Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm Pháp Sự Giảng Ký - Sách Phật

Lượt xem: 3,579

Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm Pháp Sự Giảng Ký

  • Chủ giảng: Pháp Sư Tịnh Không
  • Địa điểm: – Giảng tại Tịnh Tông Học Viện Úc Châu
  • Thời gian: Tháng 6-2003
  • Trọn bộ 114 tập
  • Pháp Sư Tịnh Không bắt đầu giảng Phật Thuyết Kinh A Di Đà từ tập 07-80
  • Tỳ kheo Thích Minh Nhẫn chuyển ngữ

Download Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm Pháp Sự Giảng Ký pdf, word:

Download .doc: Trung-Phong-Tam-Thoi-He-Niem-Phap-Su-Giang-Ky-HT-Tinh-Khong.doc Download .pdf: Trung-Phong-Tam-Thoi-He-Niem-Phap-Su-Giang-Ky-HT-Tinh-Khong.pdf

Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm Pháp Sự Giảng Ký MP3

MP3 Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm Pháp Sự Giảng Ký – 1 lần 114 tập full 2.63GB tải về

Youtube

Dẫn Nhập

Lần đầu tiên mạt nhân được biết đến Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm là vào năm 2001 trong kỳ Phật Thất mùa Đông tại Tịnh Tông Học Hội Dallas. Do không biết tiếng Quan Thoại nên chúng tôi không nghe ra các âm thanh tụng niệm để theo kịp khóa niệm; nhờ đó, chúng tôi có dịp thong thả đọc từng trang Tam Thời Hệ Niệm và nhận thấy đây là một tác phẩm vô cùng quý giá cho Tịnh nghiệp hành nhân. Thoạt nhìn, dễ hiểu lầm đây chỉ là một thứ khóa tụng nhằm hồi hướng cho các vong linh sau khi Phật thất viên mãn. Thế nhưng, càng đọc kỹ, càng thấy mỗi một lời khai thị trong bản pháp sự khoa nghi này đúng là kim chỉ nam cho người tu Tịnh Độ. Càng đọc, chúng tôi càng nhận thấy tư tưởng của Trung Phong quốc sư qua những lời khai thị hoàn toàn nhất quán với tư tưởng của lịch đại tổ sư Tịnh tông. Dường như, trong các trước tác, ngài Ngẫu Ích chịu ảnh hưởng của ngài Trung Phong rất nhiều, nhưng do kiến văn thô lậu, hữu hạn, chúng tôi không dám đoan chắc điều này. So với tác phẩm Tịnh Độ Sám Nguyện của ngài Tuân Thức, ý nghĩa, văn chương, khai thị, thứ tự tác pháp của Tam Thời Hệ Niệm đều vượt trội. Nhất là trong pháp sự này, đối tượng quy kính hoàn toàn chuyên nhất nơi Tây Phương Tam Thánh, không lễ bái quá nhiều danh hiệu thập phương chư Phật, Bồ Tát, Thanh Văn Tăng như trong Tịnh Độ Sám Nguyện, khiến tư tưởng “nhất tâm chuyên niệm, hồi hướng phát nguyện vãng sanh” của Tịnh tông càng được củng cố mạnh mẽ, người hành trì cũng dễ chú tâm hơn. Đã từ lâu mạt nhân mang tâm nguyện phiên âm, chuyển ngữ pháp sự khoa nghi này, nhưng đành bó tay vì văn chương của ngài Trung Phong quá cô đọng, hầu như không cách nào gượng dịch được. May mắn sao! Mùa Thu năm nay (2004), chúng tôi tìm được bản Giảng Ký về khoa nghi pháp sự này của lão pháp sư Tịnh Không trên trang nhà Hoa Tạng Phật Giáo Đồ Thư Quán. Xin trân trọng diễn nôm, với tâm nguyện giúp cho những hành nhân Tịnh tông có thêm tài liệu làm kim chỉ nam hòng củng cố chí thú nhất tâm chuyên niệm, hồi hướng vãng sanh. Chúng tôi hoàn toàn tâm đắc lời Hòa Thượng Tịnh Không khai thị: Ngoài năm kinh một luận Tịnh Độ, mỗi hành nhân Tịnh Độ nên thường đọc đi đọc lại pháp sự này, tùy văn nhập quán để phần nào thể hội ý chỉ “tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ”; để từ đó, sự lý viên dung, sự sự vô ngại, niệm niệm chẳng rời A Di Đà Phật. Dưới mỗi câu trong chánh văn trong pháp sự khoa nghi, chúng tôi tạm dịch thành đôi dòng tiếng Việt để phô bày phần nào huyền nghĩa của chánh văn. Vì sức học quá hạn hẹp, thiếu hẳn văn tài, lời văn vụng về, thô kệch, què quặt, không thông suốt, chúng tôi không dám gọi đây là bản dịch, mà chỉ gọi là “bản chuyển ngữ”. Để người đọc tiện theo dõi, chúng tôi tự tiện đánh số chia khoa mục và đặt tiểu đề. Do nguyên cảo là một bản ghi chép trung thực lời Hòa Thượng giảng trong nhiều ngày, nên có những đoạn được Hòa Thượng nhắc đi nhắc lại đôi ba lần. Khi chuyển ngữ, chúng tôi vẫn giữ nguyên như thế, không tỉnh lược, ngõ hầu người đọc có thể tưởng tượng như đang trực tiếp tham dự pháp hội giảng kinh của Hòa Thượng. Trong khi đang dịch nháp bài giảng này, chúng tôi thấy có những vị thiện tri thức khác cũng đang dịch băng giảng, nên chúng tôi đã bỏ dở, không làm nữa, nhưng rồi nuối tiếc, nên đành chuyển ngữ tiếp cho đến khi hoàn thành cảo bản vào cuối năm 2005. Do nghĩ bản chuyển ngữ này là việc làm dư thừa, coi như một tài liệu chỉ dành riêng cho chính mình học hiểu Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm Pháp Sự, chúng tôi giữ nguyên hình thức mộc mạc, trúc trắc của nó để đăng tải trên trang nhà Di Đà Nguyện Hải (niemphat.net), vì nghĩ sẽ chẳng ai bận tâm đọc nó sau khi đã có băng giảng được lưu hành. Cho tới cuối năm 2010, trong một cuộc điện đàm, sư huynh Đức Phong đã có nhã ý muốn ấn hành bài giảng này để giúp cho những đồng tu cao tuổi, khó thể đọc lâu trên Internet, có thể thuận tiện tra cứu khi cần thiết, dễ dàng đánh dấu chương nào, phần nào cần thiết để đọc đi đọc lại từng phần lời giảng, suy ngẫm hòng thấu hiểu để thực hành hạnh “tùy văn nhập quán” như lão pháp sư Tịnh Không đã ân cần chỉ dạy. Vâng lời từ huấn của sư huynh Đức Phong, chúng tôi tu chỉnh, điều chỉnh cách chấm câu chưa hợp lý, ghi thêm chánh văn tiếng Hán, diễn nôm một số từ ngữ Hán Việt không phổ biến, cũng như nhuận sắc cho lời văn đỡ thô vụng, quê kệch hơn, cũng như sửa lỗi chánh tả. Dẫu đã cố gắng hết sức, nhưng tài cùn, trí cạn, thiếu hẳn sự tu trì, kiến thức chắp vá, lơ mơ, chắc chắn sẽ có những sai sót không thể nào tha thứ được trong bản chuyển ngữ ngô nghê này, ngưỡng mong các liên hữu xa gần sẽ rộng lòng từ bi lân mẫn chỉ giáo, phủ chính. Nếu việc làm liều lĩnh này của chúng tôi có công đức nào thì xin hồi hướng công đức ấy lên bổn sư thượng Giải hạ Thắng, trụ trì chùa Bửu Quang quận 7, Sài Gòn, chư tổ sư hoằng truyền Tịnh tông Việt Nam và Trung Hoa, lịch đại tổ tiên, phụ mẫu, tông thân quyến thuộc, cũng như các liên hữu Vạn Từ, Minh Tiến, Huệ Trang, Đức Phong luôn nâng đỡ, khuyến khích chúng tôi mỗi khi “chân chùn, gối mỏi, ngã lòng, lười nhác”. Nguyện do công đức này, tất cả Tịnh nghiệp hành nhân trong cõi Sa Bà này và mười phương thế giới đều cùng được viên thành chí nguyện, cùng hội ngộ nơi Tây Phương Cực Lạc; tất cả chúng sanh trong mười phương nghiệp đạo đều thoát chốn u đồ, đồng sanh Tịnh Độ.

Trọng Đông năm 2010, Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa kính bạch

A. Giới thiệu giản lược về tác giả

Chư vị đồng học! Trong giai đoạn này, hằng tháng những Tịnh tông liên hữu vào mỗi Chủ Nhật lại cử hành pháp sự Tam Thời Hệ Niệm một lần tại Tịnh Tông Học Viện của chúng ta, thực hiện rất hoan hỷ, nhưng có rất nhiều chỗ trong những lời khai thị của thiền sư Trung Phong họ chẳng hiểu rõ cho lắm. Lẽ đương nhiên, họ chẳng thể “tùy văn nhập quán”. Bởi thế, các đồng học đến tìm tôi, hy vọng tôi sẽ giảng nghi thức này một lượt. Tôi nhớ trong quá khứ đã từng giảng nghi thức này tại Tân Gia Ba, nhưng giảng rất đơn giản. Tôi cũng đọc tụng tập sách này mỗi ngày. Lời Thiền Sư khai thị giản dị, nhưng ý nghĩa sâu sắc, đúng như Phật pháp nói: “Bất cứ một pháp nào cũng đều có thể giúp chúng ta thành Vô Thượng Đạo”, bởi pháp nào cũng đều viên mãn; nhưng vấn đề là phải thông hiểu, mà thông hiểu chẳng phải là chuyện dễ. Quý vị đã yêu cầu, tôi cũng hoan hỷ. Chúng tôi lợi dụng thời gian này để chúng ta cùng học kỹ tập sách này. Tựa đề [của tập sách này] là Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm Pháp Sự Toàn Tập; trước hết, chúng tôi giới thiệu cùng quý vị hai chữ Trung Phong. Trung Phong là tên người. Thiền Sư pháp danh là thượng Minh hạ Bổn, Minh (明) là quang minh, Bổn là chữ bổn trong “bổn mạt” (本末: gốc ngọn). Trung Phong là biệt hiệu của Ngài. Ngài là người huyện Tiền Đường, Hàng Châu; đại khái là người ở Tiêu Sơn thuộc Hàng Châu. Tiêu Sơn nằm bên bờ sông Tiền Đường. Ngài sanh vào cuối thời nhà Tống, lớn lên dưới thời Nguyên, là người thuộc giai đoạn Tống mạt Nguyên sơ. Ở đây, chúng tôi cũng phải giới thiệu nhà Nguyên đơn giản như sau: Ở Trung Quốc, từ cổ đến nay, người thống trị quốc gia là người Hán, Hán tộc. Trước kia, các dân tộc khác đều sống tại ngoại quốc, nay hòa nhập thành dân tộc Trung Hoa. Dân tộc Trung Hoa có năm mươi hay sáu mươi sắc dân bất đồng, nhưng Hán tộc lớn nhất, dân số đông nhất. Triều đại nhà Nguyên do người Mông Cổ kiến lập, Thanh triều do người Mãn Châu kiến lập, đều thuộc ngoại tộc. Khi chưa thống nhất thì gọi họ là “ngoại tộc”, thống nhất rồi, họ bèn hòa lẫn vào Trung Quốc thành một thể. Bởi thế, bản thân Trung Quốc là dân tộc đa nguyên văn hóa, giống như một cái lò luyện lớn, vừa có thể bao dung, vừa có thể đối xử hòa thuận với nhau, đối đãi bình đẳng. Đấy chính là điều cổ thánh tiên hiền Trung Quốc răn dạy, là thành tựu của văn hóa Trung Hoa. Lãnh tụ Mông Cổ thời ấy là Hốt Tất Liệt (Khubilai), là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn (Gengis Khan). Cuối đời vua Lý Tông triều Tống, vào năm Cảnh Định thứ nhất đời Tống Lý Tông – Cảnh Định là niên hiệu, tức là năm 1260 dương lịch, nói như vậy mọi người đều hiểu rõ; năm nay là năm 2003. Nhà Nguyên của Mông Cổ lập quốc vào năm 1260, nhằm vào năm Cảnh Định thứ nhất thời Tống Lý Tông; Hốt Tất Liệt trở thành Đại Hãn, tức vị (lên ngôi) tại Khai Bình. Khai Bình nằm tại cực Bắc Nhiệt Hà (Jehol), nay thuộc địa khu Mông Cổ, nằm ở phía chánh Bắc thành Bắc Kinh. Hốt Tất Liệt lấy niên hiệu là Trung Thống, sau đổi sang niên hiệu khác; ông ta tức là Thế Tổ Hoàng Đế nhà Nguyên, trong sử gọi là Nguyên Thế Tổ. Tính từ năm đầu Dân Quốc, triều Nguyên có trước Dân Quốc 652 năm. Năm nay là năm Dân Quốc 92 (2003), quý vị phải biết thời đại này, đích xác là sáu trăm năm mươi hai năm cộng thêm chín mươi hai năm nữa, hơn bảy trăm năm! Thời đại nhà Nguyên cách nay đã hơn bảy trăm năm rồi. Chẳng bao lâu sau (thời gian các hoàng đế cuối đời Tống tại vị rất ngắn), vào niên hiệu Hàm Thuần thứ bảy đời Tống Độ Tông, tức là năm 1271, Mông Cổ lập quốc, đổi quốc hiệu là Nguyên, năm thứ nhất nhà Nguyên bắt đầu từ đó. Năm 1276, nhà Tống mất nước, cũng là năm Mông Cổ thống nhất toàn bộ Trung Quốc. Trung Quốc được thống nhất hoàn toàn vào năm 1277, đấy chính là năm nhà Nguyên góp mặt vào lịch sử Trung Quốc. Niên hiệu của Nguyên Thế Tổ khi đó là năm Chí Nguyên thứ mười bốn (1277). Nếu tính từ thời kỳ Dân Quốc, năm ấy cách thời Dân Quốc sáu trăm ba mươi lăm năm. Giới thiệu đơn giản lịch sử nhà Nguyên Mông Cổ cùng quý vị như thế đó. Tiếp đến, chúng tôi xin giới thiệu người biên soạn Tam Thời Hệ Niệm: thiền sư Trung Phong . Thiền sư Trung Phong sanh năm Quý Hợi, tức năm Cảnh Định thứ tư đời Tống Lý Tông. Năm Cảnh Định thứ tư chính là năm 1263 Tây lịch. Ngài sanh nhằm ngày mồng Hai tháng Mười Một năm 1263. Theo truyện ký, Ngài họ Tôn, mẫu thân họ Lý. Bà mẹ Ngài nằm mộng, mộng thấy “Vô Môn Khai đạo giả, trì đăng lung chí kỳ gia, dực nhật toại sanh”: Vị lão nhân Vô Môn Khai1 tay cầm lồng đèn đi vào nhà bà, ngày hôm sau bèn sanh. Do đây biết rằng: Mẫu thân Ngài nằm mộng ngày mồng Một tháng Mười Một; ngày mồng Hai tháng Mười Một bà bèn sanh một bé trai, đứa bé trai ấy là thiền sư Trung Phong. Truyện ký ghi lại chuyện này, nay chúng ta có thể tin tưởng được. Vì sao vậy? Chúng ta nghe nói những chuyện như vậy rất nhiều, đúng là có chuyện như vậy. Đứa bé ấy trở lại làm người, quyết định chẳng phải là người tầm thường; nó oai nghi đẹp đẽ chẳng giống mọi đứa bé khác. Vừa mới biết đi, đứa bé ấy bèn biết nói. Vừa mới biết đi, tức là [như truyện ký chép] “tài ly cưỡng bão” (vừa mới khỏi phải địu)2 , nó liền biết nói, vừa mới biết đi đã biết ngồi xếp bằng tịnh tọa. Vừa mới biết nói đã biết xướng phạm bái3 . Chơi với mấy bạn nhỏ khác, nếu quan sát kỹ, trò chơi của chúng đều là Phật sự, giống như những việc thuộc pháp hội nhà Phật. Nó thích chơi những trò như vậy. Do đây, ta biết đời trước nó là người xuất gia, mang theo tập khí đời quá khứ. Căn bản là chẳng có ai dạy, dẫu thời ấy Phật pháp rất thịnh hành, nhưng một đứa bé nhỏ xíu như thế không ai dạy, lại tự biết. Chẳng những đời trước nó là người xuất gia, mà còn chẳng phải là người xuất gia tầm thường; nếu là hạng tầm thường sẽ chẳng thể có thành tựu như thế. Bổn tích nhân duyên của Ngài, chúng ta là phàm phu chẳng thể biết Ngài có phải là Phật, Bồ Tát ứng hóa hay không, rất khó nói được. Phần lớn cuộc đời Ngài trụ tại núi Thiên Mục. Có mấy vị đồng học đã đến núi Thiên Mục rồi. Đương nhiên Phật sự Hệ Niệm cử hành tại núi Thiên Mục, chúng tôi tin tưởng nhất định được thiền sư Trung Phong gia trì. Bất quá ở mọi nơi trên thế giới, nếu chúng ta quán tưởng núi Thiên Mục, quán tưởng thiền sư Trung Phong, thì thời gian lẫn không gian chẳng bị chướng ngại, đều có thể cảm ứng Tam Bảo, được oai thần của Phật, Bồ Tát gia trì. Năm Ngài lên chín tuổi, mẹ mất; bởi thế, cũng có thể coi Ngài là một cô nhi. Năm mười lăm tuổi, Ngài có ý niệm xuất gia, nhưng cha vẫn còn sống. Thiền sư Trung Phong rất hiếu thuận, dẫu có ý niệm xuất gia, nhưng cha không đồng ý, bèn chẳng thể tùy tiện xuất gia. Dù tại gia, nhưng trong nhà có Phật đường, Ngài ở nhà lễ Phật nhưng lại đốt tay, “lễ Phật nhiên tý” – “nhiên tý” (然臂) là đốt hương trên cánh tay, tại gia cư sĩ thọ Bồ Tát giới đều đốt hương trên cánh tay, người xuất gia đốt trên đầu – “thệ trì ngũ giới”(thề giữ ngũ giới). Mỗi ngày niệm kinh Pháp Hoa, kinh Viên Giác, kinh Kim Cang. Suốt mười mấy năm ngày đêm tinh tấn, tối cũng chẳng nghỉ ngơi, “dạ tắc thường hành” (đêm thường đi kinh hành). Hễ mệt bèn dộng đầu vào cột để tự răn nhắc mình. Chúng ta nghĩ thử xem, từ cổ đến nay, những người thực sự biết dũng mãnh tinh tấn chẳng nhiều. Chúng ta thấy thiền sư Trung Phong trước khi xuất gia, hành trì suốt mười mấy năm như thế, chẳng phải là thị hiện cho chúng ta thấy hay sao? Làm gương cho hàng hậu học lẫn đại chúng đương thời. Chúng tôi hay nói “học vi nhân sư, hạnh vi thế phạm” (học làm thầy người, hạnh làm khuôn mẫu cho đời), Ngài làm gương, nêu khuôn mẫu cho đại chúng. Người học Phật chân chánh phải giống như vậy. Nhà Ngài ở gần núi Linh Động, Ngài thường lên đảnh núi tọa thiền. “Phủ quan” (đến tuổi đội mũ) – tức là năm hai mươi tuổi – “duyệt Truyền Đăng Lục” (là một bộ ngữ lục của Thiền Tông, một ngàn bảy trăm đoạn công án Thiền Tông được chép trong sách này). Sách này rất dày, toàn là những câu chuyện về những sự tu hành, khai ngộ, chứng quả trong nhà Thiền. Trong quá khứ đã từng có người viết thư, người này tham Thiền, [chuyện này có ghi trong] Ấn Quang Văn Sao thiên nào tôi không nhớ. Khi tôi mới học Phật, lúc còn chưa xuất gia, xem sách tại thảo am của pháp sư Sám Vân ở Phố Lý, đọc Ấn Quang Văn Sao. Đấy là công khóa đầu tiên pháp sư Sám Vân buộc tôi phải đọc. Tôi sống ở trên núi ấy năm tháng rưỡi, những sách tôi đọc là A Di Đà Kinh Sớ Sao, A Di Đà Kinh Viên Trung Sao, A Di Đà Kinh Yếu Giải. Pháp sư Sám Vân dạy tôi phải nỗ lực đọc thật kỹ ba bộ sách ấy, đã thế lại còn phải lập đồ biểu phân khoa những cuốn sách ấy4 . Ngoài ra là xem Ấn Quang Văn Sao. Tôi nhớ có một người gởi thư cho Ấn Quang đại sư, nói một ngàn bảy trăm đoạn công án ấy, ông ta đều tham ngộ thấu triệt phần lớn, nhưng vẫn còn có mấy điều ông ta chưa hiểu. Ấn Quang đại sư viết thư trả lời rất khéo. Sư nói: “Với một ngàn bảy trăm đoạn công án ấy, nếu hiểu rõ được một điều, ông sẽ hiểu toàn bộ; nếu còn một điều chưa hiểu rõ tức là ông chẳng hiểu toàn bộ”. Vị nhân giả ấy sau khi nhận được thư của Ấn Quang đại sư, giống như bị nước lạnh xối vào đầu, tỉnh ngay, bèn buông bỏ chẳng tham Thiền nữa, thật thà niệm Phật. Quý vị phải biết, từ xưa, các tổ sư đại đức thường dạy chúng ta: “Một ngộ, hết thảy ngộ”. Vẫn còn một sự chưa ngộ thì cái gì quý vị cũng chẳng ngộ cả! Ngàn vạn phần chớ tự nghĩ mình khai ngộ, như thế đúng là lầm đấy! Tổ Ấn Quang gõ gậy ngay vào đầu, chẳng đánh thức riêng mình ông ta mà chúng ta đều phải đề cao cảnh giác. Chúng ta khai ngộ rồi chưa? Chớ hề! Khai ngộ thực sự, cổ đức đã nói rất rõ: “Thông một kinh, hết thảy kinh đều thông”. Chúng ta đã thông một kinh hay chưa? Nếu thông rồi, hết thảy kinh bày trước mặt chúng ta sẽ đều chẳng có chướng ngại chi, như vậy mới là thông! Hết thảy pháp thế gian bày trước mặt quý vị chẳng chướng ngại gì. Pháp thế gian, xuất thế gian hoàn toàn thông rồi, thế mới gọi là “đại triệt, đại ngộ”, mới là đại khai viên giải, chẳng dễ dàng đâu! Trước kia, lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ rất cảm khái bảo tôi: “Từ thời Mạt Pháp trở đi, tức là từ nay trở đi, chúng sanh không có khả năng”; cho nên chúng tôi kết luận rằng: Chỉ có thật thà niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, chỉ có con đường này là ổn thỏa, thích đáng nhất, đáng tin cậy nhất. Ngài Trung Phong là thiền sư, đích thật là bậc đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh trong Tông Môn. Quý vị xem đó, Ngài dạy chúng ta niệm Phật, tam thời hệ niệm. Vào lúc ấy, có một vị xuất gia thấy Sư rất có thiên tư, vị xuất gia ấy hiệu là Minh Sơn. Nhìn vào danh hiệu ấy, chúng tôi cho rằng rất có thể Sư [Minh Sơn] là đồ đệ của hòa thượng Cao Phong, vì thuộc hàng chữ Minh. Minh Sơn đem ngài Trung Phong đến núi Thiên Mục ra mắt thầy, vị thầy ấy là thiền sư Cao Phong Diệu. Trong lịch sử Thiền Tông, hòa thượng Cao Phong cũng rất nổi tiếng, Ngài là quốc sư đời Nguyên. Môn giám của thiền sư Cao Phong rất cao, thực sự là một cao tăng hữu đạo (chúng tôi không nói “đắc đạo”, mà nói “hữu đạo” là điều hết thảy mọi người đều khẳng định), nhìn người rất giỏi. Vừa trông thấy chàng trai trẻ, Hòa Thượng đặc biệt hoan hỷ, đặc biệt hữu duyên, bèn ngay lập tức cho xuất gia. Trung Phong thiền sư thưa: “Cha con chẳng cho phép, con chẳng thể xuất gia”. Trong tâm Sư rất muốn xuất gia, nhưng cha vẫn còn, cha chẳng thuận cho xuất gia. Thiền sư Cao Phong bảo: “Ngươi quay về khéo bàn bạc cùng cha, hy vọng cha ngươi đồng ý cho ngươi xuất gia”. Đó là chuyện lúc ngài 20 tuổi.

Sau khi gặp được thiền sư Cao Phong, Ngài bèn tiếp nhận sự chỉ dạy của ngài Cao Phong. Bởi vậy, thành tựu của một cá nhân dù là pháp thế gian hay xuất gia gian đều chẳng có ngoại lệ, thầy dạy rất quan trọng! Gặp được một vị thầy thực sự cao minh chỉ dạy, quý vị tiến bộ rất nhanh! Có một ngày, Ngài niệm kinh Kim Cang, niệm đến câu “hà đảm Như Lai” (gánh vác Như Lai), niệm đến đó “hoảng nhiên khai giải”, thực sự là bỗng nhiên đại ngộ, đại ngộ chứ chưa triệt ngộ, nhưng có lợi cho Ngài rất nhiều. “Do thị nội ngoại điển tịch, giai đạt kỳ nghĩa thú” (Do vậy nội ngoại điển tịch5 đều nắm được ý nghĩa), đó là ngộ vậy. Nội điển là kinh Phật, ngoại điển là sách vở Nho Gia, Đạo Gia, bách gia chư tử; những kinh sách như vậy đều có thể thông đạt hết. Dẫu ngài Trung Phong đã ngộ nhập cảnh giới, nhưng rất khiêm hư, chẳng nghĩ mình khai ngộ. “Thời niên nhị thập hữu tứ”, năm ấy Ngài hai mươi bốn tuổi, “thật Chí Nguyên Bính Tuất tuế dã” (đúng vào năm Bính Tuất niên hiệu Chí Nguyên), năm Bính Tuất trong niên hiệu Chí Nguyên là năm 1286 Tây lịch. “Minh niên, tùng Cao Phong thế nhiễm ư Sư Tử Viện” (Năm sau, bắt đầu xuất gia với Cao Phong tại Sư Tử Viện). Sư Tử Viện là tên đạo tràng, chúng ta biết Ngài xuất gia năm hai mươi lăm tuổi. Tụng kinh Kim Cang giác ngộ vào năm hai mươi bốn tuổi, nội ngoại điển tịch không còn gì chướng ngại nữa. Trước kia, lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam dạy chúng tôi rằng “nội ngoại điển tịch là pháp thế gian, xuất thế gian”. Pháp xuất thế gian là kinh Phật, pháp thế gian là danh từ đương thời để chỉ các tác phẩm Nho, Đạo, bách gia chư tử của Trung Quốc. Ngài không gặp chướng ngại gì [khi đọc các điển tịch] năm hai mươi bốn tuổi, không phải là mê tín! Thực sự có học vấn. Năm sau xuất gia, lạy Cao Phong Diệu Thiền Sư làm thầy. Năm hai mươi sáu tuổi thọ giới. Năm hai mươi bảy tuổi, truyện ký có đoạn ghi “quán lưu tuyền hữu tỉnh” (thấy suối chảy có tỉnh), “tỉnh” đây là giác ngộ. Phía Đông núi Thiên Mục rất nhiều suối, lại còn có thác. Ngài nhìn thác nước, nước chảy xiết bèn giác ngộ, cầu thầy ấn chứng. Thiền sư Cao Phong Diệu là bậc thực sự khai ngộ, minh tâm kiến tánh, Ngài đến dẫn dụ, chỉ dạy, giúp đỡ học trò mình. Nói thật ra, ngài Trung Phong còn trong giai đoạn sắp ngộ, chưa ngộ, chúng ta biết khi ấy Sư hai mươi bảy tuổi. Chính vào lúc ấy, “dân gian ngoa truyền” (ngoa truyền tức là chẳng phải thật, là đồn thổi, nay ta gọi “ngoa truyền” là đồn đại), đồn đại điều gì? “Quan tuyển đồng nam nữ” (Quan lại phải tuyển đồng nam, đồng nữ), tức là quan phủ phải tuyển bé trai, bé gái. Việc ấy chẳng thật, chỉ là lời đồn. Trung Phong bèn đến hỏi thầy, Ngài nói: “Hốt hữu nhân lai vấn hòa thượng, thảo đồng nam nữ thời, như hà” (Nếu như chợt có người đến hỏi Hòa Thượng đòi đồng nam, đồng nữ, thì sao?): Thưa thầy, bên ngoài họ đồn có người đến hỏi thầy bắt đồng nam đồng nữ, thì thầy làm sao? Cao Phong Diệu Thiền Sư bèn nói: “Ta đưa cho người ấy một cái trúc tỵ”. Tôi từng thấy cái trúc tỵ (竹篦),hiện thời rất hiếm thấy. Nó là cái lược chải đầu bằng trúc, nhưng răng dày hơn lược thường, răng rất khít, trước kia dùng để gỡ đầu (người Việt gọi là “lược bí”). Vào thời Dân Quốc kháng chiến, nó rất phổ biến tại nông thôn và những thành phố nhỏ, bây giờ không thấy nữa. Hiện thời, phần lớn lược làm bằng chất nhựa hóa học đúc, không thấy loại trúc tỵ ấy nữa. Nó là vật dụng dùng để chải gỡ nam nữ đều dùng, đàn bà dùng nhiều nhất. Sư nói: Nếu có ai đến hỏi tôi đòi đồng nam, đồng nữ, tôi bèn cho nó [cái trúc tỵ] như vậy đó! “Sư ngôn hạ đỗng nhiên” (Sư nghe nói xong, bèn rỗng rang): Trung Phong thiền sư nghe câu nói ấy, bèn bỗng nhiên đại ngộ, “triệt pháp nguyên để” (thấu triệt nguồn đáy pháp). Đó là đại triệt, đại ngộ. Bây giờ chúng ta đọc đến đoạn này có ngộ chút nào không? Đừng nói là đại ngộ, ngay đến tiểu ngộ cũng không có, giống như câu hỏi không được đáp, đấy chính là phương tiện thiện xảo dạy dỗ của thầy, người khác nghe chẳng hiểu; có thể nói là “chạm đúng Thiền cơ, đả thông huyệt đạo”. Câu “thấu triệt nguồn đáy pháp” này rất phi thường. Từ đây, ta biết Sư khai ngộ năm hai mươi bảy tuổi, khai ngộ rồi không ai biết, chỉ có thầy Ngài biết, người khác không biết. Bởi thế, “lục trầm chúng trung, nhân vô sở tri” (chìm khuất trong chúng, không ai biết). Mọi người cùng chấp tác trong đạo tràng ấy không ai biết Ngài đã khai ngộ.

Tiếp đấy, khi đó “Cao Phong thư chân tán phó Sư” (Cao Phong viết bài tán trao cho Sư): Thiền sư Cao Phong là thầy Ngài, viết cho Trung Phong mấy câu. Bốn câu ấy cũng thuộc Thiền cơ, nay chúng ta đọc cũng chẳng hiểu. Ngài nói: “Ngã tướng bất tư nghị, Phật tổ mạc năng thị, độc hứa bất tiếu nhi, kiến đắc bán biên tỵ” (tạm dịch: “Ngã tướng chẳng nghĩ bàn, Phật, tổ chớ coi thường, riêng cho đứa con tệ, được thấy nửa bên mũi”). Đây là lời thầy Ngài viết, khen ngợi chỗ ngộ của Ngài, Ngài ngộ gì chúng ta không biết. Chúng tôi đọc bốn câu kệ này của sư Cao Phong, chúng tôi cũng không cách gì hiểu được. Đúng là rốt cuộc quý vị ngộ nhưng vẫn chẳng ngộ. Nếu lúc ngộ thì sẽ hiểu từng câu, từng chữ rành rẽ, nói với người chưa ngộ cũng vô dụng. Bài kệ trên hoàn toàn giống với một ngàn bảy trăm đoạn công án. Sau này có những người tham học đến thỉnh giáo ngài Cao Phong, Cao Phong thiền sư bảo bọn họ: “Các ông có câu hỏi gì cứ đi hỏi ổng. Ông ta pháp hiệu là Minh Bổn. Các ông qua mà hỏi ổng”. Cứ như thế, dần dần mọi người biết Trung Phong thiền sư thực sự có năng lực chỉ dạy đại chúng. Chúng ta biết chắc chắn Sư mới hai mươi bảy tuổi, tuổi tác chẳng lớn lắm. Đương thời có vị xuất gia, “Hoài tăng Tử Chứng”,Hoài (淮) là tên đất, Tăng là người xuất gia, Tử Chứng là pháp hiệu, “thường vấn Cao Phong chư đệ tử ưu liệt” (thường hỏi Cao Phong về các đệ tử giỏi hay dở). Đại khái, chúng tôi cho rằng vị này là người ngang vai vế với ngài thiền sư Cao Phong Diệu. Có một lần, vị này hỏi Hòa Thượng: “Trong đám đệ tử ông có ai ưu tú, thực sự khế nhập cảnh giới, có kiến địa chăng?” Ngài Cao Phong nói:“Nhược sơ viện chủ đẳng” (trước hết kể từ hàng viện chủ), ý nói toàn bộ đại chúng trong chùa, “nhất bán tri giải, bất đạo toàn vô” (kẻ biết một phần, hiểu một nửa, chẳng thể nói là hoàn toàn không có ai), số người biết một phần hiểu một nửa khá nhiều, Sư nêu tên mấy vị, rồi mới nhắc đến Minh Bổn, “duy Bổn Duy Na” (chỉ có thầy Duy Na Minh Bổn), đại khái khi ấy, ngài Trung Phong giữ chức Duy Na trong chùa, [nên gọi là] thầy Duy Na Minh Bổn.

Bài viết liên quan:

  • [Phim Hoạt Hình] Sự Tích Quán Thế Âm Bồ Tát (7 tập)
  • Khai Thị 4/8/2019 Đại Lễ Tế Tổ, Tưởng Nhớ Ân Đức Tổ Tiên & PH Tam Thời Hệ Niệm Tiêu Tai Cầu…
  • Phóng Viên Phỏng Vấn Pháp Sư Tịnh Không
  • Không sợ vọng niệm lúc niệm Phật, đừng quan tâm tạp niệm khởi lên, hãy chú ý Phật hiệu
  • Thời mạt pháp dâm tâm hừng thịnh, mọi người đều xúm nhau quảng bá dâm dục.KHAI THỊ..
  • Nghe như gió thổi bên tai, đọc mà tâm không ở một chỗ, làm sao có thể thành tựu
  • Trùng Ðính Tây Phương Công Cứ Dật Nhân Pháp Sư Biên Thuật
  • Thiệt thòi là phước (Hòa Thượng Tịnh Không)
  • [Phim Hoạt Hình] 10 Câu Chuyện Thời Phật Tại Thế (2 tập)
  • Trùng Ðính Tây Phương Công Cứ Dật Nhân
  • TĐ:219- Người có căn tánh bậc trung bậc hạ, phải buông xuống từng chút một
  • Dáng Vẻ Của Niệm Phật Tam Muội - Pháp Sư Tịnh Không

Từ khóa » Nhạc Sám Hối Tam Thời Hệ Niệm Mp3