Trò Chơi Ngôn Ngữ Trong “Không Biết đâu Mà Lần” Của Văn Thành Lê
Có thể bạn quan tâm
Toggle navigation - Trang Nhất
- Giới thiệu
- Dòng chảy
- Bình luận văn nghệ
- Văn xuôi
- Thơ
- Người lính
- Thế giới
- VNQĐ kết nối
- Trang chủ
- Giới thiệu
- Dòng chảy
- Quốc phòng
- Chính trị - xã hội
- Văn nghệ
- Bình luận văn nghệ
- Điểm sách
- Phê bình văn nghệ
- Diễn đàn văn nghệ
- Trao đổi
- Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
- Văn xuôi
- Sáng tác
- Nửa thế kỉ văn xuôi
- Tác giả & tác phẩm
- Bút kí - Phóng sự
- Truyện ngắn dự thi
- Thơ
- Sáng tác
- Tác giả & tác phẩm
- Thơ trên bàn biên tập
- Thơ dự thi
- Người lính
- Chuyển động
- Giải trí
- Chiến sĩ +
- Hôm qua & Hôm nay
- Camera của tôi
- Thế giới
- Chân dung
- Sáng tác
- Phê bình văn học
- Tin tức
- VNQĐ kết nối
- Thư tòa soạn
- VNQĐ số mới
- Văn học & nhà trường
- NHÂN VẬT TUẦN NÀY
- Tư liệu VNQĐ
Cũng có thể kể đến các trò chơi ngôn ngữ đầy tinh xảo nhưng rất quen thuộc khác trong KBĐML như nhại giọng, từ láy và điệp vần, tách chữ, ghép từ, liên hợp tách - ghép từ và láy, thêm dấu vào từ, điệp phụ âm, ngoại ngữ phiên âm, liên tưởng từ… Những thủ pháp nói trên có thể không mới trong lịch sử văn học, nhưng việc xuất hiện dày đặc, chuyển tải quan điểm mĩ học mới của triết học ngôn ngữ, xem hình thức văn bản là trò chơi ngôn ngữ, đã cho thấy tính chất hậu hiện đại đặc thù trong tiểu thuyết của Văn Thành Lê. Ở đấy, bản thân ngôn ngữ được phì đại nhằm thực hiện chức năng diễn trò. Trò chơi ngôn ngữ lúc này vừa có ý nghĩa tự thân, lại vừa tất yếu liên đới va chạm đến những hiện thực bên ngoài của ngôn ngữ. Như vậy, ngôn ngữ trong văn chương hậu hiện đại nói chung và tiểu thuyết của Văn Thành Lê nói riêng là trò chơi thuần khiết, nhưng nói như Umberto Eco, nó là trò chơi được diễn ra trong thời đại mà “sự ngây thơ đã bị đánh mất”.
Có thể thấy so với những nhà văn hậu hiện đại tiêu biểu khác của văn chương Việt Nam đương đại thế hệ 7x, 8x như Uông Triều, Trịnh Sơn, Phong Điệp, Nguyễn Đình Tú, Nguyễn Danh Lam…, Văn Thành Lê đã chọn cho mình một lối đi khác trên phương diện xác lập bản chất thẩm mĩ cho ngôn ngữ, cũng như cách nhà văn hình dung, kiến tạo nên thế giới này. Nếu như đa phần những nhà văn hậu hiện đại nói trên viết nên diễn ngôn truyện kể dựa vào quan niệm về tính bi đát của cuộc sống, bản chất ngôn ngữ của họ là thứ ngôn ngữ có tính khắc kỉ, xót xa, có thể đối thoại, đa thanh nhưng lại tuyệt đối xa lạ với tiếng cười. Có thể nói, tính chất bi kịch hậu hiện đại tràn ngập trong những tác phẩm của họ. Ngược lại, Văn Thành Lê lựa chọn cái hài làm trung tâm thẩm mĩ cho diễn ngôn truyện kể. Lối viết và sự lựa chọn chất liệu ngôn ngữ trong KBĐML của Văn Thành Lê giống với Đặng Thân, đó là sự quy hồi, phục hưng lại tiếng cười nghịch dị của nền tảng văn hóa trào tiếu dân gian thời đại Trung cổ và Phục hưng như quan điểm của M.M.Bakhtin. Lần giở mọi trang viết của KBĐML ra, ta có thể thấy chất liệu ngôn ngữ đặc thù của quan điểm mĩ học nghịch dị, dùng tiếng cười như một cách để giải thiêng các đại tự sự. Biểu hiện rõ nhất của tiếng cười mang tính carnaval quảng trường đó là những lời rao có tính cường điệu kệch cỡm nhưng hài hước: “Đây là kẹo kéo càng kéo càng dài càng nhai càng ngọt, ngọt như đường cát mát như đường phèn. Cô nào chồng bỏ chồng chê. Ăn cây kẹo kéo chồng mê, chồng về. Anh nào vợ dỗi bỏ bê. Ăn cây kẹo kéo vợ phê, vợ về. Kẹo kéo ăn béo đỏ da. Thuốc Tây thuốc ta thua xa kẹo kéo” (tr.18). Lời rao này rất điển hình cho thứ ngôn ngữ nghịch dị, bởi nó kết hợp được tất cả những thủ pháp nghịch dị như cường điệu, hư cấu, ám chỉ dục tính, hài hước, vần vè như bài hát… Mục đích nghệ thuật của những lời rao như vậy là nhằm tạo ra tiếng cười mang tính nghịch dị, chứ không phải tiếng cười mang tính phê phán, đả kích thuần túy. Ngoài ra, tính hạ tầng thân xác đặc thù của văn hóa nghịch dị cũng được Văn Thành Lê sử dụng thường xuyên trong tác phẩm. Trong KBĐML, những bộ phận cơ thể thường xuyên được nhắc đến là mông, bẹn, vú, “chim”, “bướm”… Cái hài nghịch dị còn được tạo ra bởi những pha tư vấn sinh sản dành cho trẻ vị thành niên đậm tính hạ tầng thân xác. Người thầy dạy học trò trong KBĐML không chỉ dạy lí trí, đạo đức, khoa học theo phương châm “tiên học lễ, hậu học văn”, mà còn dạy cách hiểu biết đúng đắn về cơ thể và hành vi tính dục. Trong quá trình tư vấn ấy, cả thầy và trò thẳng thắn trao đổi, thừa nhận về những hành vi thân xác bản năng như “hôn môi”, “đi xe đạp có bị rách màng trinh”… (tr.63-64). Từ đây, tiếng cười nghịch dị như một khát vọng dân chủ, khát vọng nhân sinh được xuất hiện. Có thể thấy, thế giới quan trong tác phẩm là thế giới quan thân xác có tính nghịch dị. Ở đấy, mọi sự vật, sự việc trên thế giới đều có thể quy về những bộ phận sinh dục đang sinh tạo, đúng như cách mà thầy giáo quốc phòng quy mọi bộ phận của súng chỉ thành “cái này” và “cái ấy” (tr.85). Đúng như nhân vật Ly cảm nhận, hình như thế giới chị đang sống là thế giới mà con người “tư duy chủ yếu bằng nửa người, phần từ thắt lưng trở xuống” (tr.44).
Những nhân vật trong truyện cũng đậm chất nghịch dị, họ là những người sống thật với bản năng thân xác, thôi thúc hành động của họ là bản năng tính dục chứ không phải những quan điểm về đạo đức. Ta có thể kể ra hàng loạt nhân vật như thầy trưởng khoa thời đại học của Kha, thầy giáo môn sinh chuyên gạ tình sinh viên bị dân phòng bắt quả tang, ông Huyện có kinh nghiệm “chơi” gái Tây từng lãnh trách nhiệm “vung chim đi đánh gái người” (tr.107). Những nhân vật này là những kẻ tha hóa vì tính dục, nhưng cũng là những người dám sống thật với bản năng. Ông Huyện là nhân vật nghịch dị điển hình nhất, ông sẵn sàng thú nhận mình sống rất bản năng trong quan hệ tính giao (với gái Tây), mà bản thân ông coi đó như một giá trị, một ý nghĩa sống. “Gái Tây ấy à! Cứ gọi là sướng nhá. Không cẩn thận có khi gãy xương… Nó vật mình như vật đất đào ao… Đời nếm một lần rồi chết cũng thỏa chúng mày ạ” (tr.108). Mặc dù vậy, cái nhìn cuộc đời của ông Huyện không thuần túy chỉ nhục dục, mà luôn khao khát đổi mới bằng cách nhìn ra thế giới. Nhìn thế giới qua đời sống tính dục bên ngoài, hay tính dục như một phương cách để hình dung về thế giới, đó là quan điểm sống của nhân vật này. “Mà phải ra khỏi ao làng mới thấy nhiều thứ hay ho chúng mày ạ. Quanh quẩn xó làng chỉ ngắm dái trâu bướm bò thì có mắt cũng như mù” (tr.108). Có thể thấy mục đích sâu xa của tác giả khi tập trung xây dựng hình tượng nghịch dị ở trên là nhằm phục hưng giá trị của vẻ đẹp thân xác phồn thực, là một nỗ lực tìm lại vị trí nhân văn cho thân xác của con người trước Chúa như lời nhà soạn kịch thời La Mã Terenxy: “Tôi là một con người, và tất cả những gì liên quan đến con người đều không xa lạ với tôi”.
2. Đọc KBĐML, tôi liên tưởng ngay đến những tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, với thế giới quan xã hội đầy rẫy những chuyện động rừng. Đã 30 năm kể từ ngày Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện cùng sự đổi mới của nền văn học nước nhà, với một tâm thế đời tư thế sự đầy sự giễu nhại, giải thiêng thần tượng và sự đổ vỡ niềm tin vào các đại tự sự. Con đường ấy cho đến nay Văn Thành Lê vẫn tiếp tục. Tuy nhiên, tính luận đề trong văn chương Văn Thành Lê không lộ liễu như trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp mặc dù Văn Thành Lê ở đẳng cấp văn chương khác, còn phải cố gắng rất nhiều mới tiệm cận đến trình độ của Nguyễn Huy Thiệp. Cái khôn khéo, tinh tế cùng sự an toàn, cẩn thận của Văn Thành Lê đó là anh tung hỏa mù trong nghệ thuật, vờ bày ra trước mặt độc giả một câu chuyện (dường như) về học đường, với những chi tiết vui vẻ có chất giải trí cao nhang nhác như truyện của Nguyễn Nhật Ánh. Tuy vậy, đằng sau cái lốt kết tạp đa sắc màu trong không gian học đường đó, thực chất là thế giới quan đầy ưu tư, mang tính phản tỉnh và không ngừng giải thiêng các đại tự sự.
Ở trong thế giới hỗn độn ấy, tác giả kể cho chúng ta về những kẻ mạo danh, trục lợi từ chính sách, được công nhận là thương binh chỉ sau một đêm ngủ dậy, có thể là do sâu răng, hoặc bị… đánh ghen. Một xã hội mà những chính sách được đặt ra bất chấp thực tiễn hay tính khả thi, chỉ như một trò đùa của những kẻ chấp bút, ví như chính sách cộng điểm thi đại học cho… mẹ Việt Nam anh hùng. Những ngôi trường giáo dục con người một cách toàn diện thì giờ đây phải chờ người ta ban cho cái danh hiệu… “cơ quan văn hóa”. Qua những ví dụ trên, chúng ta nhận ra tính trò diễn của cuộc sống hậu hiện đại.
Thế giới trong tiểu thuyết của Văn Thành Lê là thế giới của những vật ngụy tạo, những thứ trình hiện lên bên trên không phản ánh, thậm chí còn đối lập với bản chất bên trong của chúng. Thế giới ấy là nơi các giá trị trở nên hỗn loạn, nơi con người bị lạc lối giữa một mê cung giả trá của thông tin và những vật copy không có bản gốc. Ngay cả những thứ bình thường, thiết yếu hằng ngày như những cọng rau cũng có thể là vật ngụy tạo. “Vùng này là xứ sở của rau… Nhìn là thấy màu của hi vọng, màu sự sống. Còn thực hư thế nào tao không biết. Nhiều khi thấy vậy mà không phải vậy… Không biết liệu toàn thân căng tràn thuốc kích thích mà hóa chất nồng nặc đậm đà bản sắc dân tộc” (tr.22). Những đề tài khoa học được thực hiện và nghĩ ra không phải để ứng dụng phục vụ con người mà như một trò… chơi chữ vô tăm tích, giữa chữ và mục đích thực tiễn hoàn toàn rời rạc. Ví dụ: “Hiện thực hóa ứng dụng toán học vào nông nghiệp thông qua các cách thức tính diện tích đất canh tác” để chào mừng ngày… quốc tế thiếu nhi” (tr.97). Như vậy, bởi sự xuất hiện và chiếm ưu thế của những vật ngụy tạo trong nền văn hóa và cơ sở hạ tầng, nên con người bị hoang mang giữa các giá trị, đó chính là ý nghĩa trực tiếp nhất của tựa đề tác phẩm - “Không biết đâu mà lần”.
Trong xã hội như vậy, nhân vật trung tâm nổi lên là những kẻ phản diện. Tiêu biểu nhất là những thầy giáo. Có không ít nhân vật thầy giáo tha hóa trong tiểu thuyết của Văn Thành Lê. Đầu tiên là thầy trưởng khoa hồi đại học của Kha và Anh. Những sinh viên xinh đẹp bắt mắt thầy đều “nhắm” làm niên luận, khóa luận, luận văn với mình, rồi gạ gẫm: “Thầy quan tâm lắm. Thầy chu đáo cực. Thầy cực kì sâu sắc trong giáo dục. Thế mà về sau ai đó bố láo lại gọi tắt thành cực kì sắc dục” (tr.71). Thầy giáo dạy môn sinh tiền nhiệm của nhân vật Anh thì gạ tình học sinh, bị dân phòng bắt quả tang.
Không chỉ đổ vỡ trong quan hệ xã hội, quan hệ thầy trò thiêng liêng, mà quan hệ gia đình cũng không thể đứng vững, dần rạn nứt. Những đứa con đốn mạt bất hiếu ngày nay không phải mong bố có sức khỏe, sống lâu với con cái, mà ước ao bố là thương binh, liệt sĩ trong chiến tranh để chúng được hưởng những chế độ ưu đãi từ xã hội. Thế hệ trí thức tương lai sau khi rời nhà trường lại phải đối mặt với vấn nạn thất nghiệp và những bất công trong tìm kiếm cơ hội việc làm. Xã hội Việt Nam đang chứng kiến những cuộc đảo lộn giá trị một cách quyết liệt, có những điểm mới mẻ nhưng cũng chứng kiến nhiều hệ lụy và hậu quả nặng nề. KBĐML như vậy, ở chiều sâu ý nghĩa siêu hình học mang tính triết học của nó, chính là sự băn khoăn của nhân vị trước mê cung rối loạn của thực tại phi lí, đảo lộn của các giá trị.
Cá nhân con người hậu hiện đại ngày nay bị mất phương hướng giữa mê lộ thực tại, bởi họ (bị) tồn tại trong một nền tảng văn hóa ngụy tạo và sự hỗn độn của các giá trị. Từ đó, họ có cảm giác mình là một cái ung nhọt có tính chất ung thư, một vật thừa thãi có tính chất bệnh tật. “Gia đình là tế bào thì mỗi con người, như Anh, là phần tử cấu trúc nên tế bào ấy. Vậy mà Anh thừa ra tế bào vẫn sống, xã hội chẳng suy suyển gì…” (tr.10). Vị thế ngoại biên, bên lề của nhân vật trong đời sống xã hội chính là biểu hiện của “giải cấu trúc” chủ thể. Anh ta không còn tự tin đứng ở vị trí trung tâm của thế giới, nhằm thực hiện những chức phận, sứ mệnh lớn lao thời đại và dân tộc giao cho nữa. Chủ thể trong văn học hậu hiện đại là những người bình thường, nhỏ bé, đại diện cho những tiểu tự sự. Đó là thân phận bi đát của họ, nhưng thông qua việc từ chối gia nhập vào trung tâm, chối từ chấp nhận hiện thực hỗn loạn, động rừng, loạn cờ ngày nay, chủ thể đã xác lập được giá trị nhân văn và thái độ trí thức của mình.
KBĐML là một câu cảm thán bâng quơ, tưởng chừng như ngu ngơ, dại khờ, nhưng ẩn kín đằng sau đó là những vấn đề quan thiết của xã hội đương đại Việt Nam. Văn Thành Lê có thể chưa giới thiệu với chúng ta một tác phẩm thực sự hay, nhưng chí ít, anh đã có một khởi đầu hứa hẹn và đúng đắn để có thể đi lâu dài với văn chương trong tương lai, trong nghĩa chuyên nghiệp và có khát vọng nâng trình độ ngang tầm văn chương thế giới. Con đường ấy dĩ nhiên còn rất xa và rất dài, cũng “không biết đâu mà lần”. Còn rất nhiều điều mà tác giả cần khắc phục và hoàn thiện trong những tác phẩm mới. Nhưng tôi tin một nhà văn luôn ý thức về những điều chưa biết, trong quá trình khắc khoải kiếm tìm những giá trị còn lại giữa mê cung, trong tương lai, anh ta sẽ còn đi xa hơn nữa.
Y.T
VNQD Tin tức khác -
Miền ân tình ấm áp
-
Thế chiến từ một góc nhìn khác
-
Chặng đường đi của tôi
-
Nhiều chuyện hay trong hồi ký “Lính bay”
-
Nguyễn Trọng Hoàn và Năng lượng của sự có mặt
-
Cảm hứng bi kịch trong kịch bản phim Phan Đăng Di
-
Chất đời thường dân dã trong ngôn ngữ tiểu thuyết Lê Lựu
-
Một góc nhìn về văn học thiếu nhi Việt Nam đương đại
-
Dân ta phải biết sử ta...
-
Những kí ức không thể nào quên
- Khi bất an trở thành hình thức cao nhất của tỉnh táo
- Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh: Từ học viên Thông tin đến người kiến tạo “lòng tin chiến lược”
- Đêm biên cương khó ngủ
- Thơ của Hồ Anh Tuấn
- Tóc em dài không biên giới
- Thơ của Lữ Hồng
- Bên ô cửa đời sống…
- Những vị tướng trong đội hình Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân
- Những mảnh làm nên Guy de Maupassant
- Tác phẩm cuối cùng của đại văn hào Natsume Soseki
Điệu vũ giữa mùa đông Hokkaido
Niềm vui và bản sắc văn hóa Chăm trong lễ hội Ka-te
Biển vàng hướng dương nơi xứ Nghệ
Mùa nước nổi dưới ống kính nhà văn
Khi tác giả là nguyên mẫu
Trong thời gian này tôi cùng trung đội ở trên chốt rất gần địch. Trận địa tôi chỉ cách khu nhà hòa hợp chừng 1 cây số... (NGUYỄN TRỌNG LUÂN)
Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết
Tôi từng hình dung viết văn là công việc của sự hư cấu, một hành trình phác dựng thế giới từ trí tưởng tượng, nơi nhà văn tự do tạo hình mọi thứ theo ý mình... (TRẦN THỊ TÚ NGỌC)
Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945
Là người đi dọc biên giới phía Bắc, tôi có thế mạnh khi hình dung, mở ra không gian của giai đoạn lịch sử đó... (PHẠM VÂN ANH)
Các nguyên mẫu trong "Trăng lên"
Cụ đã kể cho tôi nghe về cuộc đời của mình. Cụ nguyên là một võ sư. Cuộc đời cụ có thể viết thành một thiên tiểu thuyết... (THẾ ĐỨC)
Sách từ Nhà số 4- Lịch phát sóng thứ 7 ngày 6/4
- Lịch phát sóng thứ 6 ngày 5/4
Khúc tráng ca người lính qua nét vẽ Lê Anh Vân
Lê Anh Vân sáng tác ở nhiều đề tài, song khi nhắc đến ông, công chúng không thể không nhớ tới những tác phẩm giàu xúc cảm và mang tinh thần hiện đại về người lính
Sự trở lại của những bậc tài danh
Nguyễn Tư Nghiêm tiếp tục kéo dài truyền thống vẽ Kiều khởi từ đầu thế kỉ XX với sự tham gia của nhiều danh họa
Chiêm nghiệm cái đẹp từ những khuôn hình nhỏ
Triển lãm tranh kích thước nhỏ mang đến một trải nghiệm nghệ thuật rất riêng. Ở đó, mỗi hoạ sĩ tạo nên thế giới của sự tinh tế và độ tỉ mỉ trong từng nét cọ.
Nhiều tác giả trẻ giành giải thưởng tản văn “Đối thoại với núi rừng”
Ngoài nhà văn Du An là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam còn lại đều là các gương mặt mới, có người còn rất trẻ.
“Ngày tháng này”: biến tấu của kí ức
Chuyển biến mạnh mẽ nhất của Đặng Tiến trong triển lãm lần này nằm ở chất liệu sơn mài. Mười bức sơn mài trong tổng số hơn bốn mươi tác phẩm
“Kính vạn hoa mở ra thế giới…”
Nhân dịp kỉ niệm 30 năm ra mắt bộ truyện Kính vạn hoa của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, Nhà xuất bản Kim Đồng tổ chức cuộc thi Viết
Triển lãm “Sắc thu”: Vẻ đẹp nhân văn trong nhịp sống đương đại
Lấy cảm hứng từ vẻ đẹp tiềm ẩn của quê hương đất nước, từ sức sống hồi sinh sau thiên tai, bão lũ
Ra mắt tác phẩm mới của nhà văn Haruki Murakami
Haruki Murakami từ lâu đã trở thành một hiện tượng văn chương toàn cầu. Ở Việt Nam, Murakami ghi dấu ấn sâu đậm với độc giả qua nhiều tiểu thuyết nổi tiếng
Bộ sách Gia đình “Tướng Thanh - Tướng Vịnh”
Bộ sách Gia đình “Tướng Thanh - Tướng Vịnh” khắc họa những lát cắt chân thực của lịch sử, đồng thời lan tỏa giá trị nhân văn sâu sắc
“Những làn gió Tây Bắc” trao giải lần 2
47 tác phẩm (22 bài thơ, 14 truyện ngắn, 11 bài bút ký) của 33 tác giả đã được Hội đồng Chung khảo quyết định trao giải
- Trang nhất
- Giới thiệu
- Dòng chảy
- Bình luận văn nghệ
- Văn xuôi
- Thơ
- Thế giới
- VNQĐ kết nối
Tạp chí văn nghệ quân đội điện tử - tổng cục chính trị - QĐND Việt Nam
Tổng biên tập: Nguyễn Bình Phương - Tòa soạn và trị sự: 4 Lý Nam Đế - Hà Nội
Tel: (84 - 024)8454370 Fax: (84 - 024)7333979
Email: [email protected] / [email protected]
Thường trú phía Nam: 161 - 163 Trần Quốc Thảo, P9, Q3, TP.Hồ Chí Minh
Từ khóa » Không Biết đâu Mà Lần
-
Không Biết Đâu Mà Lần | Tiki
-
Không Biết đâu Mà Lần - Báo Phụ Nữ - Phunuonline
-
Có Hay Không Một Thế Hệ "Không Biết đâu Mà Lần"?
-
Chẳng Biết đâu Mà Lần, Không Biết Tin Vào Ai | Báo Dân Trí
-
Không Biết đâu Mà Lần - Goodreads
-
Không Biết Đâu Mà Lần - Văn Thành Lê - Sách Khai Tâm
-
Không Biết Đâu Mà Lần: Truyện Dài - Nhà Xuất Bản Trẻ
-
Có Một Thế Hệ 'không Biết Đâu Mà Lần' - Nhà Xuất Bản Trẻ
-
Review Sách Không Biết Đâu Mà Lần
-
Truyện Không Biết Đâu Mà Lần - FAHASA.COM
-
[Tải Sách] Không Biết Đâu Mà Lần PDF. - TaisachPDF
-
Không Biết Đâu Mà Lần - Văn Thành Lê | NetaBooks
-
KHÔNG BIẾT ĐÂU MÀ LẦN - Nhà Sách Nguyễn An Ninh