Trúc Pháp Lan – Wikipedia Tiếng Việt

Bước tới nội dung

Nội dung

chuyển sang thanh bên ẩn
  • Đầu
  • 1 Sự tích
  • 2 Chú thích
  • 3 Tham khảo
  • Bài viết
  • Thảo luận
Tiếng Việt
  • Đọc
  • Sửa đổi
  • Sửa mã nguồn
  • Xem lịch sử
Công cụ Công cụ chuyển sang thanh bên ẩn Tác vụ
  • Đọc
  • Sửa đổi
  • Sửa mã nguồn
  • Xem lịch sử
Chung
  • Các liên kết đến đây
  • Thay đổi liên quan
  • Thông tin trang
  • Trích dẫn trang này
  • Tạo URL rút gọn
  • Tải mã QR
In và xuất
  • Tạo một quyển sách
  • Tải dưới dạng PDF
  • Bản để in ra
Tại dự án khác
  • Wikimedia Commons
  • Khoản mục Wikidata
Giao diện chuyển sang thanh bên ẩn Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Mộ đá Trúc Pháp Lan trong Chùa Bạch Mã

Dharmaratna hoặc Gobharana (?–?), thường được biết tên chuyển nghĩa là Trúc Pháp Lan (竺法蘭), là một cao tăng Phật giáo Ấn Độ, người có công truyền bá Phật pháp vào Trung Quốc.[1]

Trúc Pháp Lan là người miền Trung Ấn Độ, sớm nổi danh thông kinh luận mấy ngàn chương, làm thầy của các học giả ở Ấn Độ. Theo Huệ Kiểu đời Lương, trong tác phẩm Cao tăng truyện có ghi chép việc Hán Minh đế nằm mộng thấy người vàng, mới sai hơn 10 quan viên sang Thiên Trúc thỉnh Phật. Trên đường đi, sứ đoàn gặp 2 nhà sư Ca-diếp Ma-đằng và Trúc Pháp Lan đang tải kinh đi vào đất Hán, bèn hộ tống vào đất Hán. Khi đến Lạc Dương hai người cùng ở chung, chỉ một thời gian ngắn sau đó là thông thạo tiếng Hán. Hán Minh đế bèn xây dựng một ngôi tự viện tên là chùa Bạch Mã cho 2 vị sư làm nơi trú ngụ, dịch kinh và truyền pháp. Về sau, Lan mất ở Lạc Dương, thọ trên 60 tuổi.

Sư được cho là người đã dịch 5 bộ kinh gồm Thập địa đoạn kết, Phật bản sinh, Phật Hải tạng, Phật bản hạnh, Tứ thập nhị chương ra tiếng Hán. Do dời đô và gặp khấu loạn nên mất đi bốn bộ đầu, chỉ còn lại kinh Tứ thập nhị chương, kể ra hơn hai ngàn lời. Đất Hán còn giữ các kinh, nhưng chỉ có kinh này là sớm nhất.

Sự tích

[sửa | sửa mã nguồn]

Tương truyền rằng Hán Vũ đế đào ở dưới đáy ao Côn Minh được tro mới hỏi Đông Phương Sóc. Sóc đáp không biết, có thể hỏi người Hồ ở Tây Vực lại. sau đó khi Trúc Pháp Lan đến, mọi người đem việc đó hỏi thì Lan nói: "Thế giới chấm dứt kiếp hỏa thiêu rụi, đó là tro của kiếp hỏa ấy vậy". Lời nói của Sóc có bằng cớ nên kẻ tin tưởng rất đông.

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Tiền tố Trúc (竺) được thêm vào tên Pháp Lan (Dharmaratna) nhằm để hàm ý vị này là người gốc Thiên Trúc (tức Ấn Độ ngày nay).

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Huệ Kiểu, Lương Cao tăng truyện, Lý Việt Dũng dịch, NXB Hồng Đức, 2015, tr. 42–43.
Stub icon

Bài viết các tu sĩ, danh tăng, nhân vật lịch sử Phật giáo này vẫn còn sơ khai. Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn.

  • x
  • t
  • s
Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Trúc_Pháp_Lan&oldid=69350284” Thể loại:
  • Sơ khai nhân vật Phật giáo
  • Đại sư Phật giáo
  • Người Ấn Độ
Thể loại ẩn:
  • Tất cả bài viết sơ khai
  • Năm mất không rõ
  • Năm sinh không rõ
Tìm kiếm Tìm kiếm Đóng mở mục lục Trúc Pháp Lan 5 ngôn ngữ Thêm đề tài

Từ khóa » Trúc Pháp Lan