Tự Đức - Nguyễn Phúc Hồng Nhậm - Người Kể Sử
Có thể bạn quan tâm
- Trang Chủ
- Dòng Lịch Sử
-
- Hồng Bàng & Văn Lang
- Âu Lạc & Nam Việt
- Bắc thuộc lần I
- Trưng Nữ Vương
- Bắc thuộc lần II
- Nhà Lý & Nhà Triệu
- Bắc thuộc lần III
- Thời kỳ xây nền tự chủ
- Nhà Ngô
- Nhà Đinh
- Nhà Tiền Lê
- Nhà Lý
- Nhà Trần
- Nhà Hồ
- Nhà Hậu Trần
- Bắc thuộc lần IV
- Nhà Hậu Lê
- Nam Bắc Triều
- Trịnh Nguyễn Phân Tranh
- Nhà Tây Sơn
- Nhà Nguyễn
- Pháp Thuộc
- Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà
- Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
-
- Tư Liệu
- Quân Sự
- Tác Phẩm
- Bang Giao
- Biểu đồ thời gian
- Nhân Vật
- Anh Hùng Dân Tộc
- Danh nhân văn hóa
- Di Tích
- Ngày Nay
- Sách
- Video
- Q&A
- Lịch sử lớp 12
- Lịch sử lớp 11
- Lịch sử lớp 10
- Lịch sử lớp 9
- Lịch sử lớp 8
- Lịch sử lớp 7
- Lịch sử lớp 6
- Gia Long - Nguyễn Phúc Ánh
- Minh Mạng - Nguyễn Phúc Đảm
- Thiệu Trị - Nguyễn Phúc Miên Tông
- Tự Đức - Nguyễn Phúc Hồng Nhậm
-
Gia Long - Nguyễn Phúc Ánh
Gia Long (1802-1820) Nguyễn Phúc Ánh, sinh nǎm Nhâm Ngọ (1762), con thứ ba của Nguyễn Phúc Luân. Mẹ Nguyễn Phúc Ánh là Nguyễn Thị Hoàn con gái Diễm Quốc công Nguyễn Phúc Trung, người làng Minh Linh, phủ Thừa Thiên. Nǎm 1773, Tây Sơn khởi nghĩa, Nguyễn Phúc Ánh 12 tuổi, theo chúa Nguyễn Phúc Thuần vào Quảng Nam. Mùa Thu nǎm Đinh Dậu (1777) Nguyễn Phúc Thuần tử trận. Nguyễn Phúc Ánh một mình chạy thoát ra đảo Thổ Chu, rồi sau chạy sang ẩn náu nhờ bên đất Xiêm. Tháng 7/1792, vua Quang Trung bị bạo bệnh mất, con là Quang Toản còn ít tuổi, nội bộ lục đục, không sao chống nổi với sức tấn công của Nguyễn Ánh (có Pháp ngoại viện). Nǎm 1802, Nguyễn Ánh diệt xong nhà Tây Sơn lên ngôi hoàng đế, niên hiệu là Gia Long đóng đô tại thành Phú Xuân (Huế) vào ngày 1 tháng 6 nǎm Nhâm Tuất (1802). -
Minh Mạng - Nguyễn Phúc Đảm
Minh Mạng (1820-1840) tên huý là Nguyễn Phúc Đảm, sinh ngày 23 tháng 4 nǎm Tân Hợi (25/5/1791), là con thứ 4 của Gia Long. Tháng giêng nǎm Canh Thìn (1820), thái tử Đảm lên ngôi vua, niên hiệu là Minh Mạng. Minh Mạng có tư chất thông minh, hiếu học, nǎng động và quyết đoán. Minh Mạng đặt ra lệ: các quan ở Thành, Dinh, Trấn - vǎn từ Hiệp trấn, Cai bạ, Ký lục, Tham hiệp; võ từ Thống quản cơ đến Phó vệ uý... ai được thǎng điện, bổ nhiệm... đều phải đến kinh đô gặp vua, để vua hỏi han công việc, kiểm tra nǎng lực và khuyên bảo. Là người tinh thâm nho học, sùng đạo Khổng Mạnh, Minh Mạng rất quan tâm đến học hành, khoa cử, tuyển chọn nhân tài. Nǎm 1821 cho dựng Quốc Tử Giám, đặt chức Tế Tửu và Tư Nghiệp, mở lại thi Hội và thi Đình, trước 6 nǎm một khoa thi, nay rút xuống 3 nǎm. -
Thiệu Trị - Nguyễn Phúc Miên Tông
Thiệu Trị (1841-1847) tên huý là Phúc Tuyền sau đổi là Miên Tông, là con trưởng của Minh Mạng và mẹ là Thuận Đức Thần Phi Hổ Thị Hoa, sinh 11 tháng 5 Đinh Mão (1807).Tháng Giêng nǎm Tân Sửu (1841) Miên Tông lên ngôi vua đặt niên hiệu là Thiệu Trị, lúc đó đã 34 tuổi.Thiệu Trị lên ngôi cứ theo quy chế được sắp đặt từ thời Minh Mạng mà làm theo di huấn của cha. -
Tự Đức - Nguyễn Phúc Hồng Nhậm
Tự Đức (1847-1883) tên huý là Hồng Nhiệm, sinh ngày 25 tháng 8 nǎm Kỷ Sửu (1829) là con thứ hai của Thiệu Trị và bà Phạm Thị Hằng - con gái Thượng thư Bộ Lễ Phạm Đǎng Hưng.Tháng 10 nǎm 1847, Hồng Nhiệm lên ngôi vua, đặt niên hiệu là Tự Đức, lúc đó 19 tuổi.
- Bạn đang ở:
- Trang chủ
- Dòng Lịch Sử
- Nhà Nguyễn
- Tự Đức - Nguyễn Phúc Hồng Nhậm
Tự Đức tên huý là Hồng Nhiệm, sinh ngày 25 tháng 8 nǎm Kỷ Sửu (1829) là con thứ hai của Thiệu Trị và bà Phạm Thị Hằng - con gái Thượng thư Bộ Lễ Phạm Đǎng Hưng.Tháng 10 nǎm 1847, Hồng Nhiệm lên ngôi vua, đặt niên hiệu là Tự Đức, lúc đó 19 tuổi.Tự Đức ốm yếu nên ít đi kinh lý, do đó ít sát dân tình, ngày càng trở nên quan liêu.Bù lại sự yếu kém sức khoẻ, Tự Đức lại rất thông minh và có tài vǎn học, thích nghiền ngẫm kinh điển Nho giáo, xem sách đến khuya. Tự Đức là một trong những người uyên bác về Nho học và Khổng học thời đó.Tự Đức là người con rất có hiếu với mẹ là bà Từ Dũ. Tự Đức quy định ngày lẻ thì thiết triều, ngày chẵn vào chầu thǎm mẹ, mỗi tháng 15 ngày thiết triều, 15 ngày vào hầu mẹ, khi vào hầu thì sửa mình, nén hơi, quỳ xuống hỏi thǎm sức khoẻ, rồi cùng mẹ luận bàn kinh sách và sự tích xưa nay, nhất là chính sự. Bà Từ Dũ là người thuộc nhiều sử sách, biết nhiều chuyện cổ kim. Hễ mẹ nói gì là vua ghi ngay vào cuốn sổ nhỏ gọi là "Từ huấn lục".Tự Đức thiếu tính quyết đoán, thường dựa vào triều thần, bàn việc triều thần thì rất bảo thủ, do đó khi trên thế giới, khoa học và công nghiệp đã phát triển mạnh mẽ, các cường quốc đang cạnh tranh buôn bán ngày càng gay gắt, thì vua tôi chỉ lo việc nghiên bút, bàn đến Nghiêu, Thuấn, Hạ, Thương, Chu xa xưa làm tấm gương, nên Tự Đức "bế quan toả cảng" cấm buôn bán gay gắt.Khi thành Gia Định (Sài Gòn) rơi vào tay Pháp, thì triều đình bó tay không có kế gì hay.Nhiều người có con mắt nhìn xa thấy rộng như Phạm Phú Thứ (1864), Nguyễn Trường Tộ (1866), Đinh Vǎn Điền (1868), Nguyễn Hiệp (1867), Lê Đĩnh (1881)... dâng sớ điều trần xin nhà vua cải cách chính trị, kinh tế, quân sự... theo gương Nhật Bản, Thái Lan, Hương Cảng... và các nước phương Tây thì phái bảo thủ trong triều đình cho là nói nhảm, nên Tự Đức cũng không chấp thuận.Do triều đình Huế ươn hèn như vậy nên phải ký hoà ước Quý Mùi (1883), rồi hoà ước Pa-tơ-nốt (1885), đất nước ta bị chia làm 3 kỳ (Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ) chịu sự bảo hộ của đế quốc Pháp. Ngày 16 tháng 6 nǎm Quý Mùi (1883) Tự Đức mất, trị vì được 35 nǎm, thọ 55 tuổi.
(Nguồn: Tóm tắt niên biểu lịch sử Việt Nam)
Bài viết trước: Thiệu Trị - Nguyễn Phúc Miên TôngBài viết cùng thư mục
- Gia Long - Nguyễn Phúc Ánh
- Minh Mạng - Nguyễn Phúc Đảm
- Thiệu Trị - Nguyễn Phúc Miên Tông
- Tự Đức - Nguyễn Phúc Hồng Nhậm
Tự Đức
Chuyên mục: Nhân Vật Lịch SửTự Đức (chữ Hán: 嗣德; 22 tháng 9 năm 1829 – 19 tháng 7 năm 1883), tên thật là Nguyễn Phúc Thì (阮福時) hoặc Nguyễn Phúc Hồng Nhậm (阮福洪任), là vị Hoàng đế thứ tư của triều Nguyễn. Ông là vị vua có thời gian trị vì lâu dài nhất của nhà Nguyễn, trị vì từ năm 1847 đến 1883, ông được truy tôn miếu hiệu là Nguyễn Dực Tông (阮翼宗).
Triều đại của ông đánh dấu nhiều sự kiến xấu với vận mệnh Đại Nam. Năm 1858, liên quân Pháp-Tây Ban Nha nổ súng tấn công Đà Nẵng. Trước tình hình người Pháp xâm lấn trong triều đình đặt ra vấn đề cải cách, liên tiếp các năm từ 1864 đến 1881, các quan là Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Đinh Văn Điền, Nguyễn Hiệp, Lê Định liên tiếp dâng sớ xin nhà vua cho cải cách toàn diện đất nước nhưng các đình thần lại không thống nhất, nhà vua cũng không đưa ra được quyết sách dứt khoát. Mãi đến năm 1878, triều đình mới bắt đầu cử người thực hiện các bước đầu tiên trong quá trình cải cách là cho học tiếng nước ngoài, nhưng đình thần vẫn bất đồng và nảy sinh hai phe chủ trương cải cách và bảo thủ, rồi đến khi nước Đại Nam dần rơi vào tay quân Pháp cũng nảy sinh hai phe chủ chiến và chủ hòa.
Xem thêm
CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ
- Hồng Bàng & Văn Lang
- Âu Lạc & Nam Việt
- Bắc thuộc lần I
- Nhà Triệu
- Trưng Nữ Vương
- Bắc thuộc lần II
- Nhà Lý & Nhà Triệu
- Nhà Tiền Lý
- Nhà Triệu
- Nhà Hậu Lý
- Bắc thuộc lần III
- Thời kỳ xây nền tự chủ
- Họ Khúc
- Nhà Ngô
- Nhà Đinh
- Nhà Tiền Lê
- Nhà Lý
- Nhà Trần
- Nhà Hồ
- Nhà Hậu Trần
- Bắc thuộc lần IV
- Nhà Hậu Lê
- Nam Bắc Triều
- Nhà Lê Trung Hưng
- Nhà Mạc
- Trịnh Nguyễn Phân Tranh
- Nhà Lê Trung Hưng
- Chúa Trịnh
- Chúa Nguyễn
- Nhà Tây Sơn
- Nhà Nguyễn
- Pháp Thuộc
- Nhà Nguyễn
- Những cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp
- Đảng Cộng Sản Việt Nam
- Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà
- Kháng chiến chống Pháp
- Kháng chiến chống Mĩ
- Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tư Liệu
- Trận Điện Biên Phủ trên không năm 1972
- Chiến tranh biên giới Tây Nam năm 1975 - 1978
- Chiến dịch Mùa Xuân năm 1975
- Hải chiến Trường Sa năm 1988
- Chiến dịch Đường 14 - Phước Long năm 1974 - 1975
- Chiến dịch Tây Nguyên năm 1975
- Trận Mậu Thân tại Huế năm 1968
- Bảng đối chiếu các triều đại Việt Nam và các triều đại Trung Quốc
- Bình Ngô đại cáo - bản tuyên ngôn độc lập thứ hai
- Lãnh thổ Việt Nam qua từng thời kỳ
- Trận Đồi Thịt Băm năm 1969
- Chiến dịch Đắk Tô năm 1972
- Nam quốc sơn hà - Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên
- Tuyên ngôn độc lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
- Trận Bản Đông năm 1971
- Trận Rạch Gầm – Xoài Mút năm 1785
- Lịch sử Chữ viết tiếng Việt
- Hịch tướng sĩ - Dụ chư tỳ tướng hịch văn
- Danh sách Trạng nguyên Việt Nam
- Hội nghị Paris, mặt trận ngoại giao năm 1968-1972
Anh Hùng Dân Tộc Tiêu Biểu
- Lê Thái Tổ
- Đinh Tiên Hoàng
- Hùng Vương
- Trần Nhân Tông
- Ngô Quyền
- Lý Thái Tổ
- Lê Đại Hành
- Trần Hưng Đạo
- Hồ Chí Minh
- Lý Nam Đế
Tư Liệu Lịch Sử
- Vấn đề biên giới Việt-Trung thời Mạc
- Ngoại giao Việt Nam thời Tây Sơn
- Biểu đồ các nhân vật lịch sử theo dòng thời gian
- Danh sách Trạng nguyên Việt Nam
- Ngoại giao Việt Nam thời Nguyễn
- Trận Điện Biên Phủ trên không năm 1972
- Trận Ngọc Hồi - Đống Đa năm 1789
- Trận Cẩm Sa năm 1775
- Trận Rạch Gầm – Xoài Mút năm 1785
- Lãnh thổ Việt Nam qua từng thời kỳ
Di Tích Lịch Sử
- Thành cổ Quảng Trị
- Đền Trần (Thái Bình)
- thành Cổ Loa
- Văn Miếu - Quốc Tử Giám
- chùa Thầy
- Quần thể di tích Cố đô Huế
- Đền Phù Đổng
- chùa Phổ Minh
- Hồ Hoàn Kiếm
- Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng
- Giới thiệu
- Quyền riêng tư
- Liên hệ
- Địa Danh
- Trang Facebook
- DanhMucBDS.com
- HocTotNguVan.com
Từ khóa » Tự đức
-
Tự Đức - Wikipedia
-
Khu Lăng Mộ Vua Tự Đức - Bộ Ngoại Giao CHLB Đức
-
[Thông điệp Từ Lịch Sử] Vua Tự Đức: “Bao Nhiêu Tài Sản đều Là Máu ...
-
Tự Đức - Tấn Bi Kịch Của Vị Vua "Bị Đặt Nhầm Chỗ" - YouTube
-
Đúng, Vua Tự Đức Có Hơn Trăm Vợ Nhưng Không Có Con Ruột?
-
Khôi Phục Lăng Mộ Vợ Vua Tự Đức - VnExpress
-
Lý Do Vua Tự Đức Ban Rượu Cho Phan Thanh Giản Và Lâm Duy Thiếp
-
Vua Tự Đức Với Việc Bảo Vệ An Ninh Biên Giới Phía Bắc (1848- 1878)
-
Lăng Vợ Vua Tự Đức Từng Bị San ủi Sẽ được Dựng Lại - Xã Hội - Zing
-
Lăng Vua Tự Đức (Khiêm Lăng) - .vn
-
Tự Đức - Wikidata