Tri Giác Xã Hội – Phần II - CSCI INDOCHINA

Ấn tượng ban đầu luôn bị ảnh hưởng bởi các hiệu ứng tâm lý, trong đó có thể chỉ ra rõ nét nhất là Hiệu ứng bối cảnh. Bối cảnh ở đây được hiểu là những điều kiện khách quan có ảnh hưởng ít nhiều tới sự kiện tri giác con người. Hiệu ứng bối cảnh thường được nói đến trong tri giác xã hội như là sự tương quan giữa hành vi tốt xấu của đối tượng với vai trò xã hội của họ (vai trò xã hội ở đây được hiểu là bối cảnh). Hiệu ứng bối cảnh thường được xem xét theo hai chiều nghịch nhau: Khi một đặc điểm tiêu cực hay một hành vi xấu đi kèm theo với một vai xã hội tích cực của đối tượng sẽ làm tăng ấn tượng tiêu cực của ta với đối tượng. Ví dụ, cô giáo vô trách nhiệm với học sinh: cô giá là vai xã hội tích cực, hành vi vô trách nhiệm của cô giáo là nét tính cách tiêu cực, dẫn đến ấn tượng về một cô giáo tồi. Hay ai đó nói luật sư nhũng nhiễu, luật sư là vai xã hội tích cực, nhưng hành động nhũng nhiễu ám chỉ gây phiền hà, muốn kiếm chác dẫn đến ấn tượng là luật sư vô đạo đức. Cũng như vậy, công an thường là một vai xã hội tích cực – người bảo vệ trật tự giao thông, nhưng khi họ có hành vi nhũng nhiễu, ăn tiền người vi phạm luật giao thông, lập tức người ta sẽ có hình ảnh xấu về công an giao thông. Ấn tượng ban đầu này nếu được củng cố nhiều lần sẽ dẫn đến sự định kiến về công an giao thông nói chung, cứ nhìn thấy bất kể một công an giao thông nào người ta cũng có ấn tượng xấu về họ bất kể người đó có hành vi gian lận hay không. Như vậy, những vai xã hội tích cực thường bị lên án mạnh mẽ hơn nhiều so với những người bình thường rơi vào hoàn cảnh tương tự. Ngược lại, ấn tượng tích cực càng mạnh, càng tăng lên khi một vai xã hội tiêu cực đi kèm với một đặc điểm tích cực, hoặc là một người bình thường “vượt lên chính mình”. Ví dụ, tên trộm thương người nghèo, người nghiện ma túy bị HIV tham gia trong nhóm “bạn giúp bạn”. Như vậy, hiệu ứng bối cảnh có ý nghĩa củng cố, tăng cường hay giảm nhẹ ý nghĩa tích cực hay tiêu cực của chúng ta về người khác. Ấn tượng ban đầu thường mang tính chủ quan, khó xác định, bị nhiều hiệu ứng tác động nên không dễ xóa nhòa, nó quyết định nhiều thái độ ứng xử tiếp theo của chúng ta với đối tượng tri giác.

Ấn tượng ban đầu cũng bị Hiệu ứng hào quang chi phối khi tri giác đối tượng. Khái niệm hiệu ứng hào quang được nhà tâm lý học Mỹ Thorndike đầu thế kỷ XX phát hiện khi ông nhận thấy là: Trong quá trình tri giác đối tượng, xuất phát từ một ấn tượng cục bộ, hạn hẹp, người tri giác đã mở rộng, phát triển nó lên và hình thành một hình ảnh trọn vẹn về đối tượng tri giác – tốt hoặc xấu. Hiệu ứng hào quang là kết quả của sự khuếch đại những suy đoán chủ quan của cá nhân. Nếu ưu điểm của một người được lan tỏa thì các khuyết điểm của họ sẽ được xem nhẹ và bị che lấp. Trong trường hợp ngược lại, khuyết điểm của ai đó đôi khi là vật cản che khuất các ưu điểm của họ.

Hiệu ứng Pygamalion cũng có ảnh hưởng tới quá trình hình thành ấn tượng ban đầu. Theo Fischer, hiệu ứng Pygmalion là một quá trình tạo ra ở người khác những mong đợi của người tri giác. Sự hình thành ấn tượng ban đầu bị ảnh hưởng bởi lòng mong đợi, sự yêu mến thiết tha của người tri giác đối với đối tượng tri giác và nó làm thay đổi sự nhìn nhận của chúng ta về người khác. Và điều này có ảnh hưởng đến cả đối tượng tri giác. Việc gán cho ai đó những đặc điểm tốt dần dần cũng làm chuyển biến họ theo hướng tích cực.

Khi tri giác, chúng ta luôn tìm cách lý giải hành vi của người khác: Tại sao họ lại làm thế? Điều đó có nghĩa là gì? Mục đích của họ là gì? Như vậy trước mọi biểu hiện của người khác chúng ta có xu hướng liên hệ tới nguyên nhân của hành vi. Việc chúng ta cố gắng giải thích các sự kiện bằng các gán cho chúng nguyên nhân đặc biệt được gọi là Quy gán xã hội. Fischer định nghĩa quy gán xã hội là một quá trình suy diễn dựa trên các yếu tố ổn định, bất biến để giải thích các sự kiện riêng biệt, hay thay đổi nhằm tìm hiểu động cơ của con người.

Quy gán theo sự suy diễn được phân tích như sau: Bắt đầu từ một đặc điểm chúng ta suy diễn sự óc mặt hoặc thiếu vắng những đặc điểm khác. Sự kết hợp của hai hay ba đặc điểm không xác thực được đưa ra sẽ cho phép suy diễn những đặc điểm khác dễ dàng hơn. Ngoài ra, những cảm giác về người khác còn dựa trên những so sánh, nhờ vào kinh nghiệm mà mỗi người đã có và dựa trên sự nhận xét những nét giống nhau giữa người X với người A hoặc người B mà chúng ta đã từng biết và từng đánh giá. Và như thế chúng ta có lời giải thích đơn giản hơn cho các sự kiện phức tạp đang xảy ra.

Vậy khi nào chúng ta quy gán? Hansen (1980) cho rằng trong rất nhiều tình huống, người ta hay đưa ra các kết luận về nguyên nhân đằng sau các hành động của người khác một cách quá nhanh và quá dễ. Họ có thể làm điều này vì họ dựa trên những kinh nghiệm trong quá khứ. Có những kiểu hành vi nào đó nhìn chung xuất phát từ những nhân tố bên trong, trong khi những kiểu khác thường bắt nguồn từ những nhân tố bên ngoài. Vì vậy không phải lúc nào chúng ta cũng quy gán đúng nguyên nhân của hành vi.

Sử dụng quy gán cũng là một cách để chúng ta tin rằng mình có thể kiểm soát được mọi việc, quyết định mọi yếu tố thành công hay thất bại trong cuộc sống. Điều này làm chúng ta an tâm. Xét từ góc độ cá nhân, quy gán là cách giúp chúng ta giải thoát những căng thẳng, khó chịu bằng cách tự biện bạch như một cơ chế phòng vệ bản thân. Như khi gặp rủi ro (tai nạn xe cộ), chúng ta thường cho rằng người khác đi ẩu hay vì đường quá chật, đường quá xấu chứ không phải do ta đi ẩu. Khi gặp rủi ro, nhiều người cho rằng “Ra ngõ gặp gái:, “Gặp vận đen” – nguyên nhân không phải do bản thân mình. Quy gán xã hội thường được thể hiện qua các nguyên tắc sau: Nguyên tắc tâm lý ngây thơ, nguyên tắc suy diễn tương ứng và nguyên tắc suy diễn nhân quả.

Theo Heider (1958), quá trình quy gán là một sự phân tích ngây thơ hành động của người khác bằng cách kết nối những biểu hiện ứng xử khó dự đoán của đối tượng với các kinh nghiệm ổn định của người tri giác. Đây là thứ suy đoán ngây ngô vốn có ở mỗi người được gọi là tâm lý ngây thơ.

Nguyên tắc tâm lý ngây thơ được Frit Heider giải thích là: Khi tri giác chúng ta luôn tìm cách khám phá nguyên nhân hành vi dễ hiểu và dự đoán sự kiện sắp xảy ra với mong muốn có thể giám sát được con người và mọi sự kiện xung quanh. Như vậy, quá trình quy gán là một sự phân tích ngây thơ về đối tượng dựa vào vốn kinh nghiệm có sẵn của người tri giác. Chính vì vậy các kết quả đánh giá  đối tượng mang tính chủ quan về nhiều khi lại trở nên lố bịch.

Suy diễn tương ứng là cách quy gán thứ hai được giải thích bởi Jones và David (1965). Để làm sáng tỏ vấn đề này, các tác giả tập trung vào câu hỏi: Chúng ta sử dụng thông tin về những hành vi của con người làm cơ sở cho việc chỉ xác định các đặc điểm hay tính cách đa dạng của họ như thế nào? Có nghĩa là thuyết này quan tâm tới việc từ các hành động công khai của con người, chúng ta đã ra kết luận gì về những phẩm chất nhân cách đặc trưng của họ trong các tình huống khác nhau và những kết luận này ổn định theo thời gian như thế nào?

Nhìn chung cách cư xử của con người cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin nếu sát tỉ mỉ. Tuy nhiên, đôi khi các cá nhân hành động theo những cách không phải do thuộc tính tâm lý hay ý thích của họ, mà do các nhân tố bên ngoài quy định khiến họ có ít sự lựa chọn. Ví dụ, một nhân viên bán hàng từ chối một tờ séc của khách hàng. Điều này dẫn đến suy diễn là nhân viên đó tỏ ra không tin tưởng người mua? Nhưng có thể không hoàn toàn như vậy. Anh ta có thể chỉ đang tuân theo những quy định khắt khe của công ty là chỉ được nhận tiền mặt. Anh ta có thể thực sự là người dễ tính và nếu được quyết định, anh ta sẽ chấp nhận tờ séc. Đây là một trường hợp mà anh ta không thể hành động theo ý muốn. Trong trường hợp như vậy thì việc kết luận anh ta có liên quan đến thuộc tính tâm lý của anh ta có thể sẽ gây ra nhầm lẫn. Vậy chúng ta tri giác trường hợp này như thế nào cho đúng? Lý thuyết của Jones và David giải thích rằng cần tập trung quan sát vào các hành động nào đó thích hợp và thu thập nhiều thông tin hơn nữa. Trong đó chúng ta chỉ nên quan tâm tới những hành vi biểu hiện một cách tự do thoải mái. Còn những hành vi nào được thực hiện một cách miễn cưỡng thì chúng ta sẽ không tính đến vì đó có thể không phải là hành vi xuất phát từ mong muốn của họ.

Cũng theo lý thuyết của Jones và David, khi quy gán, ta nên chú ý tới các hành vi tạo ra các ảnh hưởng bất thường, những hành vi như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc nắm bắt vấn đề chính xác hơn. Ví dụ ở cơ quan có một người định chuyển công tác khác. Giả sử ta biết rằng công việc mới này (1) được trả lương cao hơn công việc hiện tại, (2) thú vị hơn, (3) làm việc tại một nơi có điều kiện thuận lợi hơn. Việc người đó chấp nhận công việc mới khó cho chúng ta biết điều gì là nguyên nhân khiến anh ta đi? Trong trường hợp này quy gán của chúng ta dễ có khả năng không đúng. Ngược lại, vẫn với tình huống chuyển công tác nhưng với một sự thay đổi như sau: (1) được trả lương cao hơn, (2) công việc rất buồn chán, (3) làm việc tại một nơi có vị trí địa lý không thuận lợi. Như vậy, việc chấp nhận công việc mới của người đó trong trường hợp này có thể kết luận rằng người này coi trọng tiền hơn mọi thứ khác. Bằng việc so sánh các tình huống, chúng ta có thể hiểu rằng tại sao chúng ta có thể nắm bắt rõ về người khác qua các hành vi và quyết định của họ trong các hoạt động có ảnh hưởng bất thường hơn là các hoạt động gây ra hậu quả nào.

Cuối cùng, theo thuyết của Jones và David chúng ta nên chú ý tới hành vi cá biệt hơn là những hành vi giống với đa số. Nói cách khác, chúng ta học được nhiều về tâm lý hay tính cách của con người qua những hành động không giống ai của họ hơn là từ những hành động được nhiều người thực hiện. Ví dụ, khi nghe một công an giao thông giải thích luật cho người vi phạm giao thông, ta sẽ không thể biết nhiều về tư cách của người công an đó. Nhưng nếu công an giao thông giải thích cho người vi phạm giao thông rằng: “Xe máy của chị là một xe đầu bảng, đắt đấy! Nếu xe này mà bị giữ ở bãi xe 2 tuần thì khả năng xe sẽ bị lấy trộm đèn xi nhan, gương, bộ đánh điện… Ngoài ra, chị còn phải nộp tiền bến bãi và còn phải mất thời giờ đi lại để giải quyết thủ tục…”. Kiểu giải thích của người công an như vậy là bất thường và nó không hoàn toàn là một phần công việ của người công an giao thông. Vì vậy, tri giác thu nhận được về tư cách người công an đó sẽ chính xác hơn. Tóm lại, theo lý thuyết của Jones và David, chúng ta hoàn toàn có thể kết luận rằng, hành vi của con người phản ánh những thuộc tính tâm lý ổn định của họ và chúng ta có thể suy diễn tương đối chính xác  về họ, hành vi đó: (1) Xảy ra có chọn lọc, (2) Có những tác động khác thường không phổ biến và (3) Chiếm số ít trong sự mong muốn của xã hội.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Trần Thị Minh Đức – Các thực nghiệm trong tâm lý học xã hội – NXB ĐH QGHN 2008.

Chia sẻ:

  • X
  • Facebook
Thích Đang tải...

Có liên quan

Từ khóa » Vi Dụ Về Tri Giác Xã Hội