Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2

Đừng nhầm với Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (trước 1967) hoặc Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Hanoi Pedagogical University 2
Địa chỉ
32 Nguyễn Văn Linh, Phường Xuân Hòa, Phú Thọ, Việt Nam
Thông tin
LoạiĐại học công lập
Khẩu hiệuCùng bạn kiến tạo tương lai - Together we create the feature
Thành lập
  • 11 tháng 10 năm 1950; 75 năm trước (1950-10-11)(Trường Sư phạm Cao cấp)
  • 14 tháng 8 năm 1967; 58 năm trước (1967-08-14)(Trường Đại học Sư phạm Hà Nội II hay Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2)
Mã trườngSP2
Hiệu trưởngPGS.TS Nguyễn Quang Huy
Nhân viên210
Giảng viên316
Khuôn viên13ha
Bài hátMái trường mến yêu ( https://www.hpu2.edu.vn/vi-VN/bai-hat-truyen-thong)
Websitewww.hpu2.edu.vn
Thông tin khác
Viết tắtHPU2 (Hanoi Pedagogical University 2)
Thành viên củaBộ Giáo dục và Đào tạo
Thành viênTrường THCS và THPT Sư phạm - HPU2S
Tổ chức và quản lý
Phó hiệu trưởngTS. Trịnh Đình Vinh

TS. Bùi Kiên Cường

TS. Cao Bá Cường
Thống kê
Sinh viên đại họckhoảng 8000
Nghiên cứu sinh50
Sinh viên cao học500
Xếp hạng quốc gia năm 2026: 26 Khối ngành sư phạm, giáo dục năm 2026: 2

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 (tên Tiếng Anh: Hanoi Pedagogical University 2 - viết tắt: ĐHSPHN2 hay HPU2) là trường đại học công lập được thành lập ngày 14 tháng 8 năm 1967 theo Quyết định số 128/CP của Hội đồng Chính phủ.[1] Trường trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, được xếp vào nhóm các trường đại học chủ chốt đào tạo giáo viên.[2] Trường có trụ sở chính tại tỉnh Phú Thọ (sau sáp nhập).

Trường đang đào tạo 23 ngành cử nhân, 18 chuyên ngành thạc sĩ và 06 chuyên ngành tiến sĩ ... Trải qua gần 60 năm xây dựng và phát triển, Trường đã đào tạo cho đất nước gần 70.000 giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, nhà khoa học. Nhiều cựu sinh viên của Trường đang giữ vai trò quan trọng của Đảng và Nhà nước, chính quyền, cán bộ lãnh đạo, quản lý của nhiều địa phương.

Hiện nay, với vai trò là trường đại học sư phạm chủ chốt của quốc gia, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đang có những đóng góp quan trọng trong công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo nước nhà và luôn là một trong các lá cờ đầu trong đào tạo, bồi dưỡng giáo viên của cả nước.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 được thành lập theo Quyết định số 128/CP, ngày 14/8/1967 của Hội đồng Chính phủ, trên cơ sở chia tách Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (trước 1967) thành 03 trường: Đại học Sư phạm Hà Nội I, Đại học Sư phạm Hà Nội II và Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội. Theo quyết định trên, Trường Đại học Sư pham Hà Nội 2 đảm nhiệm việc đào tạo giáo viên các môn khoa học tự nhiên. Trụ sở ban đầu được đặt ở Cầu Giấy (Lúc đó thuộc huyện Từ Liêm, Hà Nội).

Từ năm 1967, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 cùng với các trường đại học sư phạm khác đã đóng vai trò to lớn trong công tác đào tạo nguồn nhân lực cho ngành giáo dục cho Cuộc kháng chiên chống Mĩ của dân tộc.

Ngày 11/10/1975, Bộ trưởng Bộ Giáo dục ra Quyết định số 872/QĐ về việc cải tổ xây dựng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1 và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 để mỗi trường đều có các khoa đào tạo giáo viên cấp 3 xã hội và các khoa đào tạo giáo viên cấp 3 tự nhiên. Cũng theo quyết định này, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 chuyển lên Xuân Hoà, huyện Sóc Sơn, Vĩnh Phú (nay là Xuân Hòa, phường Xuân Hòa, Phú Thọ).

Sau quyết định cải tổ, xây dựng hai trường Đại học Sư phạm, Bộ trưởng Bộ Giáo dục đã điều động thầy Nguyễn Cảnh Toàn, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 sang làm Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1 và đồng thời cử thầy Nguyễn Ngọc Quang và thầy Nguyễn Đức Tú vào Ban phụ trách Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 tại Xuân Hòa, cụ thể:

- Thầy Nguyễn Ngọc Quang, Hiệu phó Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 làm Quyền Hiệu trưởng thay thầy Nguyễn Cảnh Toàn đi làm nhiệm vụ mới.

- Thầy Nguyễn Đức Tú, Phó Chủ nhiệm Khoa Hóa, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 làm Phó Ban phụ trách.

Đội ngũ cán bộ đầu tiên lên Xuân Hòa xây dựng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 gồm 16 nhà giáo do thầy Nguyễn Ngọc Quang làm Hiệu trưởng. Bên cạnh đó, có gần 30 cán bộ giảng dạy vừa mới tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1. Các thầy cô giáo trẻ đầy nhiệt huyết, khắc phục mọi khó khăn xây dựng trường trong những ngày đầu gian khó. Bốn khoa được thành lập sớm nhất là: Ngữ văn, Toán, Vật lý, Địa lý.

Giai đoạn 1975- 1985 là giai đoạn đầy thử thách nhưng cũng thật tự hào của mọi cán bộ và sinh viên. Trường đã xây dựng được đội ngũ cán bộ đông đảo và một hệ thống tương đối hoàn chỉnh các khoa, phòng, ban và đơn vị trực thuộc, đáp ứng toàn diện những lĩnh vực hoạt động của trường. Trường lúc này gồm các khoa: Ngữ Văn, Toán, Vật lý, Hoá, Địa lý, Sinh - KTNN, Tại chức, Quân sự. Trường đào tạo đại học các ngành: Ngữ Văn, Toán, Vật lý, Địa lý và Sinh-KTNN với 4 hệ đào tạo: hệ chính quy, hệ chuyên tu, hệ tại chức và hệ đào tạo chuẩn hoá chương trình đại học sư phạm bốn năm.

Trong giai đoạn 1986- 1995, hàng trăm cán bộ đã trưởng thành. Hàng ngàn sinh viên đã tốt nghiệp. Gần một ngàn giáo viên trung học phổ thông các tỉnh, thành phố được đào tạo đạt chuẩn trình độ đại học 4 năm. Hàng trăm cán bộ, công nhân viên các cơ quan, đơn vị đã đạt được bằng tốt nghiệp trung học bổ túc.

Trường mở hệ đào tạo giáo viên cốt cán cấp hai, giáo viên cốt cán Tiểu học và chuyên ngành sau đại học: Tâm lý học sư phạm và lứa tuổi; kiên trì xây dựng đội ngũ, từng bước mở rộng phạm vi tuyển sinh và hình thức đào tạo, giữ ổn định và tự khẳng định vươn lên.

Thời kì này, Trường có 470 cán bộ, công nhân viên, trong đó có 190 cán bộ giảng dạy. Cùng với các khoa hiện có, Trường mở Khoa Thiết bị dạy học, thành lập Bộ môn Tin học, Ban Quản lý ký túc xá, Ban Lao động sản xuất và Dịch vụ, Tổ Bảo vệ, Trường Trung học phổ thông Dân lập Châu Phong. Từ năm 1985, Trường mở các lớp đào tạo cử nhân khoa học: Giáo viên Vật lý - Thiết bị dạy học, Giáo viên cốt cán cấp 2 tại các tỉnh: Hà Bắc, Vĩnh Phú, các ngành Ngữ văn và Toán cho cán bộ của Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc ( nay là Trường Đại học Tây Bắc), các lớp đại học tại chức ở Thành phố Hải Phòng, Tỉnh Hà Nam Ninh và Tỉnh Hà Bắc. Thời gian này, Trường mở các ngành đào tạo cử nhân khoa học: Sinh - Hoá, Toán - Tin và Lý - KTCN.

Từ năm 1988, Trường đào tạo sau đại học chuyên ngành Tâm lý học sư phạm và lứa tuổi, Đến năm 1991 đào tạo cấp bằng Thạc sĩ khoa học cho chuyên ngành này; từ năm 1995, đào tạo cao học chuyên ngành Quản lý và tổ chức công tác văn hoá, giáo dục. Từ năm 1991, Trường đào tạo cử nhân khoa học hệ cử tuyển các ngành Toán - Lý, Sinh - Hoá. Từ năm 1992, Trường đào tạo cử nhân cao đẳng gồm 4 ngành: Văn - Sử, Toán - Tin, Toán Lý, Sinh - Hoá tại Tỉnh Ninh Bình và đầo tạo các lớp cao đẳng Văn - Sử, Văn - Địa, Toán Lý, Sinh - Kĩ thuật nông nghiệp cho tỉnh Vĩnh Phúc ( nay là Phú Thọ). Trong mười năm, số sinh viên đã tuyển gọi và đào tạo: hệ chính quy: 3000, hệ cử tuyển: 200, hệ chuyên tu: 1000, trong đó có 77 sinh viên của hai lớp cán bộ Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc, 57 sinh viên của hai lớp Vật lý - Thiết bị và 400 sinh viên của 6 khoá giáo viên cốt cán cấp 2 đào tạo tại Trường.

Giai đoạn 1996-nay, đây là giai đoạn Trường phát triển vững chắc, mở rộng quy mô, từng bước hiện đại hoá cơ sở vật chất, chuẩn hoá đội ngũ, là một trong các trường đại học sư phạm chủ chốt của cả nước.

Chất lượng đào tạo

[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ sở vật chất

[sửa | sửa mã nguồn]

Đất đai:

      Tổng diện tích đất của toàn trường là: 12,21 ha; được chia làm 3 khu: Khu A (khu làm việc, khu nhà ở tập thể, khu giảng đường); Khu B (khu KTX sinh viên); Khu C (khu TT GDQP Hà Nội 2).[3]

      Tổng diện tích sàn xây dựng: 47.179 m2 (Hội trường, giảng đường, phòng học: 7.731 m2; Thư viện, trung tâm học liệu: 638 m2; Phòng thí nghiệm, phòng thực hành, nhà xưởng: 1.762 m2; Nhà tập đa năng: 1.044 m2; Nhà ở KTX sinh viên: 6.352 m2; Nhà ở cán bộ: 4.226 m2; Sân vận động: 4.003 m2; Diện tích khác: 21.423 m2).[4]

Nhà điều hành (Khởi công năm 2017)

Công trình đang phục vụ làm việc, giảng dạy, học tập cho cán bộ, giảng viên và sinh viên:[5]

  •       Khu Hiệu bộ: Nhà A2.
  •       Khu nhà ở tập thể cán bộ 5 tầng: Nhà số 2,3,5,6,7,10
  •       Khu giảng đường: Giảng đường A,B,C,D,E, Giảng đường chuyên dùng,   Nhà A4.
  •       Khu B: KTX 5 tầng số 1,2,3,4; Viện Nghiên cứu sư phạm; Sân vận động; Nhà thi đấu đa năng.
  •       Khu TTGDQP Hà Nội 2: Nhà ở giáo viên, Nhà ăn 2 tầng, KTX 4 tầng số 1, 2,3; Nhà học.

Đội ngũ giảng viên

[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 hiện có 526 viên chức, người lao động (316 giảng viên). Trong đó có:25 Phó Giáo sư , 189 tiến sĩ, 225 thạc sĩ.[6]

Cơ cấu tổ chức

[sửa | sửa mã nguồn]

Hội đồng trường và ban giám hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]

Hội đồng trường:

1 PGS, TS Phùng Gia Thế Chủ tịch Hội đồng Trường
2 PGS, TS Nguyễn Quang Huy Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng
3 TS Bùi Kiên Cường Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng
4 TS Cao Bá Cường Phó Hiệu trưởng
5 PGS, TS Nguyễn Đăng Điệp Viện trưởng Viện Văn học
6 PGS, TS Bùi Minh Đức Trưởng khoa Ngữ văn
7 TS Nguyễn Văn Dũng Trưởng khoa Lịch sử
8 ThS Phạm Khương Duy Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Vĩnh Phúc
9 ThS Nguyễn Ngọc Hà Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Thái Bình
10 TS Phạm Đức Hiếu Giám đốc Trung tâm Khảo thí & ĐBCLGD
11 ThS Nguyễn Huy Hưng Trưởng phòng Tổ chức - Hành chính, Thư ký Hội đồng
12 PGS, TS Nguyễn Thu Hương Trưởng khoa Giáo dục Mầm non
13 GS, TS Lê Thị Thanh Nhàn Vụ trưởng Vụ Giáo dục dân tộc, Bộ Giáo dục và Đào tạo
14 PGS, TS Nguyễn Văn Thụ Trưởng phòng Đào tạo
15 SV. Đoàn Bá Tráng UV BTV Đoàn trường, Chủ tịch Hội Sinh viên
16 TS Hoàng Ngọc Tuấn Trưởng phòng Khoa học Công nghệ và HTQT
17 Trung tá Đỗ Thanh Tuấn Giám đốc Chi nhánh Viettel Yên Bái
18 PGS,TS Nguyễn Văn Tùng Phó Tổng biên tập NXB Giáo dục Việt Nam
19 TS Trịnh Đình Vinh Phó Hiệu trưởng

Ban giám hiệu:

  • PGS.TS Nguyễn Quang Huy - Hiệu trưởng.
  • TS Bùi Kiên Cường - Phó Hiệu trưởng.
  • TS Cao Bá Cường - Phó Hiệu trưởng.
  • TS Trịnh Đình Vinh - Phó Hiệu trưởng.

Các phòng chức năng

[sửa | sửa mã nguồn]

Các phòng ban có chức năng tham mưu, giúp việc cho Hiệu trưởng trong công tác quản lý hành chính, bao gồm:

  • Phòng Đào tạo: Quản lý công tác tuyển sinh, kế hoạch đào tạo, cấp phát văn bằng chứng chỉ cho các hệ Đại học và Sau đại học.
  • Phòng Tổ chức - Cán bộ: Tham mưu về công tác nhân sự, chế độ chính sách cho cán bộ, giảng viên.
  • Phòng Công tác chính trị - Học sinh sinh viên: Quản lý công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; thực hiện các chế độ chính sách cho sinh viên (học bổng, miễn giảm học phí).
  • Phòng Khoa học Công nghệ và Hợp tác Quốc tế: Quản lý đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, tạp chí khoa học và các dự án hợp tác với đối tác nước ngoài.
  • Phòng Kế hoạch - Tài chính: Quản lý tài chính, kế toán và tài sản công.
  • Phòng Hành chính - Tổng hợp: Đảm bảo công tác văn thư, lưu trữ, lễ tân và tổng hợp báo cáo.
  • Phòng Quản trị - Đời sống: Quản lý cơ sở vật chất, điện nước, vệ sinh môi trường và ký túc xá.
  • Phòng Thanh tra - Pháp chế: Thực hiện công tác thanh tra nội bộ và tư vấn pháp lý.
  • Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng giáo dục: Tổ chức thi, kiểm tra đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục.

Các khoa đào tạo

[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay trường có 13 Khoa, 01 Viện, 01 Trung tâm đào tạo đại học và sau đại học và 01 trường THCS và THPT Sư phạm bao gồm:

  • Khoa Toán - Website: https://maths.hpu2.edu.vn
  • Khoa Ngữ văn - Website: https://philology.hpu2.edu.vn
  • Khoa Lịch sử - Website: https://history.hpu2.edu.vn
  • Khoa Vật lý - Website: https://physics.hpu2.edu.vn.
  • Khoa Sinh học; Website: https://biology.hpu2.edu.vn
  • Khoa Giáo dục Tiểu học - Website: https://primedu.hpu2.edu.vn
  • Khoa Giáo dục Mầm non - Website: https://presedu.hpu2.edu.vn.
  • Khoa Hóa học - Website: https://chemistry.hpu2.edu.vn
  • Khoa Giáo dục Chính trị - Website: https://politics.hpu2.edu.vn
  • Viện Công nghệ thông tin - Website: https://iit.hpu2.edu.vn
  • Khoa Tiếng Anh - Website: https://english.hpu2.edu.vn
  • Khoa Khoa học Thể dục Thể thao - Website: https://phyedu.hpu2.edu.vn
  • Trung tâm GDQP&AN - Website: https://cdst.hpu2.edu.vn
  • Khoa Tiếng Trung Quốc - Website: https://chinese.hpu2.edu.vn

Các Viện, Trung tâm và Đơn vị trực thuộc khác

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Trường THCS và THPT Sư phạm - Website: https://sp.hpu2.edu.vn/
  • Viện Nghiên cứu Khoa học và Ứng dụng: Triển khai các đề tài nghiên cứu chuyên sâu và ứng dụng chuyển giao công nghệ.
  • Trung tâm Thông tin - Thư viện: Cung cấp tài liệu, giáo trình, phòng đọc và cơ sở dữ liệu số phục vụ giảng dạy, học tập.
  • Trung tâm Ngoại ngữ - Tin học: Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và thi cấp chứng chỉ ngoại ngữ, tin học theo chuẩn quốc gia và quốc tế.
  • Trạm Y tế: Chăm sóc sức khỏe ban đầu cho cán bộ và sinh viên.

Các tổ chức đoàn thể

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Đảng bộ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
  • Công đoàn trường.
  • Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
  • Hội Sinh viên Việt Nam.
  • Hội Cựu chiến binh.

Đào tạo

[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 là cơ sở đào tạo đa ngành, trong đó trọng điểm là đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục. Hệ thống đào tạo của trường bao gồm các bậc từ đại học đến sau đại học (Thạc sĩ, Tiến sĩ) với đa dạng các hình thức đào tạo.

Đại học chính quy

[sửa | sửa mã nguồn]

Trường hiện đào tạo các ngành cử nhân thuộc hai nhóm chính: nhóm ngành đào tạo giáo viên (sư phạm) và nhóm ngành ngoài sư phạm (cử nhân khoa học, kỹ thuật, xã hội).

  • Nhóm ngành Đào tạo Giáo viên:
    • Sư phạm Toán học
    • Sư phạm Ngữ văn
    • Sư phạm Tiếng Anh
    • Sư phạm Vật lý
    • Sư phạm Hóa học
    • Sư phạm Sinh học
    • Sư phạm Tin học
    • Sư phạm Lịch sử
    • Sư phạm Địa lý (mới)
    • Sư phạm Lịch sử - Địa lý (tích hợp)
    • Sư phạm Khoa học Tự nhiên (tích hợp)
    • Sư phạm Công nghệ
    • Giáo dục Tiểu học
    • Giáo dục Mầm non
    • Giáo dục Công dân
    • Giáo dục Thể chất
    • Giáo dục Quốc phòng và An ninh
  • Nhóm ngành Ngoài sư phạm:
    • Ngôn ngữ Anh
    • Ngôn ngữ Trung Quốc
    • Công nghệ thông tin
    • Việt Nam học
    • Tâm lý học giáo dục
    • Công nghệ sinh học
    • Khoa học vật liệu
    • Toán ứng dụng
    • Kỹ thuật hóa học
    • Quản lý thể dục thể thao
    • Giáo dục học (mới)

Sau đại học

[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đào tạo trình độ Thạc sĩ và Tiến sĩ ở nhiều lĩnh vực khoa học cơ bản và khoa học giáo dục.

  • Đào tạo Thạc sĩ: Bao gồm các chuyên ngành Toán học (Toán giải tích, Đại số và Lý thuyết số, Hình học và Tô pô, Toán ứng dụng, Lý luận và PPDH bộ môn Toán), Vật lý, Hóa học, Sinh học, Văn học, Lịch sử, Địa lý, Quản lý giáo dục và Giáo dục học (Tiểu học, Mầm non).
  • Đào tạo Tiến sĩ: Tập trung vào các chuyên ngành mũi nhọn như Toán giải tích, Toán ứng dụng, Vật lý chất rắn, Sinh lý học thực vật, Quản lý giáo dục.

Các hệ đào tạo khác

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài hệ chính quy tập trung, nhà trường còn tổ chức các hình thức đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời và nâng chuẩn trình độ giáo viên:

  • Hệ Vừa làm vừa học (VLVH): Dành cho các đối tượng đã đi làm, tổ chức đào tạo tại trường hoặc tại các cơ sở liên kết ở địa phương.
  • Liên thông: Đào tạo liên thông từ trình độ Cao đẳng lên Đại học đối với các ngành Giáo dục Mầm non, Giáo dục Tiểu học và Sư phạm Tiếng Anh.
  • Văn bằng 2: Đào tạo văn bằng đại học thứ hai cho người đã có một bằng đại học.

Kỳ thi độc lập

[sửa | sửa mã nguồn]

Được tổ chức lần đầu vào năm 2025, kỳ thi SP2E là kỳ thi độc lập do Trường ĐHSP Hà Nội 2 tổ chức nhằm phục vụ tuyển sinh đại học chính quy, bám sát Chương trình GDPT 2018 và định hướng đánh giá năng lực người học. Đối tượng dự thi là học sinh lớp 12, người đã tốt nghiệp THPT trong và ngoài nước (được công nhận tương đương).[7]

Năm 2026, kỳ thi diễn ra trong 2 ngày 16–17/5/2026 (dự phòng 18/5/2026) tại Trường ĐHSP Hà Nội 2. Các môn thi gồm Ngữ văn, Toán, Tiếng Anh, Lịch sử, Địa lí, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Giáo dục kinh tế và pháp luật; trong đó Ngữ văn thi trắc nghiệm kết hợp tự luận, các môn còn lại thi trắc nghiệm (trên máy tính hoặc trên giấy tùy môn).[8]

Kết quả thi được sử dụng để xét tuyển vào các ngành đại học của Trường ĐHSP Hà Nội 2 và có thể được các cơ sở đào tạo khác công nhận nếu có nhu cầu. Kỳ thi góp phần đa dạng hóa phương thức tuyển sinh, nâng cao chất lượng đầu vào và tăng cơ hội lựa chọn cho thí sinh[9]

Hợp tác đào tạo

[sửa | sửa mã nguồn]

Hợp tác trong nước

[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà trường thiết lập mạng lưới hợp tác chặt chẽ với các Sở Giáo dục và Đào tạo, các trường phổ thông và các cơ sở giáo dục đại học khác trên cả nước:[10]

  • Mạng lưới các trường sư phạm: Là thành viên tích cực trong hệ thống các trường đại học sư phạm chủ chốt, tham gia xây dựng chương trình, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục theo các chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo (như chương trình ETEP).
  • Hợp tác với địa phương: Ký kết các thỏa thuận hợp tác toàn diện với các tỉnh, thành phố trong việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao và đặt hàng đào tạo giáo viên theo Nghị định 116 của Chính phủ.
  • Hợp tác với Viện nghiên cứu: Duy trì mối quan hệ hợp tác chuyên môn với các viện nghiên cứu đầu ngành như Viện Toán học, Viện Vật lý, Viện Hóa học (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) và Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM) để phối hợp tổ chức các hội thảo khoa học và hướng dẫn nghiên cứu sinh.
  • Mạng lưới thực tập sư phạm: Hợp tác với hàng trăm trường mầm non, tiểu học, THCS và THPT để xây dựng cơ sở thực tập, rèn luyện nghiệp vụ cho sinh viên.

Hợp tác quốc tế

[sửa | sửa mã nguồn]

Hoạt động hợp tác quốc tế được đẩy mạnh nhằm hội nhập giáo dục và trao đổi học thuật. Đối tác chính của trường bao gồm các trường đại học và tổ chức giáo dục đến từ:[11]

  • Khu vực Châu Á: Hợp tác sâu rộng với các trường đại học tại Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan... trong việc trao đổi sinh viên, giảng viên và đào tạo ngôn ngữ (đặc biệt là ngành Ngôn ngữ Trung Quốc và Tiếng Việt cho người nước ngoài).
  • Khu vực Âu - Mỹ: Thiết lập quan hệ với một số đại học và tổ chức tại Hoa Kỳ, Đức, Nga... thông qua các dự án nghiên cứu chung, các chương trình học bổng ngắn hạn và trao đổi học thuật trong các lĩnh vực Toán học, Vật lý và Giáo dục học.
  • Chương trình trao đổi: Triển khai các chương trình liên kết đào tạo, công nhận tín chỉ và trao đổi sinh viên quốc tế, tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận môi trường giáo dục tiên tiến.

Hợp tác doanh nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

Đối với khối ngành ngoài sư phạm (như Công nghệ thông tin, Ngôn ngữ Anh, Ngôn ngữ Trung Quốc), nhà trường hợp tác với các doanh nghiệp, tập đoàn và các khu công nghiệp để:[12]

  • Xây dựng chương trình đào tạo sát với thực tế.
  • Tổ chức các đợt thực tập, kiến tập tại doanh nghiệp.
  • Giới thiệu việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp.

Các Hiệu trưởng qua từng thời kỳ

[sửa | sửa mã nguồn]
# Họ tên Học hàm, học vị Nhiệm kì
1 Nguyễn Cảnh Toàn GS.VS.TSKH 1967-1975
2 Nguyễn Ngọc Quang GS.TS 1975-1981
3 Nguyễn Duy Bình PGS 1981-1985
4 Vũ Quỳnh (Quyền Hiệu trưởng) 1985-1987
5 Lê Khanh PGS.TS 1987-1992
6 Thành Thế Thái Bình PGS 1992-1996
7 Nguyễn Huy Lợi PGS. TS. 1996-2006
8 Nguyễn Văn Mã PGS.TS. GVCC 2006-2011
9 Nguyễn Văn Tuyến TS 2011-2016
10 Nguyễn Quang Huy PGS. TS. 2017- nay

Sứ mạng

[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 là cơ sở giáo dục đại học chủ chốt quốc gia trong lĩnh vực giáo dục và sư phạm, đào tạo nguồn nhân lực đa ngành chất lượng cao, có năng lực khởi nghiệp; cung cấp các giải pháp đổi mới sáng tạo phục vụ tăng trưởng và phụng sự tiến bộ xã hội.[13]

Tầm nhìn

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2045, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 là cơ sở giáo dục đại học định hướng đổi mới sáng tạo đa ngành, đa lĩnh vực có uy tín trong khu vực Đông Nam Á và Châu Á, đóng góp hiệu quả vào sự phát triển bền vững của đất nước.[14]

Thành tích

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Từ khi thành lập tới nay, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 tặng thưởng 5 Huân chương cao quý bao gồm:
  • Năm 1986 Trường được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba
  • Năm 1995 nhân dịp kỉ niệm 20 năm đào tạo tại Xuân Hoà, Trường được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhì.
  • Ngày 17 tháng 11 năm 2007 vào dịp kỷ niệm 40 năm thành lập trường, 32 năm đào tạo tại Xuân Hoà, Trường vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất.[15]
  • Năm 2012 nhân kỷ niệm 45 năm thành lập Trường, Chủ tịch nước đã trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba cho Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
  • Khoa Ngữ Văn được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba vào năm 2012.
  • Khoa Hóa học được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba vào năm 2014.
  • Khoa Toán học được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba vào năm 2015.
  • Khoa Vật lí được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba vào năm 2018.
  • Thành đoàn nhà trường được Chủ tịch nước tặng Huân Chương Lao Động Hạng Ba cho tập thể đã có thành tích xuất sắc trong công tác giáo dục và đào tạo từ năm học 2013-2014 đến năm học 2017-2018, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
  • Ngoài ra nhiều cán bộ của Trường cũng được Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố tặng nhiều Bằng khen. Nhiều đơn vị được công nhận "Tập thể lao động xuất sắc". Nhiều cán bộ được trao tặng danh hiệu "Chiến sĩ thi đua cấp Bộ" và "Giảng viên giỏi cấp Bộ".
  • Năm 2024, theo Bảng xếp hạng Đại học Việt Nam (VNUR – Viet Nam’s University Rankings), Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đứng thứ 45 trong tổng số 193 cơ sở giáo dục đại học có đủ dữ liệu được đưa vào xếp hạng chính thức. Trong khối các đại học, trường đại học và học viện đào tạo Sư phạm, Giáo dục . Trường xếp vị trí thứ 3, sau Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (hạng 1) và Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (hạng 2).
  • Năm 2025, theo Bảng xếp hạng Đại học Việt Nam (VNUR – Viet Nam’s University Rankings) , Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đứng thứ 16 trong tổng số 193 cơ sở giáo dục đại học có đủ dữ liệu được đưa vào xếp hạng chính thức. Trong khối các đại học, trường đại học và học viện đào tạo Sư phạm, Giáo dục. Trường xếp vị trí thứ 2, sau Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (hạng 1) và trên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (hạng 3).
  • Năm 2025, nhân kỷ niệm 58 năm thành lập Trường, 50 năm đào tạo tại Xuân Hòa, Chủ tịch nước đã trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba lần thứ 2 cho Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
  • Năm 2026, theo Bảng xếp hạng Đại học Việt Nam (VNUR – Viet Nam’s University Rankings), Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đứng thứ 26 trong tổng số 193 cơ sở giáo dục đại học có đủ dữ liệu được đưa vào xếp hạng chính thức. Trong khối các đại học, trường đại học và học viện đào tạo Sư phạm, Giáo dục. Trường xếp vị trí thứ 2, sau Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (hạng 1) và trên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (hạng 3).

Những cựu sinh viên nổi bật

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Hà Thị Nga: Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc (MTTQ).
  • Đỗ Thị Kim Liên (thường được gọi là Madam Liên, Shark Liên): là một nữ doanh nhân và là Lãnh sự Danh dự nước Cộng hoà Nam Phi tại Việt Nam.
  • Nguyễn Văn Tuấn: Cựu SV khoá 1, nguyên giảng viên Bộ môn Ngôn ngữ, nguyên Tổng Cục trưởng Tổng Cục Du lịch Việt Nam.
  • PGS.TS Ngô Văn Giá: Cựu SV Khóa 2, nguyên Trưởng Khoa Viết văn - Báo chí, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội.
  • NGƯT. Lê Văn Quý: Cựu sinh viên Khóa 11 Khoa Vật lý, Nguyên Phó Chủ tịch tỉnh Điện Biên, Nguyên Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. Bảng xếp hạng webometric
  2. https://giaoduc.net.vn/truong-dhsp-ha-noi-2-dung-thu-16-trong-top-100-tai-bang-xep-hang-dh-vn-nam-2025-post248551.gd
  3. VNUR.VN - Bảng xếp hạng Đại học Việt Nam
  4. https://hpu2.edu.vn/

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Quyết định số 128/CP ngày 14/08/1967 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng
  2. ^ "Dự kiến có 30 đại học trọng điểm ở Việt Nam". VnExpress. ngày 15 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2026.
  3. ^ "Giới thiệu Phòng Quản lý Cơ sở vật chất". Cổng thông tin điện tử trường Đại học sư phạm Hà Nội 2. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2026.
  4. ^ "Giới thiệu Phòng Quản lý Cơ sở vật chất". Cổng thông tin điện tử trường Đại học sư phạm Hà Nội 2. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2026.
  5. ^ "Giới thiệu Phòng Quản lý Cơ sở vật chất". Cổng thông tin điện tử trường Đại học sư phạm Hà Nội 2. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2026.
  6. ^ "Đội ngũ và Đơn vị thuộc Trường". Cổng thông tin điện tử trường Đại học sư phạm Hà Nội 2. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2026.
  7. ^ "V30.01.2026_De an Ky thi doc lap (SP2E).pdf". Google Docs. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2026.
  8. ^ "V30.01.2026_De an Ky thi doc lap (SP2E).pdf". Google Docs. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2026.
  9. ^ "V30.01.2026_De an Ky thi doc lap (SP2E).pdf". Google Docs. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2026.
  10. ^ "Lịch công tác". Cổng thông tin điện tử trường Đại học sư phạm Hà Nội 2. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2026.
  11. ^ "Lịch công tác". Cổng thông tin điện tử trường Đại học sư phạm Hà Nội 2. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2026.
  12. ^ "Lịch công tác". Cổng thông tin điện tử trường Đại học sư phạm Hà Nội 2. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2026.
  13. ^ "Trang chủ". Cổng thông tin điện tử trường Đại học sư phạm Hà Nội 2. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2026.
  14. ^ "Trang chủ". Cổng thông tin điện tử trường Đại học sư phạm Hà Nội 2. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2026.
  15. ^ "Lễ đón nhận Huân chương lao động hạng Nhất". Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2008.

Từ khóa » đh Sư Phạm Hà Nội 2 ở đâu