, được Nhà nước đảm bảo khả năng thanh toán; tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0%; không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi; được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước.”

Hoạt động cho vay của Ngân hàng chính sách xã hội không vì mục đích lợi nhuận được thể thể hiện ở những ưu đãi cho người vay như ưu đãi về thời hạn vay, về lãi suất…Ví dụ Điều 18 Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ quy định về lãi suất cho vay như sau:

1. Lãi suất cho vay ưu đãi do Thủ tướng Chính phủ quyết định cho từng thời kỳ theo đề nghị của Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội, thống nhất một mức trong phạm vi cả nước, trừ các tổ chức kinh tế thuộc đối tượng được quy định tại khoản 3, khoản 5 Điều 2 Nghị định này do Hội đồng Quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội quyết định có phân biệt lãi suất giữa khu vực II và khu vực III.

2. Lãi suất nợ quá hạn được tính bằng 130% lãi suất khi cho vay.”

Như vậy, việc cho vay của Ngân hàng chính sách xã hội với hộ gia đình nghèo vẫn có quy định về lãi dù là lãi suất ưu đãi. Vì vậy, tranh chấp giữa Ngân hàng chính sách xã hội và hộ gia đình về hợp đồng tín dụng vẫn xác định là tranh chấp kinh doanh, thương mại theo hướng dẫn tại Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòaán nhân dân tối cao ngày 03/12/2012.

Câu hỏi 4. Trong hợp đồng vay vốn có ghi người thừa kế là chồng của người vay (người thừa kế không phải ký xác nhận vào hợp đồng). Hợp đồng không có điều khoản nào ghi trách nhiệm của người thừa kế. Tòa án có đưa người thừa kế vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hay không?

Trả lời:

Trước tiên, trong trường hợp này cần xác định rõ hợp đồng quy định thế nào về quyền, nghĩa vụ của người thừa kế trong quan hệ hợp đồng. Nếu trong hợp đồng không có thỏa thuận về quyền, nghĩa vụ của người thừa kế thì quyền và nghĩa vụ của họ phải căn cứ theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, không có quy định nào của pháp luật quy định việc người thừa kế phải chịu trách nhiệm thay cho người ký hợp đồng khi người ký hợp đồng còn sống mà chỉ có quy định về trách nhiệm của người thừa kế khi người vay đã chết. Do đó, không phải trong mọi trường hợp đều đưa người thừa kế của người vay vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Trường hợp phải đưa người chồng hay vợ của người vay vào tham gia tố tụng là trường hợp có dấu hiệu giao dịch do người vay thực hiện có liên quan đến kinh tế chung của gia đình hoặc tài sản bảo đảm cho hợp đồng vay là tài sản chung của vợ chồng.

Câu hỏi 5.

Công ty A cho công ty B thuê tàu bằng hợp đồng thuê tài chính với thời hạn là 144 tháng. Công ty B cho công ty C thuê lại. Trong quá trình sử dụng tàu bị hỏng, nên công ty C thuê công ty D sửa chữa. Chưa hết thời hạn hợp đồng, nhưng do công ty B vi phạm hợp đồng nên công ty A đã có quyết định thu hồi tài sản. Công ty A khởi kiện công ty D đòi lại tàu.

Xác định đây là tranh chấp dân sự hay kinh doanh thương mại? Nếu là án dân sự thì phải xem xét hợp đồng cho thuê tài chính không? Khi nhận đơn khởi kiện, Tòa án được biết công ty B và công ty C đều đã đóng cửa, không biết địa chỉ của người đại diện thì Tòa án có thụ lý giải quyết không?

Trả lời:

Đây là vụ án đòi lại tài sản với tư cách chủ sở hữu tài sản đòi lại tài sản thuộc quyền sở hữu của mình đang do người khác chiếm giữ theo quy định tại Điều 169 BLDS.

Các quan hệ giao dịch trong trường hợp này bao gồm: Công ty A cho Công ty B thuê tàu bằng hợp đồng thuê tài chính; Công ty B cho Công ty C thuê lại tàu theo hợp đồng cho thuê lại; Công ty C thuê công ty D sửa chữa tàu theo hợp đồng dịch vụ.

Như vậy, giữa Công ty A và Công ty D không có quan hệ giao dịch với nhau, nên nếu Công ty A khởi kiện Công ty D để đòi lại tàu thì đó chỉ là tranh chấp dân sự thông thường.

Tuy nhiên, việc có xem xét hợp đồng thuê tài chính hay không thì phải xem có yêu cầu độc lập về vấn đề này không. Trường hợp có yêu cầu, thì hai bên của hợp đồng là Công ty A và Công ty B đều có mục đích lợi nhuận, nên đây là tranh chấp kinh doanh, thương mại (khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP). Không thể giải quyết tranh chấp về hợp đồng thuê tài chính (tranh chấp kinh doanh, thương mại) và đòi lại tàu (tranh chấp dân sự) trong cùng một vụ án vì tố tụng có khác nhau (về thẩm quyền giải quyết và thời hạn giải quyết). Trong trường hợp này, vụ án kinh doanh, thương mại cần phải giải quyết trước vì là giao dịch xảy ra trước và thủ tục giải quyết tranh chấp này là thủ tục riêng biệt trong tố tụng dân sự chung. Do đó, cần tạm đình chỉ giải quyết vụ án về dân sự và tiếp tục giải quyết sau khi đã có kết quả của việc giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại (theo quy định tại Khoản 4 Điều 189 BLTTDS là trường hợp “Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan”).

Theo quy định tại khoản 1 Điều 36 BLTTDS thì: “Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn, thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết”. Pháp luật quy định đơn khởi kiện phải ghi địa chỉ của bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chứ không đòi hỏi phải là điạ chỉ mà họ đang thực tế cư trú. Trong trường hợp bị đơn cố tình dấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì dù nguyên đơn không biết địa chỉ của người bị kiện thì Tòa án vẫn thụ lý giải quyết theo thủ tục chung (Theo hướng dẫn tại công văn số 109/KHXX ngày 30/6/2006 của Tòa án nhân dân tối cao). Vì vậy, trong trường hợp Công ty B và Công ty C đều đã đóng cửa không hoạt động thì vẫn là có địa chỉ (địa chỉ trước khi đóng cửa), Tòa án vẫn có thể thụ lý, xét xử theo thủ tục chung nhưng thủ tục thông báo, tống đạt phải theo đúng quy định tại Chương X BLTTDS.Câu hỏi 6

Câu hỏi 6. Trong hợp đồng tín dụng, bên thứ 3 dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhà ở để thế chấp (có hợp đồng thế chấp). Đến hạn, bên vay không thực hiện được nghĩa vụ. Ngân hàng không khởi kiện bên vay mà chỉ khởi kiện bên thế chấp. Tòa án có thụ lý không? Nếu thụ lý thì xác định đây là vụ án dân sự hay kinh doanh thương mại?

Trả lời:

Thế chấp tài sản là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp (Khoản 1 Điều 342 BLDS). Bảo lãnh là việc người thứ ba cam kết với bên có quyền sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ, nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ (Điều 361 BLDS). Trường hợp trên là trường hợp bên thứ ba bảo lãnh cho bên vay và dùng tài sản của mình thế chấp để bảo đảm cho việc bảo lãnh. Nghĩa vụ bảo lãnh phát sinh khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Đến hạn, bên vay không trả nợ được, nghĩa vụ bảo lãnh đã phát sinh, bên cho vay (Ngân hàng) có quyền khởi kiện yêu cầu buộc bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

Quan hệ bảo lãnh xuất phát từ quan hệ vay và là hợp đồng tín dụng nên vụ kiện về quan hệ bảo lãnh vẫn là vụ án kinh doanh, thương mại.

Khi giải quyết vụ kiện về bảo lãnh, Tòa án phải phán quyết cả về hợp đồng vay (xác định nghĩa vụ của bên vay mà bên bảo lãnh phải thực hiên thay) và cũng là xác định nghĩa vụ hoàn lại sau này của bên vay nên vẫn phải đưa bên vay vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Có rất nhiều trường hợp người vay đã bỏ trốn trước khi bên cho vay khởi kiện người bảo lãnh. Trường hợp này cũng phải xác định địa chỉ của người vay là địa chỉ sau cùng trước khi họ bỏ trốn.

Câu hỏi 7. Trong vụ án tranh chấp về hợp đồng tín dụng, có nhiều tài sản bảo đảm cho 1 khoản vay. Khi giải quyết tranh chấp thì xử lý các tài sản bảo đảm này như thế nào? Có cần phân định tài sản A bảo đảm cho số tiền này, tài sản B bảo đảm cho số tiền khác (chia nhỏ khoản vay) hay không? Hay xử lý cùng một lúc tất cả các tài sản?

Trả lời:

Khi giao kết hợp đồng tín dụng có biện pháp bảo đảm bằng tài sản, bên vay có thể dùng một hoặc nhiều tài sản để đảm bảo cho một khoản vay hoặc dùng một tài sản để đảm bảo cho nhiều khoản vay.

Theo quy định tại Điều 334 BLDS thì: “Trong trường hợp cầm cố nhiều tài sản để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ dân sự thì mỗi tài sản được xác định bảo đảm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận mỗi tài sản bảo đảm thực hiện một phần nghĩa vụ”.

Theo quy định tại Điều 347 BLDS thì: “Trong trường hợp thế chấp nhiều tài sản để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ dân sự thì mỗi tài sản được xác định bảo đảm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận mỗi tài sản bảo đảm thực hiện một phần nghĩa vụ”.

Theo quy định của pháp luật thì trong hợp đồng tín dụng các bên có thể thỏa thuận mỗi tài sản bảo đảm cho một phần khoản vay nhưng trong tình huống nêu trên thì các bên không có thỏa thuận này nên mỗi tài sản đều bảo đảm cho toàn bộ khoản vay.

Câu hỏi 8. Trong vụ án kinh doanh thương mại về hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng thương mại cổ phần A (nhà nước có cổ phần chi phối) và công ty B, các đương sự thỏa thuận được với nhau về giải quyết toàn bộ vụ án. Tòa án có được ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự hay không? Có thuộc trường hợp những vụ án không được hòa giải quy định tại Điều 181 BLTTDS hay không?

Trả lời:

Điều 181 BLTTDS quy định về những vụ án không được hòa giải, trong đó có vụ án về yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến tài sản của Nhà nước. Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn cụ thể khi xác định yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến nhà nước cần phân biệt rõ hai trường hợp:

- Trường hợp tài sản của Nhà nước được giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang quản lý, sử dụng hoặc đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước thực hiện quyền sở hữu thông qua cơ quan có thẩm quyền, thì khi có yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến loại tài sản này, Toà án không được hoà giải để các bên đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

- Trường hợp tài sản của Nhà nước được Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước, góp vốn trong các doanh nghiệp liên doanh có vốn đầu tư của các chủ sở hữu khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư mà doanh nghiệp được quyền tự chủ chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt tài sản và chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với tài sản đó trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, thì khi có yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến tài sản đó, Toà án tiến hành hoà giải để các bên đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Vụ án kinh doanh thương mại về hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng thương mại cổ phần A (nhà nước có cổ phần chi phối) và công ty B là thuộc trường hợp thứ hai, Tòa án vẫn tiến hành hòa giải vụ án bình thường; nếu các bên thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Câu hỏi 9. Ngân hàng và doanh nghiệp tranh chấp hợp đồng tín dụng. Trong quá trình giải quyết các bên thỏa thuận được số nợ gốc và lãi và đề nghị Tòa án công nhận sự thỏa thuận về phương thức thanh toán trả làm nhiều đợt và tiếp tục tính lãi trên số nợ gốc kể từ khi thỏa thuận đến khi trả xong nợ theo lãi suất cho vay của Ngân hàng cho vay tại thời điểm thanh toán theo đợt. Ngoài ra các bên còn thỏa thuận phần chậm trả được tính theo lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước. Tòa án có ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự được không? Nếu được thì phần án phí được tính trên số nợ gốc và lãi phải trả mà đã đã thỏa thuận thống nhất được hay cả phần lãi phát sinh sau cũng phải tính án phí.

Trả lời:

Tòa án không được ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự vì thỏa thuận này là trái pháp luật.

Theo quy định tại Điều 474 BLDS và Điều 13 Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng được ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (đã được sửa đổi, bổ sung theo quyết định 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005) đối với khoản nợ vay không trả nợ đúng hạn, được tổ chức tín dụng đánh giá là không có khả năng trả nợ đúng hạn và không chấp thuận cho cơ cấu lại thời hạn trả nợ, thì số dư nợ gốc của hợp đồng tín dụng đó là nợ quá hạn và tổ chức tín dụng thực hiện các biện pháp để thu hồi nợ; việc phạt chậm trả đối với nợ quá hạn và nợ lãi vốn vay do hai bên thoả thuận trên cơ sở quy định của pháp luật.

Như vậy, trường hợp doanh nghiệp không trả hoặc trả không đầy đủ khoản nợ đến hạn, thì doanh nghiệp phải trả khoản lãi quá hạn đối với nợ quá hạn và nợ lãi vốn vay. Việc hai bên thỏa thuận bên vay vừa phải tiếp tục trả lãi trên số nợ gốc và vừa phải trả lãi quá hạn trên tổng số nợ gốc và lãi chậm trả, nghĩa là bên vay phải trả hai khoản lãi trong cùng một khoảng thời gian là không đúng với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật ngân hàng.

Nếu thuộc trường hợp có thể ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự, thì phần án phí chỉ được tính trên số nợ phải trả mà các bên đã tính được (cả gốc và lãi). Mức án phí đối với các vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại có giá ngạch được tính trên cơ sở giá trị tranh chấp mà đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết. Giá trị tranh chấp đối với tranh chấp hợp đồng tín dụng này là khoản tiền gốc và lãi mà ngân hàng và doanh nghiệp đã xác định được tại thời điểm đạt được thỏa thuận. Phần lãi phát sinh được tính đến khi bên vay trả hết nợ, Tòa án không xác định được là bao nhiêu tại thời điểm giải quyết, do đó không có căn cứ để tính án phí.

Câu hỏi 10. Trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng có liên quan đến việc xử lý tài sản của bên vay là xe ô tô đã thế chấp cho ngân hàng để vay vốn. Tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án, tài sản này đã bị bên vay giao cho người khác sử dụng và người này đã bán cho người khác không rõ địa chỉ. Người được giao sử dụng xe ô tô cố tình không đến Tòa án để khai báo. Giấy tờ đăng ký xe ngân hàng vẫn đang giữ. Khi xét xử,quyết định xử lý tài sản thế chấp này như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 348 BLDS, bên thế chấp tài sản có quyền cho thuê, cho mượn tài sản thế chấp nhưng phải thông báo cho bên thuê, bên mượn biết về việc tài sản cho thuê cho mượn đang được sử dụng để thế chấp và phải thông báo cho bên nhận thế chấp biết. Trong tình huống này, bên vay giao tài sản cho người khác sử dụng mà không thông báo cho Ngân hàng biết là giao dịch trái pháp luật.

Người được giao sử dụng chiếc ô tô không có quyền định đoạt tài sản này, do đó hợp đồng mua bán ô tô không có hiệu lực pháp luật. Tòa án phải đưa người được giao sử dụng ô tô và người mua ô tô vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan và tuyên bố hợp đồng mua bán vô hiệu; người đang chiếm hữu chiếc ô tô phải trả lại cho người vay để người này thực hiện nghĩa vụ thế chấp.

Trong trường hợp, Tòa án đã áp dụng mọi biện pháp mà không tìm được người mua ô tô thì được xem như tài sản thế chấp không còn. Nếu ô tô đã bị kê biên thì những người tham gia vào việc vi phạm kê biên có thể bị xử lý về hình sự theo Điều 310 BLHS.Câu hỏi 11

Câu hỏi 11.

Trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng có hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất của người thứ ba được chứng thực của Chủ tịch UBND cấp xã. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bên có tài sản thế chấp yêu cầu Tòa án xem xét tuyên bố hợp đồng thế chấp tài sản do Chủ tịch UBND xã chứng thực vô hiệu vì không đúng trình tự, thủ tục. Tòa án có được phép cùng với việc giải quyết buộc bị đơn trả nợ vay đồng thời giải quyết luôn việc tranh chấp liên quan yêu cầu tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu trong cùng vụ án?

Khi giải quyết các tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản do Chủ tịch UBND cấp xã chứng thực vô hiệu có được coi văn bản chứng thực như là văn bản công chứng để áp dụng các quy định của Luật công chứng và quy định tại khoản 9 Điều 25 BLTTDS không hay phải áp dụng các quy định khác của pháp luật?

Trả lời:

Khi giải quyết về hợp đồng tín dụng thì Tòa án có quyền giải quyết về hợp đồng thế chấp bảo đản cho việc thực hiện hợp đồng tín dụng. Tòa án phải phán quyết hợp dồng thế chấp đó có hợp pháp hay vô hiệu để xác định việc bảo đảm thực hiện cho hợp đồng tín dụng. Pháp luật quy định có vụ việc yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và giải quyết thành vụ án dân sự hoặc việc dân sự riêng là trường hợp chỉ có yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu mà không có tranh chấp nào khác.

Khi giải quyết các tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản do Chủ tịch UBND cấp xã chứng thực vô hiệu không thể coi văn bản chứng thực như là văn bản công chứng để áp dụng các quy định của Luật công chứng và quy định tại khoản 9 Điều 25 BLTTDS. Công chứng và chứng thực là hai hoạt động pháp lý riêng biệt được điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật khác nhau. Hoạt động công chứng được điều chỉnh bởi Luật công chứng năm 2006. Khi có tranh chấp hoặc yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, các bên liên quan có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ việc dân sự theo quy định tại Điều 25 và Điều 26 BLTTDS. Còn thẩm quyền chứng thực của cơ quan hành chính nhà nước và người có thẩm quyền của cơ quan đó được quy định cụ thể tại Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ. Tòa án có thểtuyên bố văn bản do Chủ tịch UBND cấp xã chứng thực vô hiệu khi giải quyết một tranh chấp hay yêu cầu khác (như yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu…) chứ Tòa án không có thẩm quyền giải quyết việc chứng thực vô hiệubằng một vụ việc riêng như yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.

Câu hỏi 12. Hộ gia đình vay vốn của ngân hàng để kinh doanh và có ký hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất của hộ gia đình, nhưng các thành viên trong hộ gia đình là các con không ký vào hợp đồng thế chấp (chỉ có vợ và chồng ký), các con không biết việc vợ chồng thế chấp tài sản. Đến hạn, hộ gia đình không trả được nợ, ngân hàng khởi kiện. Khi giải quyết vụ án này, Tòa án xử lý tuyên hợp đồng thế chấp đó có vô hiệu không?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 109 BLDS, việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý.

Quyền sử dụng đất của hộ gia đình có thể là quyền sử dụng đất nông nghiệp hoặc quyền sử dụng đất ở. Quyền sử dụng đất nông nghiệp được xác định là tư liệu sản xuất của hộ gia đình, quyền sử dụng đất ở được xác định là tài sản chung có giá trị lớn. Do đó, việc thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn ngân hàng phải được sự đồng ý của tất cả các thành viên từ đủ 15 tuổi đồng ý. Khi xem xét hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, Tòa án phải xem xét độ tuổi của các con, nếu các con đã đủ 15 tuổi mà không được biết việc cha mẹ thế chấp quyền sử dụng đất, không ký tên vào hợp đồng thế chấp thì Tòa án tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu. Nếu các con đều chưa đủ 15 tuổi thì hợp đồng thế chấp vẫn có hiệu lực pháp luật.

Cũng cần lưu ý là quyền tham gia giao dịch với quyền tham gia tố tụng không phải là đồng nhất; khi tham gia tố tụng thì chủ hộ là đại diện đương nhiên của hộ gia đình (đại diện theo pháp luật) mà không cần có những thành viên khác tham gia.

Câu hỏi 13.

Công ty A và công ty B mua bán hàng hóa (sắt, thép) thông qua đơn đặt hàng (không có hợp đồng mua bán hàng hóa). Đến ngày 31/12/2008, hai bên tiến hành lập biên bản đối chiếu công nợ, trong biên bản thể hiện đến ngày 31/12/2008 công ty B còn nợ công ty A số tiền 200 triệu đồng. Đến ngày 02/6/2009, công ty B có chuyển trả cho công ty A 50 triệu đồng. Sau đó nhiều lần công ty A có văn bản yêu cầu công ty B trả số nợ còn lại (trong văn bản yêu cầu của công ty A không thể hiện đến ngày tháng năm nào sẽ phải trả). Đến ngày 15/7/2011, công ty A có văn bản yêu cầu công ty B thanh toán số tiền còn lại như trên và gửi trực tiếp cho Công ty B. công ty B đã có xác nhận (trong văn bản lần này cũng không ghi rõ đến ngày tháng năm nào sẽ phải trả cho công ty A số tiền trên).

Trường hợp như nêu ở trên thì thời hiệu khởi kiện tính từ ngàynào? Tính lãi chậm thanh toán từ ngày nào?

Trả lời:

Khi giải quyết vụ án này, Tòa án phải căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của công ty A để xác định thời hiệu khởi kiện.

*Trường hợp công ty A khởi kiện yêu cầu công ty B thanh toán tiền mua hàng hóa, thì xác định là tranh chấp thương mại về hợp đồng mua bán hàng hóa. Thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với các tranh chấp thương mại là hai năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm (Điều 319 Luật Thương mại).

Thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, cụ thể trong vụ án này là kể từ ngày công ty B vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Điều 50 Luật thương mại quy định bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng và nhận hàng theo thỏa thuận. Trong tình huống, các bên không thỏa thuận thời hạn thanh toán, do đó bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán vào thời điểm bên bán giao hàng hoặc giao chứng từ liên quan đến hàng hoá (Điều 55 Luật Thương mại). Nghĩa là, sau khi công ty A giao hàng mà công ty B không thanh toán là công ty B đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Việc hai bên đối chiếu xác nhận nợ vào ngày 31/12/2008, mà không đề cập đến thời hạn thanh toán thì ngày này cũng không được xác định là ngày vi phạm nghĩa vụ thanh toán.

Tuy nhiên, công ty B mua hàng hóa của công ty A nhiều lần do đó hành vi xâm phạm xảy ra ở nhiều thời điểm khác nhau. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao thì thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện được tính từ thời điểm cuối cùng xảy ra hành vi vi phạm, tức là ngày cuối cùng công ty B nhận được hàng. Mặc dù công ty A đã nhiều lần có văn bản yêu cầu công ty B thanh toán, nhưng trong văn bản không quy định thời hạn thanh toán, nghĩa là không có việc thỏa thuận gia hạn thanh toán, do đó thời điểm vi phạm nghĩa vụ vẫn được xác định là ngày cuối cùng công ty A nhận được hàng, chứ không phải là ngày bên A nhận được văn bản yêu cầu thanh toán cuối cùng của công ty B.

*Trường hợp đã hết thời hiệu khởi kiện về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa mà công ty A khởi kiện yêu cầu công ty B trả số tiền 150 triệu còn nợ:

Tòa án phải xác định rằng, việc hai bên đã lập biên bản đối chiếu công nợ là khẳng định công ty B còn nợ công ty A 200 triệu đồng chứ không đơn thuần là có nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Ngày 02/9/2013 công ty B đã trả được 50 triệu đồng. Công ty A kiện đòi 150 triệu đồng được xác định là kiện đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu, áp dụng Điều 159 BLTTDS và hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP thì không hạn chế thời hiệu khởi kiện với tranh chấp này.

Về tính lãi chậm thanh toán, Điều 306 Luật Thương mại quy định trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Lãi chậm thanh toán được tính từ ngày vi phạm nghĩa vụ thanh toán.

Câu hỏi 14. Khi giải quyết tranh chấp lao động cá nhân về bồi thường thiệt hại giữa người lao động và người sử dụng lao động, hòa giải viên lao động đã hòa giải thành; các bên đã thực hiện đúng theo biên bản hòa giải thành nhưng sau đó người lao động thấy không thỏa đáng nên đã khởi kiện ra Tòa án, yêu cầu người sử dụng lao động bồi thường thêm. Trường hợp này, Tòa án có thụ lý đơn khởi kiện để giải quyết hay không?

Trả lời:

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 201 Bộ luật lao động (BLLĐ) năm 2012 và điểm b khoản 1 Điều 31 BLTTDS thì tranh chấp lao động cá nhân về bồi thường thiệt hại giữa người lao động và người sử dụng lao động không phải thông qua thủ tục hòa giải của Hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong trường hợp này, pháp luật cho phép các bên quyền lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng con đường hòa giải của Hòa giải viên lao động hoặc khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, các bên đã lựa chọn phương án giải quyết tranh chấp thông qua thủ tục hòa giải và Hòa giải viên lao động đã hòa giải thành; các bên đã thực hiện đúng theo biên bản hòa giải thành. Như vậy, có đủ cơ sở xác định tranh chấp lao động đó đã được giải quyết.

Tại khoản 4 Điều 201 BLLĐ năm 2012 quy định: Trường hợp ... một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành ... thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết”.

Tại khoản 1 Điều 31 BLTTDS quy địnhnhững tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là: Tranh chấp lao động ...mà ... hòa giải viên lao động ... hòa giải thành nhưng các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng…”

Căn cứ vào các quy định nêu trên thì người lao động có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết khi một hoặc các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nội dung đã thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành. Người lao động khởi kiện đòi bồi thường thêm, thì yêu cầu đó vượt quá phạm vi nội dung mà các bên đã thỏa thuận và cần xác định người lao động không có quyền khởi kiện đòi bồi thường thêm. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 168 BLTTDS, Tòa án trả lại đơn khởi kiện.

Câu hỏi 15. Công ty TNHH A chưa nộp tiền bảo hiểm xã hội cho người lao động. Khi có tranh chấp xảy ra, Cơ quan Bảo hiểm xã hội khởi kiện Công ty Avề việc nợ tiền bảo hiểm xã hội. Đây là tranh chấp dân sự hay tranh chấp lao động? Khi Cơ quan Bảo hiểm xã hội khởi kiện có phải nộp tiền tạm ứng án phí và án phí không?

Trả lời:

Xét về bản chất, việc Cơ quan Bảo hiểm xã hội khởi kiện yêu cầu doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ nộp tiền bảo hiểm xã hội là tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ dân sự. Tuy rằng việc xác định loại quan hệ tranh chấp trong trường hợp này không ảnh hưởng đến vấn đề giải quyết nội dung yêu cầu khởi kiện, nhưng ngay từ khi thụ lý vụ án, Tòa án phải chỉ rõ: vụ việc có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án hay không, theo quy định tại điều khoản nào của BLTTDS.

Tranh chấp về bảo hiểm xã hội là loại việc tranh chấp có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động. Điểm d Khoản 1 Điều 201 BLLĐ năm 2012 đã khẳng định:

“1. Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế.”

Tại Điểm d Khoản 1 Điều 31 BLTTDS Những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa ánbao gồm:

“d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về lao động”.

Về nội dung này, tại Công văn số 143/TANDTC-KHXX ngày 21/9/2011 của TAND tối cao cũng đã có hướng dẫn. Theo nội dung của Công văn, trong trường hợp Cơ quan Bảo hiểm xã hội khởi kiện cần căn cứ quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 31 của BLTTDS để xác định thẩm quyền của Tòa án. Do đó, có đủ căn cứ để xác định: Tranh chấp giữa cơ quan Bảo hiểm xã hội với Doanh nghiệp A về khoản nợ tiền bảo hiểm xã hội là tranh chấp lao động.

- Về tạm ứng án phí, án phí:

Tại khoản 2 Điều 10 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án quy định: “2. Cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước”, không phải nộp tạm ứng án phí, án phí.

Tại Công văn số 143/TANDTC-KHXX ngày 21/9/2011 của Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn: “Cơ quan Bảo hiểm xã hội khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước theo lĩnh vực mình phụ trách không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí”.

Như vậy, trong trường hợp này, Cơ quan Bảo hiểm xã hội không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí.

Câu hỏi 16. Công ty A có trụ sở đặt tại tỉnh B và tại tỉnh B cũng không có hòa giải viên lao động. Khi có tranh chấp tiền lương giữa người lao động với công ty A, người lao động khởi kiện thì Tòa án có thụ lý vụ án được không? Nếu thụ lý thì xác định là quan hệ tranh chấp gì?

Trả lời:

Tại Điều 200 Bộ luật lao động năm 2012 quy định: “Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

1. Hòa giải viên lao động

2. Tòa án nhân dân”.

Căn cứ vào Khoản 1, 4Điều 201 BLLĐ năm 2012 thì tranh chấp lao động về tiền lương phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.

Theo quy định nêu trên, trước khi người lao động yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động thì phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động. Do đó, khi tiếp nhận đơn khởi kiện của người lao động; Tòa án cần kiểm tra các tài liệu kèm theo đơn khởi kiện để xác định tranh chấp lao động về tiền lương đã thông qua thủ tục hòa giải hay chưa. Nếu chưa qua thủ tục hòa giải, Tòa án căn cứ vào Điểm d Khoản 1 Điều 168 BLTTDS để trả lại đơn khởi kiện với lý do chưa đủ điều kiện khởi kiện.

Trong trường hợp tại tỉnh B không có hòa giải viên lao động, thì không thể tiến hành hòa giải tranh chấp lao động này. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi cho người lao động cần căn cứ Khoản 4 Điều 201 BLLĐ năm 2012 xác định trong trường hợp này là hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều này mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải để người lao động đủ điều kiện khởi kiện. Do đó, Tòa án cần hướng dẫn cho người lao động nộp đơn yêu cầu hòa giải trước khi khởi kiện tại Tòa án và sau thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người lao động có đơn yêu cầu hòa giải tại cơ quan lao động, thì Tòa án thụ lý giải quyết.

Khi giải quyết, Tòa án cần lưu ý tranh chấp lao động phải vẫn còn thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân theo quy định tại Điều 202 BLLĐ năm 2012.

Tòa án thụ lý giải quyết thì xác định quan hệ tranh chấp là: tranh chấp lao động về tiền lương.

Câu hỏi 17. Công ty A được thành lập và có trụ sở tại TP. Hồ Chí Minh, có chi nhánh hoạt động tại huyện B, tỉnh C (không có giấy phép thành lập chi nhánh nhưng thực tế vẫn hoạt động). Người lao động có tranh chấp lao động với công ty A và nộp đơn khởi kiện tại Tòa án huyện B, tỉnh C yêu cầu giải quyết. Hỏi Tòa án huyện B, tỉnh C có thẩm quyền giải quyết không? Vì sao?

Trả lời:

Căn cứ Điều 92 BLDS thì: Chi nhánh của pháp nhân có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của pháp nhân, kể cả chức năng đại diện theo ủy quyền. Tuy nhiên, cần xác định chi nhánh của pháp nhân là chi nhánh hợp pháp. Chi nhánh của Công ty A tại huyện B, tỉnh C không có giấy phép thành lập; do đó, không được coi là chi nhánh hợp pháp.

Tại Khoản 7 Điều 3 BLLĐ năm 2012 quy định: “...Tranh chấp lao động lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động...”.

Trong trường hợp này, người lao động tranh chấp lao động với Công ty A nên là tranh chấp lao động cá nhân và cần xác định Công ty A là bị đơn trong vụ án. Theo quy định tại Điểm a, Khoản 1 Điều 35 BLTTDS thì Tòa án nơi Công ty A có trụ sởsẽ có thẩm quyền giải quyết.

Tại Điểm b Khoản 1 Điều 36 BLTTDS quy định về thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu thì: “b. Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết”. Nhưng Chi nhánh của Công ty A tại huyện B, tỉnh C không được coi là hợp pháp; nên không có căn cứ xác định Tòa án huyện B, tỉnh C có thẩm quyền giải quyết. Mặt khác, tranh chấp lao động giữa người lao động với Công ty A cũng chưa xác định thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện hay thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Do vậy, trong trường hợp trên, Tòa án huyện B, tỉnh C không có thẩm quyền giải quyết.

PHẦN IV

CÁC VẤN ĐỀ VỀ HÀNH CHÍNH

Câu hỏi 1

Câu hỏi 1. Đối thoại có phải là thủ tục tố tụng hành chính bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án hành chính không?

Trả lời:

Tại Điều 12 của Luật Tố tụng hành chính (Luật TTHC) quy định: “Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, Tòa án tạo điều kiện để các đương sự đối thoại về việc giải quyết vụ án hành chính”.

Và tại khoản 4 Điều 36 của Luật TTHC quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán như sau: “Tổ chức việc đối thoại giữa các đương sự khi có yêu cầu”.

Căn cứ vào những quy định nêu trên thì đối thoại không phải là thủ tục mang tính bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án hành chính mà chỉ mang tính chất khuyến khích đối thoại giữa các bên trong quá trình giải quyết vụ án theo yêu cầu của các bên đương sự để tạo sự đồng thuận và niềm tin của nhân dân đối với cơ quan quản lý nhà nước và để việc giải quyết vụ án hành chính được nhanh chóng, triệt để.

Câu hỏi 2. Đương sự khởi kiện đối với quyết định hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận về xử lý vi phạn hành chính, đồng thời có yêu cầu bồi thường thiệt hại do quyết định hành chính đó gây ra. Trường hợp này có phải triệu tập Ủy ban nhân dân quận tham gia tố tụng không?

Trả lời:

Quyết định hành chính (QĐHC) hoặc hành vi hành chính do người có thẩm quyền ký hoặc thực hiện và nếu quyết định hành chính, hành vi hành chính đó gây ra thiệt hại thì cơ quan của người có thẩm quyền có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Do đó trong trường hợp nêu trên Tòa án cần phải triệu tập Ủy ban nhân dân quận tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Lưu ý xác định người bị kiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận.

Câu hỏi 3. Theo quy định của pháp luật thì người yêu cầu bồi thường thiệt hại trong vụ án hành chính không phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm. Vậy đương sự kháng cáo phần quyết định của bản án hành chính về bồi thường thiệt hại có phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm không?

Trả lời:

Tại khoản 3 Điều 35 của Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án quy định về nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong vụ án hành chính như sau: “Các đương sự trong vụ án hành chính kháng cáo về bồi thường thiệt hại phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm, trừ trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của Pháp lệnh này…”.

Như vậy, đương sự kháng cáo phần quyết định của bản án hành chính về bồi thường thiệt hại phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm, trừ trường hợp họ thuộc đối tượng không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật thì không phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm.

Câu hỏi 4. Luật TTHC không quy định thời hạn có hiệu lực của quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Vậy khi nào thì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hết hiệu lực thi hành?

Trả lời:

Luật TTHC chỉ quy định thời điểm bắt đầu có hiệu lực của quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (khoản 1 Điều 69) mà không quy định thời điểm kết thúc hiệu lực của quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Do đó, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chỉ hết hiệu lực khi có Quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Câu hỏi 5. Sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm thì người khởi kiện rút đơn khởi kiện. Trong trường hợp này thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hay Hội đồng xét xử có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính?

Trả lời:

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công làm Chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định sau: Đưa vụ án ra xét xử, tạm đình chỉ giải quyết vụ án, đình chỉ việc giải quyết vụ án (Khoản 2 Điều 117 Luật TTHC). Do vậy, sau khi Thẩm phán đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm mà người khởi kiện rút đơn khởi kiện thì thẩm quyền xem xét việc rút đơn khởi kiện thuộc Hội đồng xét xử.

Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử vận dụng khoản 2 Điều 139 của Luật TTHC ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án.Câu hỏi 6

Câu hỏi 6. Trường hợp đã có Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm mà người khởi kiện đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án với lý do có thời gian thỏa thuận với người bị kiện về việc giải quyết vụ án thì Tòa án có ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án không? Nếu có thì Thẩm phán hay Hội đồng xét xử ra quyết định?

Trả lời:

Khoản 1 Điều 118 của Luật TTHC quy định:

Tòa án quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính trong các trường hợp sau đây:

a) Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã giải thể mà chưa có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng;

b) Đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật;

c) Đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà một trong các đương sự không thể có mặt vì lý do chính đáng, trừ trường hợp có thể xét xử vắng mặt các đương sự;

d) Cần đợi kết quả giải quyết của cơ quan khác hoặc vụ việc khác có liên quan”.

Như vậy, lý do mà người khởi kiện đề nghị không thuộc một trong các trường hợp nêu trên, nên Thẩm phán không được ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính.

Tuy nhiên, trước khi mở phiên tòa mà người khởi kiện có yêu cầu được đối thoại với người bị kiện về việc giải quyết vụ án thì Thẩm phán tổ chức để các bên đương sự đối thoại về việc giải quyết vụ án. Nếu tại phiên tòa đương sự có yêu cầu thì Hội đồng xét xử sẽ tạo điều kiện để các đương sự đối thoại về việc giải quyết vụ án hành chính. Nếu các bên đương sự đối thoại với nhau và đi đến nhất trí tạm ngừng phiên tòa để người bị kiện sửa đổi, bổ sung, thay thế hay hủy bỏ quyết định hành chính, dừng hay khắc phục hành vi hành chính bị khởi kiện hoặc để người khởi kiện xem xét việc rút yêu cầu khởi kiện và có đề nghị tạm ngừng phiên tòa thì Hội đồng xét xử quyết định tạm ngừng phiên tòa nhưng không quá 05 ngày làm việc.

Câu hỏi 7. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có phải đóng tiền tạm ứng án phí không?

Trả lời:

Điều 52 Luật TTHC quy định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì có các quyền, nghĩa vụ của người khởi kiện.

Theo quy định của Luật TTHC và Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án thì người khởi kiện có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, trừ trường hợp họ không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng án phí.

Do vậy, nếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì họ phải nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp họ không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng án phí.

Câu hỏi 8. Theo quy định tại Điều 207 của Luật TTHC thì Viện kiểm sát cùng cấp tham gia phiên họp phúc thẩm đối với các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị. Như vậy, Tòa án sẽ chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát theo thủ tục như thế nào?

Trả lời:

Theo hướng dẫn tại điểm d khoản 1 Điều 2 của Thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/8/2012 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao thì trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên họp xét kháng cáo quá hạn, xét kháng cáo, kháng nghị về phần án phí và phiên họp phúc thẩm đối với quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì Tòa án cấp phúc thẩm gửi đơn kháng cáo quá hạn, tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho lý do nộp đơn kháng cáo quá hạn (nếu có) hoặc hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp sau khi Tòa án nhận được đơn kháng cáo quá hạn và tài liệu kèm theo hoặc sau khi Tòa án thụ lý để giải quyết việc kháng cáo, kháng nghị. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, tài liệu, chứng cứ, Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ, tài liệu, chứng cứ cho Tòa án để mở phiên họp theo đúng thời hạn quy định tại Điều 207 của Luật TTHC.

Câu hỏi 9. Khi nào được xem là “Chưa có đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính” để trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 109 của Luật TTHC?

Trả lời:

Chưa có đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính là trường hợp pháp luật tố tụng hành chính hoặc pháp luật khác có quy định về các điều kiện để khởi kiện vụ án hành chính (kể cả quy định về hình thức, nội dung đơn khởi kiện), nhưng người khởi kiện đã khởi kiện khi còn thiếu một trong các điều kiện đó.

Ví dụ trường hợp người được ủy quyền khởi kiện vụ án hành chính nhưng chưa có giấy ủy quyền hợp lệ thì được xem là chưa đủ điều kiện khởi kiện; hoặc trường hợp khởi kiện vụ án hành chính về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân mà chưa thực hiện thủ tục khiếu nại đối với cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì được xem là chưa đủ điều kiện khởi kiện.

Câu hỏi 10. Ông A khởi kiện quyết định của Ủy ban nhân dân quận thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình ông. Vậy Tòa án có phải đưa các thành viên của hộ gia đình ông A vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không?

Trả lời:

Theo quy định của BLDS thì Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này. Chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ.

Đối chiếu với quy định tại khoản 2 điều 54 của Luật TTHC thì chủ hộ gia đình là người đại diện theo pháp luật đối với hộ gia đình trong tố tụng hành chính. Do đó Tòa án chỉ đưa các thành viên trong hộ gia đình ông A vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi thấy cần thiết.

Lưu ý, nếu ông A không phải chủ hộ mà chỉ là thành viên trong hộ gia đình thì thực hiện quyền khởi kiện thông qua thủ tục ủy quyền của chủ hộ.Câu hỏi 11

Câu hỏi 11. Bà A lập di chúc để lại toàn bộ tài sản cho em là ông B. Di chúc đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B chứng thực. Sau khi bà A chết, con bà A là chị C khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hành vi chứng thực di chúc của Chủ tịch UBND xã B là trái pháp luật. Hỏi hành vi chứng thực di chúc của Chủ tịch UBND xã B có phải là hành vi hành chính thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính không?

Trả lời:

Hành vi hành chính thuộc đối tượng khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật (Khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao).

Tại Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ quy định Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã) có thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt và chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt. Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện việc chứng thực và đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã.

Hành vi chứng thực di chúc của Chủ tịch UBND xã B là hành vi hành chính và thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.

Câu hỏi 12.

Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND khi có khiếu nại có phải là quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính hay không?

Ví dụ: Bà Trần Thị A ở thành phố Q đến UBND huyện P khiếu nại UBND huyện P yêu cầu cho bà A được sử dụng thửa đất có nguồn gốc của gia đình bà A tại huyện P. Chủ tịch UBND huyện P ra quyết định giải quyết khiếu nại của bà A có nội dung:

1. Không chấp nhận đòi lại đất của bà A.

2. Bà A có quyền khiếu nại quyết định này hoặc khởi kiện ra Tòa án theo Luật TTHC.

Trong trường hợp này nếu bà A có đơn khởi kiện vụ án hành chính thì quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND huyện P có phải là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính không?

Trả lời:

Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật TTHC. Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật TTHC (Luật Khiếu nại số 02/2011). Nếu bà A theo trình tự thủ tục của Luật Khiếu nại số 02/2011 thì khi đã có quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, nếu bà A không đồng ý thì có quyền khiếu nại lần hai đến Chủ tịch UBND tỉnh, nếu bà A vẫn không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án. Đó là quyền mà pháp luật cho phép công dân được lựa chọn, nên quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND huyện P là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.

Nếu quyết định giải quyết khiếu nại được ban hành sau khi có khiếu nại và có nội dung sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 1 của Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì quyết định hành chính đó thuộc đối tượng khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án hành chính.

Theo như ví dụ đã đưa ra thì bà A chỉ khiếu nại về hành vi quản lý đất đai, căn cứ theo quy định tại Điều 264 Luật TTHC về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai và Điều 138 Luật đất đai bà A quyền khiếu nại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Câu hỏi 13. Thẩm phán tham gia hội đồng xét xử đã xử hủy quyết định thu hồi đất, sau khi án có hiệu lực cấp có thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất khác và người dân lại kiện quyết định thu hồi đất mới. Trong trường hợp này Thẩm phán đã tham gia hội đồng xét xử trước có được tham gia hội đồng xét xử đối với quyết định thu hồi đất sau không?

Trả lời:

Thẩm phán chỉ phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu đã tham gia xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ án đó, trừ trường hợp là thành viên của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Ủy ban Thẩm phán Toà án cấp tỉnh được tham gia xét xử nhiều lần cùng một vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Tại khoản 2 Điều 9 Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP hướng dẫn “Đã tham gia xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ án đó” là đã tham gia giải quyết vụ án và đã ra bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án (trừ trường hợp là thành viên của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Ủy ban Thẩm phán Toà án cấp tỉnh được tham gia xét xử nhiều lần cùng một vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm)”.

Trong vụ án về quyết định thu hồi đất, hội đồng xét xử đã tuyên hủy quyết định thu hồi đất, sau khi án có hiệu lực thì vụ án đó đã chấm dứt. Đối với trường hợp cấp có thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất khác và người dân lại kiện quyết định thu hồi đất mới. Đây là 2 vụ án hành chính khác nhau nên Thẩm phán có thể tiến hành tố tụng đối với khiếu kiện quyết định thu hồi đất sau.

Câu hỏi 14. Cá nhân nộp hồ sơ yêu cầu cấp GCNQSD đất, phòng Tài nguyên môi trường và Ủy ban nhân dân quận không nhận hồ sơ để làm thủ tục. Trường hợp này người bị kiện là Ủy ban nhân dân quận hay Phòng Tài nguyên và môi trường quận?

Trả lời:

Để xác định được người bị kiện trong vụ án này là Phòng Tài nguyên và Môi trường hay UBND thì phải căn cứ vào quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ của hai cơ quan này. Phòng Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân cấp huyện, có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về: đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, biển và hải đảo (đối với những huyện có biển) và cũng quy định rõ chức năng nhiệm vụ của Phòng Tài nguyên và Môi trường, đó là Thẩm định hồ sơ về giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, chuyển quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu, sử dụng tài sản gắn liền với đất cho các đối tượng thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện; Theo dõi biến động về đất đai; cập nhật, chỉnh lý các tài liệu và bản đồ về đất đai; quản lý hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện theo phân cấp của Ủy ban nhân dân cấp huyện; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện thống kê, kiểm kê, đăng ký đất đai đối với công chức chuyên môn về tài nguyên và môi trường ở xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt là công chức chuyên môn về tài nguyên và môi trường cấp xã); thực hiện việc lập và quản lý hồ sơ địa chính, xây dựng hệ thống thông tin đất đai cấp huyện” (TTLT số: 03/2008/TTLT-BTNMT-BNV ngày 15/7/2008 của Bộ Tài nguyên môi trường, Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về tài nguyên và môi trường thuộc Ủy ban nhân dân các cấp).

Căn cứ vào các quy định trên thì Phòng Tài nguyên và Môi trường quận là người bị kiện trong vụ án này.

Câu hỏi 15.

Ông A có đơn khiếu nại đến UBND cấp có thẩm quyền để giải quyết:

1. Buộc tháo dỡ bức tường của ông B xây trên đất mà ông A cho rằng đất này thuộc quyền sử dụng của ông A.

2. Xem xét cấp GCNQSD đất cho ông A.

UBND cấp có thẩm quyền có công văn giải quyết khiếu nại không chấp nhận yêu cầu khiếu nại của ông A.

Ông A khởi kiện công văn trả lời khiếu nại của UBND. Xin hỏi công văn trả lời khiếu nại của UBNDcó phải là đối tượng khởi kiện tại tòa án hay không?

Trả lời:

Quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án hành chính là văn bản được thể hiện dưới hình thức quyết định hoặc dưới hình thức khác như thông báo, kết luận, công văn do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành có chứa đựng nội dung của quyết định hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính mà người khởi kiện cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (trừ những văn bản thông báo của cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức trong việc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức bổ sung, cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết, xử lý vụ việc cụ thể theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó) (trích Khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao).

Cần phải xem xét cụ thể trong từng trường hợp, nếu công văn có đủ các nội dung như nghị quyết đã quy định thì nó là một quyết định hành chính và là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính. Nếu cũng là thể thức công văn nhưng không chứa đựng nội dung như nghị quyết hướng dẫn thì không phải là quyết định hành chính.Câu hỏi 16

Câu hỏi 16. Theo quy định tại Điều 104 Luật TTHC thì thời hiệu khởi kiện đối với quyết định hành chính là 1 năm. Vậy trong trường hợp đã được giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc lần 2 thì thời hạn 1 năm tính từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính hay quyết định giải quyết khiếu nại?

Trả lời:

Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà cá nhân, cơ quan, tổ chức được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án hành chính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.

Nếu quyết định giải quyết khiếu nại không có nội dung sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính ban đầu thì không phải là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính. Thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày nhận được hoặc biết được Quyết định hành chính chứ không phải quyết định giải quyết khiếu nại.

Nếu quyết định giải quyết khiếu nại có nội dung sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính ban đầu thì quyết định giải quyết khiếu nại này thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính và nếu người khởi kiện khởi kiện quyết định này thìthời hiệu khởi kiện là 01 năm đối với quyết định giải quyết khiếu nại này và được tính từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại.

Câu hỏi 17. Trong vụ án hành chính, UBND quận là người bị kiện, người đại diện theo pháp luật là chủ tịch UBND quận. Tuy nhiên, khi thụ lý giải quyết, Phó chủ tịch UBND quận ký thay chủ tịch ký giấy ủy quyền cho trưởng phòng tài nguyên - môi trường tham gia tố tụng. Tòa án có chấp nhận giấy ủy quyền đó không? Hay bắt buộc phải là chủ tịch UBND quận trực tiếp ký giấy ủy quyền.

Trả lời:

Người đại diện trong tố tụng hành chính bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền. Người đại diện theo pháp luật trong tố tụng hành chính thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng hành chính của đương sự mà mình là đại diện. Chủ tịch UBND quận là người đại diện theo pháp luật của UBND quận. Do vậy, Phó chủ tịch UBND quận ký giấy ủy quyền cho Trưởng phòng Tài nguyên và môi trường tham gia tố tụng là trái quy định của pháp luật, giấy ủy quyền này không hợp lệ nên Tòa án không chấp nhận.

Câu hỏi 18. Đất chưa có giấy tờ theo Khoản 1,2,5 Điều 50 Luật đất đai, đang được một người làm thủ tục yêu cầu UBND xã hoàn tất các thủ tục để được cấp GCNQSDĐ. Xã đã đo đạc, hoàn tất hồ sơ để chuyển UBND huyện cấp GCNQSDĐ thì có tranh chấp. Vậy trường hợp này có thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 50 Luật đất đai là “đã đăng ký ruộng đất hoặc có tên trong sổ địa chính hay không? Nếu phát sinh tranh chấp thì thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND hay TAND?

Trả lời:

Trường hợp đất không có giấy tờ theo quy định tại Khoản 1,2,5 Điều 50 Luật đất đai có thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 50 Luật đất đai là “đã đăng ký ruộng đất hoặc có tên trong sổ địa chính hay không. Tại khoản 14 Điều 4 Luật đất đai đưa ra khái niệm về sổ địa chính: là sổ được lập cho từng đơn vị xã, phường, thị trấn để ghi người sử dụng đất và các thông tin về sử dụng đất của người đó. Ở đây, mới chỉ làm thủ tục để xã đo đạc để hoàn tất hồ sơ nên không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 50.

Về thẩm quyền giải quyết khi có tranh chấp,Điều 264 của Luật TTHC quy định: “Khoản 2 Điều 136 của Luật đất đai được sửa đổi, bổ sung như sau:

2. Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có GCNQSDĐ hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này được giải quyết như sau:

a) Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết hoặc khởi kiện theo quy định của Luật tố tụng hành chính;

b) Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện theo quy định của Luật TTHC.”

Nếu tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có GCNQSDĐ hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật đất đai thì thẩm quyền giải quyết thuộc UBND. Khi UBND đã giải quyết khiếu nại mà người dân không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại này khi đó thì người dân có thể khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án.

Câu hỏi 19. Phân biệt trả đơn khởi kiện trong trường hợp “người khởi kiện không có quyền khởi kiệnsự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án” theo quy định tại điểm a và điểm e Điều 109 Luật TTHC.

Trả lời:

Theo quy định của Luật TTHC thì người có quyền khởi kiện vụ án hành chính là cá nhân, cơ quan, tổ chức. Nhưng cá nhân, cơ quan, tổ chức này khi khởi kiện vụ án hành chính phải thỏa mãn 2 điều kiện, đó là: Phải có năng lực chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hành chính và phải là người bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh hoặc danh sách cử tri.

Nếu quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh hoặc danh sách cử tri thì họ không có quyền khởi kiện.

Điều 28 Luật TTHC quy định những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án, gồm:

“1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định và các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức.

2. Khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

3. Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống.

4. Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.”

Do đó, nếu khởi kiện các quyết định hành chính, hành vi hành chính ngoài phạm vi quy định tại Điều 28 thì được coi là sự việc không thuộc thẩm quyền của Tòa án, trường hợp này Tòa án trả lại đơn khởi kiện. Ví dụ: Theo quy định tại Khoản 19, Điều 4, Chương III nghị định 49/2012/NĐ-CP ngày 4/6/2012 của Chính phủ quy định doanh mục các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao là: Quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến các thông tin, tài liệu về thương binh, liệt sĩ, quân nhân mất tin, mất tích chưa đượccông bố; hồ sơ công nhận liệt sĩ, tử sĩ”. Do đó việc khởi kiện các quyết định hành chính liên quan đến vấn đề trên không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Câu hỏi 20. Trường hợp ngày mở phiên tòa mà vắng mặt Hội thẩm nhân dân nhưng không có Hội thẩm nhân dân dự khuyết thay thế thì phải hoãn phiên tòa (điểm b Khoản 1 Điều 136 Luật TTHC). Vậy thủ tục hoãn phiên tòa thực hiện như thế nào?

Trả lời:

Phiên toà chỉ được tiến hành khi có đủ thành viên Hội đồng xét xử và Thư ký Toà án. Trường hợp không có Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân dự khuyết để thay thế thành viên Hội đồng xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều này thì phải hoãn phiên toà (Điều 129 Luật TTHC). Khi hoãn phiên tòa thì quyết định hoãn phiên tòa phải được thảo luận, thông qua tại phòng nghị án và phải được lập thành văn bản theo đúng quy định của Luật TTHC. Vấn đề biểu quyết không được áp dụng vì khi nghị án thì mới xét đến nguyên tắc này, còn việc hoãn phiên tòa chỉ là thủ tục. Chính vì vậy, Quyết định hoãn phiên toà phải được Chủ toạ phiên toà thay mặt Hội đồng xét xử ký tên.

Nội dung đính kèm
Trao đổi nghiệp vụ.docx
Các bài viết khác Tòa án nhân dân với việc bảo đảm quyền con người (phần 3) (09/05/2014) Tòa án nhân dân với việc bảo đảm quyền con người (phần 2) (18/04/2014) Tòa án nhân dân với việc bảo đảm quyền con người (phần 1) (11/04/2014) Trao đổi nghiệp vụ năm 2011 (27/05/2013) Trao đổi nghiệp vụ năm 2010 (11/04/2013)
Thông báo Quyết định công nhận tốt nghiệp và cấp bằng cử nhân đối với sinh viên Khóa 5 và Khóa 6 đại học hệ chính quy ngành Luật đợt 2 năm 2025 (30/01/2026) Thông báo tuyển dụng công chức Hệ thống thi hành án dân sự năm 2025 theo phương thức thi tuyển (20/01/2026) Lịch học Học kỳ 2 năm học 2025-2026 Khóa 8 đại học chính quy ngành Luật (14/01/2026) Kế hoạch viết Khóa luận tốt nghiệp và thực tập chuyên môn (Đợt 1 đối với sinh viên Khóa 7 đại học chính quy ngành Luật) (14/01/2026) Thông báo số: 13a/TB-HVTA V/v đăng kí viết Khóa luận tốt nghiệp đối với sinh viên Khóa 7 đại học chính quy ngành Luật (14/01/2026)
Hình ảnh hoạt động
GIÁO TRÌNH TÀI LIỆU MỚI Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam Hướng dẫn chi tiết thi hành Luật thi đua khen thưởng... Bình luận Bộ luật hình sự năm 2015 phần thứ hai... Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng dân sự...
Tin video
Ý kiến góp ý Họ và tên: Địa chỉ mail của bạn: Tiêu đề: Chọn file:
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌC VIỆN TÒA ÁN Địa chỉ : Đường 282 Kim Sơn, Gia Lâm, Hà Nội. Điện thoại: 0432.693.693 - Fax : 0432.693.693 Email: [email protected] Trưởng Ban biên tập: Giám đốc Học viện Tòa án Ghi rõ nguồn Trang thông tin điện tử Học viện Tòa án (www.hocvientoaan.edu.vn) khi trích dẫn

Từ khóa » Nguyên Tắc Tội Ghép