Từ điển Tiếng Việt "công điền Công Thổ" - Là Gì?

Từ điển tổng hợp online Từ điển Tiếng Việt"công điền công thổ" là gì? Anh-Việt Việt-Anh Nga-Việt Việt-Nga Lào-Việt Việt-Lào Trung-Việt Việt-Trung Pháp-Việt Việt-Pháp Hàn-Việt Nhật-Việt Italia-Việt Séc-Việt Tây Ban Nha-Việt Bồ Đào Nha-Việt Đức-Việt Na Uy-Việt Khmer-Việt Việt-Khmer Việt-Việt Tìm

công điền công thổ

ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà nước thời phong kiến do các làng xã quản lí và định kì phân chia cho các tầng lớp nhân dân trong xã sử dụng. Về danh nghĩa, toàn bộ ruộng đất trong nước thuộc quyền sở hữu của nhà nước phong kiến trung ương tập quyền mà đại diện tối cao là nhà vua. Nhà vua lấy ruộng đất đó phong cấp cho công hầu, quan lại, nhà chùa..., một phần khác giao cho các làng, xã. Ruộng đất ở làng xã với danh nghĩa là ruộng đất của nhà nước chiếm một phần lớn diện tích ruộng đất trong toàn quốc, được đem phân phối cho dân trong làng xã và phải nộp tô thuế cho chính quyền phong kiến trung ương. Chế độ CĐCT ở Việt Nam có lịch sử lâu dài từ thời cổ đại, tồn tại trong các chế độ phong kiến và ở một mức độ nhất định dưới thời Pháp thuộc. Nhà nước phong kiến đặt ra những hình phạt nghiêm khắc trừng trị những người vi phạm CĐCT. Điều 342, Bộ Quốc triều hình luật quy định: "Bán ruộng đất của công cấp cho hay bán ruộng đất khẩu phần thì xử trượng", "biếm" hai tư (chê trách, giáng chức ở các mức độ khác nhau) và điều 343 quy định: "chiếm ruộng công quá số hạn định thì bị phạt 80 trượng...". Ở vùng đồng bằng, chế độ CĐCT của làng xã vẫn tồn tại phổ biến cho đến sau khi cải cách ruộng đất. Ở miền núi, cho đến trước Cách mạng tháng Tám, nhiều vùng dân tộc thiểu số vẫn chưa biết đến ruộng đất tư hữu. Về danh nghĩa, ruộng đất CĐCT được nhà nước bảo hộ, quy định thời gian sử dụng (từ 3 năm đến 6 năm), cấm bán nhượng. Tuy nhiên, trong lịch sử, tư hữu hoá đã trở thành xu thế chung đối với loại ruộng đất này, được pháp luật nhà nước thừa nhận trên thực tế. Sở hữu ruộng đất tư nhân, nhất là của giai cấp địa chủ phong kiến, ngày càng lấn vào ruộng đất công của làng xã và của nhà nước. Năm 1852, trong 31 tỉnh của toàn quốc, chỉ có ở hai tỉnh Thừa Thiên, Quảng Trị ruộng công nhiều hơn ruộng tư, ở tỉnh Quảng Bình ruộng công và tư bằng nhau, còn ở 28 tỉnh khác ruộng tư nhiều hơn ruộng công. Đến trước Cách mạng tháng Tám, diện tích CĐCT là 20% ở Bắc Kỳ, 25% ở Trung Kỳ và 2% ở Nam Kỳ. Sau Cách mạng tháng Tám, qua cải cách ruộng đất, ruộng công được đem chia cho nông dân lao động.

Tra câu | Đọc báo tiếng Anh

Từ khóa » đất Công điền Là Gì