Triết Lý Giáo Dục: Nhân Bản – Dân Tộc – Khai Phóng. Lược Sử Hệ ...
Có thể bạn quan tâm
- Trang chủ
- Tin Tức
- Tin tức
- Bản tin nội bộ
- Tin ảnh
- Tin videos
- F1
- Tin F1
- Hiệp thông
- Chia sẻ
- Hội Ngộ CCSHuế
- Tin Hội Ngộ
- Tâm tình
- Sáng tác
- Quê Hương-Kỷ Niệm
- Bài viết
- Tư liệu
- Xứ Huế
- Các Chủng viện
- Đất nước
- Hiệp Thông
- Tin Vui
- Tin Buồn
- Lời Cầu nguyện
- Phụng vụ
- Chia sẻ Lời Chúa
- Giải thích Lời Chúa
- Mùa Phụng vụ
- Linh đạo
- Đức HY FX Nguyễn Văn Thuận
- Sống đạo
- Tiến trình phong Thánh
- Giáo Hội
- Hoàn vũ
- Việt Nam
- Tu đức
- Tài liệu
- Thế giới
- Xã hội
- Giáo dục
- Khoa học
- Du Lịch
- Gia đình
- Vui Khỏe
- Vitamin tâm hồn
- Y học
- Nghệ thuật
- Vườn thơ
- Âm nhạc
- Truyện ngắn
- Nghệ thuật khác
- Đó đây
- Giải trí
- Chuyện cười
- Chuyện lạ
- Tin tức
- Tải file
- Tờ liên lạc
- Liên Lạc Gia đình Cựu Chủng Sinh Huế.
- Ủng hộ
- Videoclips
- Album ảnh
- About us
- Trang chủ
- Văn hóa-Xã hội
- Giáo dục


Các trường tư thục và Quốc Gia Nghĩa Tử Các trường tư thục và Bồ đề Ngoài hệ thống trường công lập của chính phủ là hệ thống trường tư thục. Vào năm 1964 các trường tư thục giáo dục 28% trẻ em tiểu học và 62% học sinh trung học. Đến niên học 1970-1971 thì trường tư thục đảm nhiệm 17,7% học sinh tiểu học và 77,6% học sinh trung học. Con số này Tính đến năm 1975, Việt Nam Cộng hòa có khoảng 1,2 triệu học sinh ghi danh học ở hơn 1.000 trường tư thục ở cả hai cấp tiểu học và trung học. Các trường tư thục nổi tiếng như Lasan Taberd dành cho nam sinh; Couvent des Oiseaux, Regina Pacis (Nữ vương Hòa bình), và Regina Mundi (Nữ vương Thế giới) dành cho nữ sinh. Bốn trường này nằm dưới sự điều hành của Giáo Hội Công Giáo. Trường Bác ái (Collège Fraternité) ở Chợ Quán với đa số học sinh là người Việt gốc Hoa cũng là một tư thục có tiếng do các thương hội người Hoa bảo trợ. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất có hệ thống các trường tiểu học và trung học Bồ Đề ở nhiều tỉnh thành, tính đến năm 1970 trên toàn quốc có 137 trường Bồ đề, trong đó có 65 trường trung học với tổng số học sinh là 58.466. Ngoài ra còn có một số trường do chính phủ Pháp tài trợ như Marie Curie, Colette, và Saint-Exupéry. Kể từ năm 1956, tất cả các trường học tại Việt Nam, bất kể trường tư hay trường do ngoại quốc tài trợ, đều phải dạy một số giờ nhất định cho các môn quốc văn và lịch sử Việt Nam. Chương trình học chính trong các trường tư vẫn theo chương trình mà Bộ Quốc gia Giáo dục đã đề ra, dù có thể thêm một số giờ hoặc môn kiến thức thêm. Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Viêt Nam tổng cộng có 1.087 trường tư thục ở miền Nam Việt Nam bị giải thể và trở thành trường công (hầu hết mang tên mới). Các trường Quốc Gia Nghĩa Tử Ngoài hệ thống các trường công lập và tư thục kể trên, Việt Nam Cộng hòa còn có hệ thống thứ ba là các trường Quốc gia nghĩa tử. Tuy đây là trường công lập nhưng không đón nhận học sinh bình thường mà chỉ dành riêng cho các con em của tử sĩ hoặc thương phế binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa như là một đặc ân của chính phủ giúp đỡ không chỉ phương tiện học hành mà cả việc nuôi dưỡng. Hệ thống này bắt đầu hoạt động từ năm 1963 ở Sài Gòn, sau khai triển thêm ở Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế, và Biên Hòa. Tổng cộng có 7 cơ sở với hơn 10.000 học sinh. Loại trường này do Bộ Cựu Chiến binh quản lý chứ không phải Bộ Quốc gia Giáo dục, nhưng vẫn dùng giáo trình của Bộ Quốc gia Giáo dục. Chủ đích của các trường Quốc gia nghĩa tử là giáo dục phổ thông và hướng nghiệp cho các học sinh chứ không được huấn luyện quân sự. Vì vậy trường Quốc gia nghĩa tử khác trường Thiếu sinh quân. Sau năm 1975, các trường quốc gia nghĩa tử cũng bị giải thể. Giáo dục đại học Học sinh đậu được Tú tài II thì có thể ghi danh vào học ở một trong các viện Đại Học, trường Đại Học, và học viện trong nước. Tuy nhiên vì số chỗ trong một số trường rất có giới hạn nên học sinh phải dự một kỳ thi tuyển có tính chọn lọc rất cao; các trường này thường là Y, Dược, Nha, Kỹ Thuật, Quốc gia hành chánh và Sư Phạm. Việc tuyển chọn dựa trên khả năng của thí sinh, hoàn toàn không xét đến lý lịch gia đình. Sinh viên học trong các cơ sở giáo dục công lập thì không phải đóng tiền. Chỉ ở một vài trường hay phân khoa đại học thì sinh viên mới đóng lệ phí thi vào cuối năm học. Ngoài ra, chính phủ còn có những chương trình học bổng cho sinh viên. Chương trình học trong các cơ sở giáo dục đại học được chia làm ba cấp. Cấp 1 (học 4 năm): Nếu theo hướng các ngành nhân văn, khoa học, v.v.. thì lấy bằng cử nhân (ví dụ: cử nhân Triết, cử nhân Toán…); nếu theo hướng các ngành chuyên nghiệp thì lấy bằng tốt nghiệp (ví dụ: bằng tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm, bằng tốt nghiệp Học viện Quốc gia Hành chánh…) hay bằng kỹ sư (ví dụ: kỹ sư Điện, kỹ sư Canh nông…). Cấp 2: học thêm 1-2 năm và thi lấy bằng cao học hay tiến sĩ đệ tam cấp (tiếng Pháp: docteur de troisième cycle; tương đương thạc sĩ ngày nay). Cấp 3: học thêm 2-3 năm và làm luận án thì lấy bằng tiến sĩ (tương đương với bằng Ph.D. của Hoa Kỳ). Riêng ngành y, vì phải có thời gian thực tập ở bệnh viện nên sau khi học xong chương trình dự bị y khoa phải học thêm 6 năm hay lâu hơn mới xong chương trình đại học. Mô hình các cơ sở giáo dục đại học Phần lớn các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam thời Việt Nam Cộng hòa được tổ chức theo mô hình viện đại học (theo Việt-Nam Tự-Điển của Hội khai trí Đức Tiến: Viện = Nơi, sở). Đây là mô hình tương tự như university của Hoa Kỳ và Tây Âu, cùng với nó là hệ thống đào tạo theo tín chỉ (tiếng Anh: credit). Mỗi viện đại học bao gồm nhiều phân khoa đại học (tiếng Anh: faculty; thường gọi tắt là phân khoa, ví dụ: Phân khoa Y, Phân khoa Sư phạm, Phân khoa Khoa học, v.v…) hoặc trường hay trường đại học (tiếng Anh: school hay college; ví dụ: Trường Đại học Nông nghiệp, Trường Đại học Kỹ thuật, v.v…). Trong mỗi phân khoa đại học hay trường đại học có các ngành (ví dụ: ngành Điện tử, ngành Công chánh, v.v…); về mặt tổ chức, mỗi ngành tương ứng với một ban (tiếng Anh: department; tương đương với đơn vị khoa hiện nay). Về mặt tổ chức, viện đại học của Việt Nam Cộng hòa duy trì đường lối phi chính trị của các đại học Tây Phương. Các khoa trưởng của các trường phân khoa khong do Bộ Quốc gia Giáo dục bổ nhiệm mà do các giáo sư của Hội đồng Khoa bầu lên. Trong hai thập niên 1960 và 1970, lúc hội nghị Hòa Bình đang diễn ra ở Paris, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ráo riết lên kế hoạch tái thiết sau chiến tranh, với viễn cảnh là hòa bình sẽ lập lại ở Việt Nam, một chính phủ liên hiệp sẽ được thành lập, người lính từ các bên trở về cần được đào tạo để tái hòa nhập vào xã hội. Trong khuôn khổ kế hoạch đó, có hai mô hình cơ sở giáo dục đại học mới và mang tính thực tiễn được hình thành, đó là trường đại học cộng đồng và viện đại học bách khoa. Trường đại học cộng đồng là một cơ sở giáo dục đại học sơ cấp và đa ngành; sinh viên học ở đây để chuyển tiếp lên học ở các viện đại học lớn, hoặc mở mang kiến thức, hoặc học nghề để ra làm việc. Các trường đại học cộng đồng được thành lập với sự tham gia đóng góp, xây dựng, và quản trị của địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ở địa phương trong các mặt văn hóa, xã hội, và kinh tế. Khởi điểm của mô hình giáo dục này là một nghiên cứucủa ông Đỗ Bá Khê tiến hành vào năm 1969 mà các kết quả sau đó được đưa vào một luận án tiến sĩ trình ở Viện Đại học Southern California vào năm 1970 với tựa đề The Community College Concept: A Study of its Relevance to Postwar Reconstruction in Vietnam (Khái niệm trường đại học cộng đồng: Nghiên cứu sự phù hợp của nó với công cuộc tái thiết hậu chiến ở Việt Nam). Cơ sở đầu tiên được hình thành là Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang, thành lập vào năm1971 ở Định Tường sau khi mô hình giáo dục mới này được mang đi trình bày sâu rộng trong dân chúng. Vào năm 1973, Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức (tên tiếng Anh: Thủ Đức Polytechnic University, gọi tắt là Thủ Đức Poly) được thành lập. Đây là một cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực, và chú trọng đến các ngành thực tiễn. Trong thời gian đầu, Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức có các trường đại học chuyên về Nộng Nghiệp, Kỹ Thuật, Giáo Dục, Khoa Học và Nhân Văn, Kinh tế và Quản trị, và Thiết kế đô thị; ngoài ra còn có trường đào tạo sau đại học. Theo kế hoạch, các cơ sở giáo dục đều được gom chung lại trong một khuôn viên rộng lớn, tạo một môi trường gợi hứng cho trí thức suy luận, với một cảnh trí được thiết kế nhằm nâng cao óc sáng tạo; quản lý hành chính tập trung để tăng hiệu năng và giảm chi phí. Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng Hoà xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, toàn bộ các cơ sở giáo dục đại học thời Việt Nam Cộng hòa bị đổi tên và bị phân tán theo khuôn mẫu giáo dục của Liên Xô nên không còn mô hình theo đó các trường hay phân khoa đại học cấu thành viện đại học, mà mỗi trường trở nên biệt lập. Giáo dục đại học Việt Nam dưới các chính thể Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam theo mô hình phân tán ngành học. Các “trường đại học bách khoa” được thành lập dưới hai chính thể này ( Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội, Trường Đại học Bách Khoa TPHCM, và Trường Đại Học Bách Khoa Đà Nẵng) không giống như mô hình viện đại học bách khoa vì chỉ tập trung vào các ngành kỹ thuật Tương tự, mô hình “trường đại học tổng hợp” (Trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội, Trường Đại Học Tổng Hợp TPHCM và Trường Đại Học Tổng Hợp Huế) cũng chỉ tập trung vào các ngành khoa học cơ bản, chứ không mang tính chất toàn diện. Đến đầu thập niên 1990, chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mới thành lập 2 “đại học” cấp quốc gia và 3 “đại học” cấp vùng theo mô hình gần giống như mô hình viện đại học. Vào tháng 10 năm 2009, một số đại biểu của Quốc Hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đưa ra đề nghị gọi tên các “đại học” cấp quốc gia và cấp vùng là “viện đại học”. Các viện đại học công lập Viện Đại Học Sài Gòn: Tiền thân là Viện Đại Học Đông Dương (1906), rồi Viện Đại Học Quốc Gia Việt Nam (1955) – còn có tên là Viện Đại học Quốc gia Sài Gòn. Năm 1957, Viện Đại học Quốc Gia Việt Nam đổi tên thành Viện Đại học Sài Gòn. Đây là viện đại học lớn nhất nước. Trước năm 1964, tiếng Việt lẫn tiếng Pháp được dùng để giảng dạy ở bậc đại học, nhưng sau đó thì chỉ dùng tiếng Việt mà thôi theo chính sách ngôn ngữ theo đuổi từ năm 1955. Riêng Trường Đại Học Y Khoa dùng cả tiếng Anh. Vào thời điểm năm 1970, hơn 70% sinh viên đại học trên toàn quốc ghi danh học ở Viện Đại học Sài Gòn. Viện Đại Học Huế: Thành lập vào tháng 3 năm 1957 với 5 phân khoa đại học: Khoa học, Luật, Sư phạm, Văn khoa, và Y khoa. Viện Đại Học Cần Thơ: Thành lập năm 1966 với 4 phân khoa đại học: Khoa học, Luật khoa & Khoa học Xã hội, Sư phạm, và Văn khoa. Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức: Thành lập năm 1974. Tiền thân là Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật (1957), Học viện Quốc gia Kỹ thuật (1972). Các viện đại học tư thục Viện Đại Học Đà Lạt: Thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1957. Một phần cơ sở của Viện Đại học Đà Lạt nguyên là một chủng viện của Giáo hội Công Giáo. Viện đại học này có 4 phân khoa đại học: Chính trị Kinh doanh, Khoa học, Sư phạm, Thần học và Văn khoa. Theo ước tính, từ năm 1957 đến 1975 viện đại học này đã giáo dục 26.551 người. Viện Đại Học Vạn Hạnh: Thuộc khối Ấn Quang của Giáo hội phật giáo hội Việt Nam Thống Nhất; thành lập ngày 17 tháng 10 năm 1964 ở số 222 đường Trương Minh Giảng (sau 1975 là đường Lê Văn Sỹ), Quận 3, Sài Gòn-Gia Định với 5 phân khoa đại học: Giáo dục, Phật Học, Khoa Học Xã hội, Khoa học ứng dụng, và Văn học & Khoa học nhân văn. Vào đầu thập niên 1970, Vạn Hạnh có hơn 3.000 sinh viên. Viện Đại Học Phương Nam: Được cấp giấy phép năm 1967 tọa lạc ở số 16 đường Trần Quốc Toản (sau năm 1975 là đường 3 Tháng Hai), Quận 10, Sài Gòn. Viện đại học này thuộc khối Việt Nam Quốc Tự của Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Giáo sư Lê Kim Ngân làm viện trưởng. Viện Đại học Phương Nam có 3 phân khoa đại học: Kinh tế-Thương mại, Ngoại ngữ, và Văn khoa. Vào thập niên 1970, viện đại học này có khoảng 750 sinh viên ghi danh. Viện Đại Học An Giang (Hòa Hảo): Thành lập năm 1970 ở Long Xuyên với 5 phân khoa đại học: Văn khoa, Thương mại-Ngân hàng, Bang giao Quốc tế, Khoa học Quản trị và Sư phạm. Viện Đại học này trực thuộc Giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo. Viện Đại Học Cao Đài: Thành lập năm 1971 trên đường Ca Bảo Đạo ở Tây Ninh với 3 phân khoa đại học: Thần học Cao Đài, Nông lâm mục, và Sư phạm. Viện Đại học này trực thuộc Giáo hội Cao Đài. Viện Đại Học Minh Đức: Được cấp giấy phép năm 1972, trụ sở ở Sài Gòn với 5 phân khoa đại học: Kỹ thuật Canh nông, Khoa học Kỹ thuật, Kinh tế Thương mại, Nhân văn Nghệ thuật, và Y Khoa. Viện Đại học này do Giáo hội Công Giáo điều hành. Các học viện và viện nghiên cứu Học Viện Quốc Gia Hành Chính: Cơ sở này được thành lập từ thời Quốc Gia Việt Nam với văn bản ký ngày 29 tháng 5 năm 1950 nhằm đào tạo nhân sự chuyên môn trong lãnh vực công quyền như thuế vụ và ngoại giao. Trường sở đặt ở Đà Lạt; năm 1956 thì dời về Sài Gòn đặt ở đường Alexandre de Rhodes; năm 1958 thì chuyển về số 100 đường Trần Quốc Toản (gần góc đường Cao Thắng, sau năm 1975 là đường 3/2), Quận 10, Sài Gòn. Học viện này trực thuộc Phủ Thủ tướng hay Phủ Tổng thống, đến năm 1973 thì thuộc Phủ Tổng ủy Công vụ. Học viện có chương trình hai năm cao học, chia thành ba ban cao học, đốc sự, và tham sự. Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp (1972-1974): tiền thân là Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung tâm Quốc gia Nông nghiệp (1968-1972) rồi nhập vào Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức năm 1974. Ngoài những học viện trên, Việt Nam Cộng hòa còn duy trì một số cơ quan nghiên cứu khoa học như Viện Pasteur Sài Gòn, Viện Pasteur Đà Lạt, Viện Pasteur Nha Trang, Viện Hải dương học Nha Trang, Viện Nguyên tử lực Đà Lạt, Viện Khảo cổ v.v. với những chuyên môn đặc biệt. Các trường đại học cộng đồng Bắt đầu từ năm 1971 chính phủ mở một số trường đại học cộng đồng (theo mô hình community college của Hoa Kỳ) như Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang ở Mỹ Tho, Duyên Hải ở Nha Trang, Quảng Đà ở Đà Nẵng (1974), và Long Hồ ở Vĩnh Long. Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang đặt trọng tâm vào nông nghiệp; Trường Đại học Cộng đồng Duyên Hải hướng về ngư nghiệp. Riêng Trường Long Hồ còn đang dang dở chưa hoàn tất thì chính thể Việt Nam Cộng hòa bị giải tán. Ở Sài Gòn thì có Trường Đại học Regina Pacis (khai giảng vào năm 1973) dành riêng cho nữ sinh do Công Giáo thành lập, và theo triết lý đại học cộng đồng. Các trường kỹ thuật và huấn nghệ Ngoài những trường đại học còn có hệ thống trường cao đẳng như Trường Bách khoa Phú Thọ và Trường Nông lâm súc. Một số những trường này sang thập niên 1970 được nâng lên tương đương với cấp đại học. Trường quốc gia Nông Lâm mục: Thoạt tiên là Nha Khảo cứu Đông Dương thành lập năm 1930 ở B’lao, cơ sở này đến năm 1955 thì nâng lên thành Trường Quốc gia Nông lâm mục với chương trình học bốn năm. Diện tích vườn thực nghiệm rộng 200 ha chia thành những khu chăn nuôi gia súc, vườn cây công nghiệp, lúa thóc. Qua từng giai đoạn Trường đổi tên thành Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung tâm Quốc gia Nông nghiệp (1968-1972), Học viện Quốc gia Nông nghiệp (1972-1974). Cuối cùng Trường Quốc gia Nông lâm mục được sáp nhập vào Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức (có trụ sở ở số 45 đường Cường Để, Quận 1, Sài Gòn). Trường còn có chi nhánh ở Huế, Cần Thơ, và Bình Dương. Trung Tâm Kỹ Thuậc Phú Thọ: Thành lập năm 1957 thời Đệ nhất Cộng Hoà gồm bốn trường: Trường Cao đẳng Công chánh, Trường Cao đẳng Điện học, Trường Quốc gia Kỹ sư Công nghệ, và Trường Việt Nam Hàng hải. Năm 1968 lập thêm Trường Cao đẳng Hóa học. Năm 1972, Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật đổi thành Học viện Quốc gia Kỹ thuật và đến năm 1974 thì nhập với Trường Đại học Nông nghiệp để tạo nên Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức. Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia: Thành lập năm 1966 để đào tạo nhân viên giữ an nnh và thi hành luật pháp. Các trường nghệ thuật Trường Quốc gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ: Thành lập ngày 12 tháng 4 năm 1956 dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Chương trình học sau được bổ túc để bao gồm các bộ môn âm nhạc cổ điễn Tây Phương và truyền thống Việt Nam cùng kịch nghệ. Trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế: Thành lập năm 1962 ở cố đô Huế chủ yếu dạy âm nhạc cổ truyền Việt Nam, dùng nhà hát Duyệt Thị Đường trong Kinh Thành Huế làm nơi giảng dạy. Trường Quốc Gia Trang Trí Mỹ Thuật: thành lập năm 1971, trên cơ sở nâng cấp Trường Trung học Trang trí Mỹ thuật Gia Định (tiền thân là Trường Mỹ nghệ Gia Định, thành lập năm 1940). Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn: thành lập sau năm 1954; chuyên đào tạo về nghệ thuật tạo hình với các chương trình học 3 và 7 năm. Vị giám đốc đầu tiên là họa sĩ Lê Văn Đệ (1954-1966). Sinh viên du học ngoại quốc Một số sinh viên bậc đại học được cấp giấy phép đi du học ở nước ngoài. Hai quốc gia thu nhận nhiều sinh viên Việt Nam vào năm 1964 là Pháp (1.522) và Hoa Kỳ (399), đa số theo học các ngành khoa học xã hội và kỹ sư. Nguồn tin: lasan.org
Tags: tự do, giáo dục, đại học, nhấn mạnh, tính cách, dân tộc, miễn phí, triết lý, cơ bản, cộng hòa, hiến pháp, nhân bản, khai phóngTổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Triết lý giáo dục: Nhân bản – Dân tộc – Khai phóng. Lược sử hệ thống giáo dục tại Việt Nam trước năm 1975 Xếp hạng: 5 - 2 phiếu bầu 5 Click để đánh giá bài viết TweetÝ kiến bạn đọc
Sắp xếp theo bình luận mới Sắp xếp theo bình luận cũ Sắp xếp theo số lượt thíchNhững tin mới hơn
-
Giật mình và lo lắng về giáo dục nước nhà
(03/12/2018) -
Trương Vĩnh Ký – Nhà giáo dục yêu nước của VN
(19/12/2018) -
Làm gì để giúp con thoát khỏi bạo lực học đường?
(04/04/2019) -
Tính nhân bản trong bài học quốc văn tiểu học miền Nam trước 75
(14/05/2019) -
Việt Nam: Dạy về một quá khứ bạo lực
(16/06/2019) -
Trẻ em Mỹ được truyền cảm hứng học như thế nào?
(17/09/2019) -
Sản xuất tiến sĩ dỏm nhiều như "lò ấp" trứng
(18/08/2020) -
Học sinh VN 'học bơi sai' trong biển ngoại ngữ?
(31/03/2021) -
Mỹ tiếp tục thống trị bảng xếp hạng Đại học tốt nhất thế giới 2022
(09/11/2021) -
Một ngôi trường Công giáo Mỹ chính thức có cơ sở đầu tiên tại Đồng Nai, Việt Nam
(21/03/2022)
Những tin cũ hơn
-
Các trường tư thục Mỹ: Đào tạo công dân có ‘lương tri, can đảm và đồng cảm’
(24/10/2018) -
Bồi hồi nhớ lại sách ta xưa giữa những ngày ‘công nghệ giáo dục’
(19/09/2018) -
Cải cách chữ Quốc ngữ, chuyện lẽ ra không nên bàn nữa
(07/09/2018) -
Giáo dục đạo đức là cốt lõi của xã hội Nhật Bản: Học làm người mọi lúc, mọi nơi
(21/08/2018) -
“Khai giảng”: Từ ngữ hé lộ cả tư duy giáo dục của nước nhà
(14/08/2018) -
Phải chăng chính người lớn VN đã dạy trẻ em gian lận?
(29/07/2018) -
Ngưỡng tuổi để học ngoại ngữ tốt nhất
(08/05/2018) -
Đằng sau 'thảm họa' giáo dục là tính hiếu danh và giả dối?
(18/04/2018) -
Giáo Dục “Vỡ Trận” Và Sự Cần Thiết Phải Thành Lập Tổ “Tư Vấn Về Văn Hóa-Giáo Dục”
(12/04/2018) -
Giáo dục trước và sau năm 1975
(04/01/2018)
NỘI DUNG SITE
Ngày Truyền thống CCS vùng Huế-Quảng Trị. “Ôn cố tri tân”
“Ôn cố tri tân” là nhớ lại những điều cũ để nhờ đó mà biết thêm điều mới, nhằm sống tốt hơn và hướng...
Ngày Truyền thống Gia đình Cựu Chủng sinh Huế năm 2025
Năm nay, anh em Cựu Chủng sinh Huế khu vực phía Nam quyết định tổ chức Ngày Truyền thống theo hình...
Tường thuật Ngày Truyền thống liên miền 2025. Hạnh Trí 19/9/2025
Nhận lời mời trọng thị của cha sở Lê Văn Hải HT68 và Ban Đại diện CCS Huế vùng Nha Trang-Ninh Thuận,...
Hội ngộ “Ân Huệ Tuổi 70”. Ngày cuối: Thánh lễ Bế mạc & Tiệc chia tay
Sau lời kinh tạ ơn, bữa tiệc khép lại nhưng lòng người còn rộn ràng. Từng nhóm năm ba người tranh...
Hội ngộ “Ân Huệ Tuổi 70”. Ngày thứ 4: Thánh lễ tại Từ đường ĐĐK ĐHY Phanxicô Xavie & Trải nghiệm thuyền thúng Hội An
Sáng Thứ sáu 8-8, sau khi điểm tâm tại khách sạn, chúng tôi lên xe về Từ Đường ĐĐK ĐHY Phanxicô...
- Tin tiêu điểm
- Tin mới nhất
-
Ngày Truyền thống CCS vùng Huế-Quảng Trị. “Ôn cố tri tân” -
Ngày Truyền thống Gia đình Cựu Chủng sinh Huế năm 2025 -
Tường thuật Ngày Truyền thống liên miền 2025. Hạnh Trí 19/9/2025 -
Hội ngộ “Ân Huệ Tuổi 70”. Ngày cuối: Thánh lễ Bế mạc & Tiệc chia tay -
Hội ngộ “Ân Huệ Tuổi 70”. Ngày thứ 4: Thánh lễ tại Từ đường ĐĐK ĐHY Phanxicô Xavie & Trải nghiệm thuyền thúng Hội An
-
Bữa cơm 0 đồng tại giáo xứ Đốc Sơ -
Gia đình không sụp đổ vì nghèo, mà vì lòng người lệch chuẩn
-
Sự tử tế là sự lựa chọn an nhiên giữa thế giới chai sạn -
Thông tin chuẩn bị Thánh lễ Tuyên Chân phước Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp -
Những Người Lữ Hành Trên Đường Hy Vọng. ĐHY PX Nguyễn Văn Thuận [12]
- Bản tin Vui Mừng và Hy Vọng số... - 05/01/2026
- Bản tin Vui Mừng và Hy Vọng số... - 10/10/2025
- Bản tin Vui Mừng và Hy Vọng số... - 21/07/2025
- Bản tin Vui Mừng và Hy Vọng số... - 10/04/2025
- Bản tin Vui Mừng và Hy Vọng số... - 10/01/2025
- Bản tin Vui Mừng và Hy Vọng số... - 18/10/2024
- Kỷ Yếu 50 Năm Lớp Hy Vọng HT74 - 31/08/2024
- Bản tin Vui Mừng và Hy Vọng số... - 20/07/2024
- Sách: Một Chút Tình Thôi, tập... - 17/03/2024
- Bản tin Vui Mừng và Hy Vọng số... - 09/01/2024
CHUYÊN MỤC CHIA SẺ
Bão lụt Miền Trung 10/2020
Đại dịch Covid-19
WEBSITES GIA ĐÌNH
THỐNG KÊ TRUY CẬP - Đang truy cập497
- Hôm nay52,423
- Tháng hiện tại355,617
- Tổng lượt truy cập96,122,245
- http://cuucshuehn.net/uploads/logo-cuucshuehn_120_120.png N/A
- Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
- Email: [email protected]
- Website: http://cuucshuehn.net
- Tin Tức
- Năm Đức Tin
- Dữ liệu Website cũ
- Tải file
- Trang hình xưa (Our Photos)
- Tổng giáo phận Huế
- Hội đồng Giám mục VN
- Vatican News
Cựu Chủng sinh HuếBạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
Giới thiệu bài viết cho bạn bè
Từ khóa » Mục Tiêu Giáo Dục Vnch
-
Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa – Wikipedia Tiếng Việt
-
[PDF] Nhìn Lại Nền Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa Sự Tiếc Nuối Vô Bờ Bến
-
Vì Sao Triết Lý Giáo Dục Của Việt Nam Cộng Hòa Mãi Trường Tồn?
-
Giáo Dục Thời Việt Nam Cộng Hòa | Đạo Và đời Qui Nguyên
-
Nền Giáo Dục VNCH – Nhân Bản, Dân Tộc Và Khai Phóng
-
[PDF] Triết Lý & Mục Tiêu Giáo Dục Thời VNCH
-
Những Hình ảnh Về Giáo Dục Miền Nam Trước 1975 - Pinterest
-
Việt Tân - NHÌN LẠI NỀN GIÁO DỤC VNCH - Facebook
-
Nhìn Lại Nền "GIÁO DỤC VNCH" Sự Tiếc Nuối Vô Bờ Bến - YouTube
-
Giáo Dục VNCH Là Nhân Bản - Dân Tộc - Khai Phóng, Nói "không" Vs ...
-
Nền Giáo Dục Miền Nam Trước 1975 (trích Lược) - Trí Thức VN
-
VNCH đã để Lại 'di Sản Lớn Về Văn Hóa Và Giáo Dục' - BBC
-
Tự Hào Với Nền Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa - Nơi Tầng Lớp Trí Thức ...