Trình Giảo Kim – Wikipedia Tiếng Việt

北齐晋州司马。

Trình Giảo Kim程咬金
Lỗ Quốc công
Tên húyTrình Giảo Kim → Trình Tri Tiết
Tên chữNghĩa Trinh
Thụy hiệuTương
Thông tin cá nhân
Sinh
Tên khai sinhTrình Giảo Kim
Ngày sinh589
Nơi sinhĐông Bình
Quê quánTianping Xian
Mất
Thụy hiệuTương
Ngày mất26 tháng 2, 665
Giới tínhnam
Gia quyến
Thân phụTrình Lâu
Chính thêPhu nhân họ Tôn
Tiểu thiếpPhu nhân họ Thôi
Hậu duệTrình Xử Mặc, Trình Xử Lượng, Trình Xử Bật, Trình Xử Thốn, Trình Xử Lập, Trình Xử Hiệp
Tước hiệuLỗ Quốc công
Nghề nghiệpquân nhân
Quốc tịchnhà Đường, nhà Tùy
[sửa trên Wikidata]x • t • s

Trình Giảo Kim (chữ Hán: 程咬金; 589-665), Nghĩa Trinh (义贞), húy Tri Tiết (知節), là một đại tướng công thần khai quốc nhà Đường. Ông được xếp thứ 19 trong số 24 công thần được vẽ chân dung trên Lăng Yên các.

Thân thế

[sửa | sửa mã nguồn]

Trình Giảo Kim xuất thân là người Tế Châu, trong gia đình võ tướng thế gia. Cụ là Trình Hưng, làm Tư mã Duyện Châu thời Bắc Tề. Ông là Trình Triết, làm Tư mã Tấn Châu thời Bắc Tề. Cha là Trình Lâu, cũng làm nối nghiệp quan võ, sau được truy tặng hàm Thứ sử Doanh Châu.

Trình Giảo Kim từ nhỏ đã luyện tập võ nghệ, từ thời thiếu niên đã nổi tiếng kiêu dũng, giỏi cưỡi ngựa và sử dụng mã sóc (một loại giáo dài) rất thiện nghệ.

Phản Tùy

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 610, thời Tùy Dạng đế, các cuộc nổi dậy nổi lên, Trình Giảo Kim chiêu mộ khoảng 100 người, lập đội vũ trang bảo vệ làng xóm. Sau ông gia nhập Ngõa Cương quân, được Lý Mật trọng dụng, cho giữ chức Phiêu kỵ.

Năm 618, Lý Mật và Vương Thế Sung quyết chiến. Ông cùng Bùi Hành Nghiễm được Lý Mật phái dẫn quân đi tăng viện cho Thiện Hùng Tín nhưng bị quân của Vương Thế Sung đánh bại. Trình Giảo Kim bị truy binh dùng giáo dài đâm bị thương, nhưng ông vẫn đánh bại truy binh để trốn thoát.

Khi Vương Thế Sung đánh bại Lý Mật, đã thu nhận Trình Giảo Kim, phong làm tướng quân, đối đãi rất hậu.

Tuy nhiên, đến năm 619, lấy cớ Vương Thế Sung làm người gian trá, Trình Giảo Kim cùng với Tần Thúc Bảo, Ngô Hắc Thát, Ngưu Tiến Đạt... cả thảy 10 người bỏ đi theo về với nhà Đường.

Về Đường, Giảo Kim được đưa về phủ Tần vương, giữ chức Tả tam thống quân. Từ đó, ông theo Tần vương Lý Thế Dân, lần lượt đánh bại Tống Kim Cương, Đậu Kiến Đức, Vương Thế Sung... lập được nhiều công trạng, được phong làm Túc quốc công.

Phò trợ Tần vương lên ngôi

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 624, anh em Lý Kiến Thành, Lý Thế Dân tranh ngôi vị. Do bị vây cánh của Lý Kiến Thành tác động, Trình Giảo Kim bị Đường Cao Tổ đổi đi làm Thứ sử Khang Châu. Dù vậy, ông khẳng định lòng trung thành của mình đối với Tần vương. Khi Sự biến Huyền Vũ môn xảy ra, Trình Giảo Kim cũng có tham dự. Sau Sự biến Huyền Vũ môn, ông được bái làm Thái tử Hữu vệ soái, đổi làm Hữu vũ vệ Đại tướng quân, được phong ăn lộc 700 hộ. Khi Lý Thế Dân lên ngôi, ông được phong làm Đô đốc Lư Châu, sau được cải tước Lỗ quốc công, thụ Phổ Châu Thứ sử.

Làm quan triều Cao tông

[sửa | sửa mã nguồn]

Đời Đường Cao tông, ông được đổi thành Tả vệ Đại tướng quân. Khoảng năm 655-657, ông lĩnh chức Hành quân tổng quản, dẫn binh xuất chinh Tây Đột Quyết. Tuy nhiên, trong quá trình hành quân, quân Đường tàn sát thường dân, người Đột Quyết phẫn nộ, quyết tâm chống cự, dẫn đến thất bại của quân Đường. Vì vậy, khi hồi triều, Trình Giảo Kim bị miễn chức, nhưng không lâu sau lại được phục chức làm Thứ sử Kỳ Châu.

Bấy giờ, Trình Giảo Kim đã cao tuổi, nên dâng thư thỉnh cầu từ quan dưỡng lão, được hoàng đế Cao tông phê chuẩn. Năm 665, Trình Giảo Kim lâm bệnh qua đời, thọ 77 tuổi. Ông được triều đình truy tặng Phiêu kỵ Đại tướng quân, Ích Châu Đại đô đốc, ban thụy hiệu, được bồi táng ở Chiêu lăng.

Hình ảnh văn hóa

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 643,[1] Đường Thái Tông ra lệnh cho họa sĩ Diêm Lập Bản vẽ tranh chân dung của 24 vị công thần khai quốc của nhà Đường lấy tên Nhị thập tứ công thần đồ (二十四功臣圖, Tranh vẽ 24 vị công thần) để treo tại Lăng Yên các. Trình Giảo Kim được xếp vào gian ngoài.

Trong giai thoại dân gian, thường mô tả Trình Giảo Kim có thân hình to béo, sử dụng búa lớn (tam bản phủ) làm vũ khí. Khi ra trận, ông có tuyệt kỹ đánh 3 búa rất lợi hại, gần như vô địch. Tuy nhiên, nếu gặp cao thủ, đỡ được 3 búa này thì ông thất thế. Tuy nhiên, tài liệu sử không ghi nhận chi tiết này, mà chỉ ghi nhận ông dùng giáo dài (槊) để làm binh khí. Thậm chí tranh vẽ thờ trong Lăng Yên các cũng cho thấy ông là người có thể tạng trung bình.

Gia quyến

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Tổ phụ: Trình Hưng (程兴), nhậm Duyện Châu Tư mã thời Bắc Tề.
  • Thân phụ: Trình Tiết (程哲), nhậm Tấn Châu Tư mã thời Bắc Tề.
  • Thê thiếp:
  1. Nguyên phối Tôn thị (孙氏, 598 - 628), con gái Lục Nhân Huyện lệnh họ Tôn, được phong Túc quốc Phu nhân (宿国夫人).
  2. Kế phối Thanh Hà Thôi thị (清河崔氏, 593 - 659), cháu gái Tề quận công Thôi Tốn (崔逊), con gái Tề Châu Biệt giá Thôi Tín (崔信).
  3. Hai thị thiếp không rõ tên.
  • Con cái:
  1. Trình Xử Tự (程处嗣), mẹ là Thôi phu nhân, tập tước Lỗ quốc công (卢国公).
  2. Trình Hoài Lượng (程怀亮), mẹ là Thôi phu nhân, được phong Đông A Huyện công (东阿县公), nghênh giá Thanh Hà Công chúa Lý Tĩnh (李敬) - con gái Đường Thái Tông Lý Thế Dân.
  3. Trình Xử Chính (程处政), mẹ là Thôi phu nhân, nhậm Sóc Châu Tư mã.
  4. Trình Xử Bật (程处弼), mẹ là Thôi phu nhân, nhậm Trung lang tướng. Con trai là Trình Bá Hiến (程伯獻, ? - 738) được phong Quảng Bình quận công (廣平郡公).
  5. Trình Xử Thốn (程处寸), mẹ là Mỗ thị, nhậm Hộ bộ Lang trung, Miên Châu Thứ sử.
  6. Trình Xử Lập (程处立), mẹ là Mỗ thị, nhậm Thành An huyện lệnh. Vợ là Phu nhân Hòa Can (和干, 640 - 729), con gái Hòa Trí Phương (和智方), có một con gái.
  7. Trình Tuấn (程俊, 630 - 657), nhậm Thông sự xá nhân.

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ "兩千年中西曆轉換". Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2017.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  • x
  • t
  • s
Tùy Đường thập bát hảo hán
  • 1. Lý Nguyên Bá
  • 2. Vũ Văn Thành Đô
  • 3. Bùi Nguyên Khánh
  • 4. Hùng Khoát Hải
  • 5. Ngũ Vân Thiệu
  • 6. Ngũ Thiên Tích
  • 7. La Thành
  • 8. Dương Lâm
  • 9. Ngụy Văn Thông
  • 10. Thượng Sư Đồ
  • 11. Tân Văn Lễ
  • 16. Tần Thúc Bảo
  • 17. Uất Trì Kính Đức
  • 18. Thiện Hùng Tín
  • x
  • t
  • s
Lăng Yên các nhị thập tứ công thần
Gian trong cùng
  • Trưởng Tôn Vô Kỵ
  • Lý Hiếu Cung
  • Đỗ Như Hối
  • Ngụy Trưng
  • Phòng Huyền Linh
  • Cao Sĩ Liêm
  • Uất Trì Kính Đức
  • Lý Tĩnh
Gian giữa
  • Tiêu Vũ
  • Đoàn Chí Huyền
  • Lưu Hoằng Cơ
  • Khuất Đột Thông
  • Ân Khai Sơn
  • Sài Thiệu
  • Trưởng Tôn Thuận Đức
  • Trương Lượng
Gian ngoài cùng
  • Hầu Quân Tập
  • Trương Công Cẩn
  • Trình Tri Tiết
  • Ngu Thế Nam
  • Lưu Chính Hội
  • Đường Kiệm
  • Lý Thế Tích
  • Tần Thúc Bảo
Stub icon

Bài viết tiểu sử liên quan đến nhân vật quân sự Trung Quốc này vẫn còn sơ khai. Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn.

  • x
  • t
  • s

Từ khóa » Trịnh Bân Huy Tiểu Sử