Từ Một Bài Ca Dao Ngắn... | Giác Ngộ Online

Có người đã xem 4 câu ca dao trên là đoạn sau của bài ca dao gồm 10 câu, với 6 câu đầu là:"Đêm qua ra đứng bờ aoTrông cá cá lặn, trông sao sao mờBuồn trông con nhện giăng tơNhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối aiBuồn trông chênh chếch sao MaiSao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ...”(1)

Nhưng dù là 10 câu hay 4 câu, điều đáng chú ý vẫn là nơi câu cuối với hình ảnh Tào Khê hiện rõ:"Tào Khê nước chảy, lòng còn trơ trơ!”

Tào Khê là tên một dòng sông ở Đông Nam huyện Khúc Giang, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, nơi có ngôi chùa cổ Bảo Lâm, còn gọi là Nam Hoa, từng là đạo tràng lớn của Đại sư Huệ Năng (638-713), vị Tổ thứ 6 của Thiền tông Trung Quốc. Từ Tào Khê, Thiền tông Trung Quốc đã nối tiếp và phát huy với 5 thiền phái: Lâm Tế, Tào Động, Quy Ngưỡng, Vân Môn, Pháp Nhãn. Như vậy, Tào Khê là thắng cảnh gắn liền với danh lam, là một thiền cảnh, hơn nữa, trong chiều hướng thâu tóm và khái quát, nói đến Tào Khê là nói đến cảnh Phật, pháp Phật, với sứ mạng cứu người độ đời.

Cùng với các thiền phái Lâm Tế, Tào Động... được truyền vào Việt Nam, thiền cảnh Tào Khê cũng đã đến với đất nước Việt Nam, đi vào văn học Việt Nam, có mặt một cách sinh động nơi văn học dân gian, văn học chữ Hán, văn học chữ Nôm. Nếu ở văn học dân gian, Tào Khê chỉ có mặt nơi mỗi một bài ca dao duy nhất kia(2) thì ở văn học chữ Hán, chữ Nôm, thiền cảnh Tào Khê đã hiện diện khá phong phú.

- Thiền sư VIÊN CHIẾU (999-1090) đời Lý, trong tác phẩm “Tham đồ hiển quyết”, đã hai lần nói đến Tào Khê, đều là từ phía người hỏi:Hỏi: Hải tạng thao thao ưng bất vấnTào Khê trích trích thị như hà?(Kho biển mênh mông chẳng màng đếnTào Khê róc rách ý sao đây?)

Đáp: Phong tiền tùng hạ thê lương vận Vũ hậu đồ trung thiển trọc nê.(Thông reo trước gió tiếng buồn thayMưa tạnh sau chân biết lối lầy)(Dẫn theo Thiền uyển tập anh, Ngô Đức Thọ dịch, 1990, tr.61-62)

Hỏi: Như hà thị Tào Khê nhất lộ?(Thế nào là con đường Tào Khê?)

Đáp:Khả lâu khắc chu khách Đáo xứ ý thông thông.(Đáng thương kẻ vạch thuyềnKhắp chốn biết tìm đâu!).(Sđd, tr.75)

- Nơi tác phẩm Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục, Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Quốc Tung (1230-1291) một gương mặt thi ca nổi bật của Thiền học và văn học Việt Nam đầu đời Trần, cũng đã nhiều lần nói đến Tào Khê. Ở bài “Phóng cuồng ca”, ông viết:Phỏng Tào Khê hề, ấp Lư Thị...(Thăm Tào Khê hề, ra mắt Lư Thị)(Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục, Trúc Thiên dịch, ĐH Vạn Hạnh xuất bản, S, 1969, tr.95)Ở bài “Thị chúng”, mang ý hướng ca ngợi cuộc sống tự tại của người đạt đạo, hiển lộ cái thể tánh sáng suốt chưa từng bị lấp che của tự thân, Tuệ Trung đã nhắc đến Tào Khê đi cùng với Thiếu Thất:Hưu đầm Thiếu Thất dữ Tào KhêThể tánh minh minh vị hữu mêCổ nguyệt chiếu phi quan viễn cậnThiên phong xuy bất giản cao đê...(Thôi tìm Thiếu Thất với Tào KhêThể sáng chưa từng bị lấp cheGió lộng không chia cao với thấpTrăng soi chẳng ngại chiếu trăm bề...)(Nguyễn Lang dịch, Việt Nam Phật giáo sử luận I, bản in 1992, tr.330)

Tuệ Trung Thượng Sĩ còn nhắc đến Tào Khê hai lần nữa: Nơi bài “Chăn trâu đất” (Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục, Sđd, tr.133) và bài “Tự đề”, (Sđd, tr.163), cũng là những ghi nhận về thiền cảnh, Phật cảnh không thể thiếu cho sự diễn đạt của mình.

- Vua TRẦN NHÂN TÔNG (1258-1308), là đệ nhất Tổ của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đời Trần, nơi bài phú chữ Nôm “Cư trần lạc đạo phú” cũng không quên nói đến thiền cảnh Tào Khê:“T rà Triệu Lão, bánh Thiều Dương, bày Thiền tử hãy còn đói khát. Ruộng Tào Khê, vườn Thiếu Thất, chúng nạp tăng những để lưu hoang...”.(Dẫn theo Hợp tuyển Thơ văn VN, thế kỷ X - thế kỷ XVII, NXB Văn Học, 1976, tr.114)- NGUYỄN ỨC (thế kỷ XIV) làm quan dưới triều vua Trần Minh Tông (1300-1357), bạn thân của Trần Quang Triều (1287-1325) - con của Trần Quốc Tảng (1252-1313), cháu nội của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn (1232-1300), là người đã biên tập tác phẩm Cúc đường di thảo của Trần Quang Triều, nơi bài thơ: “Mồng một Tết, yết kiến Thượng nhân Nguyệt Đàm, chùa Diên Quang” (Nguyên nhật yết Diên Quang tự Nguyệt Đàm Thượng nhân) đã xem phong cảnh nơi chùa Diên Quang ấy chẳng khác gì thiền cảnh Tào Khê:Đông phong trước ý đáo kỳ lâmLộ nhập Tào Khê bất viễn tầmKỷ xứ vũ hoa bình giảng tịchNhất đàm hàn nguyệt ấn thiền tâm.Đạo vô Nam Bắc, nhân do cổThi thiệp phong tao thú cánh thâmChủ vĩ thập niên lao mộng tưởngBiện hương hà hạnh đắc như câm.(Gió xuân đưa tới Kỳ LâmTào Khê đây lối phải tầm chi xaMấy nơi chiếu giảng mưa hoaMột đầm trăng lạnh in qua lòng ThiềnĐạo chung Nam Bắc rọi truyềnPhong tao chuẩn mực khơi niềm thú sâuMười năm mộng tưởng lẽ mầuMay sao được dịp nay hầu dâng hương).(Hoàng Lê dịch, Thơ văn Lý Trần T3, NXB KHXN, 1978, tr.43)

Không chỉ nói đến Tào Khê, Nguyễn Ức còn nhắc lại câu nói nổi tiếng của Lục tổ Huệ Năng khi trả lời Ngũ tổ Hoằng Nhẫn: “Đạo không có Bắc Nam...”, chứng tỏ Nguyễn Ức hết sức kính mộ Thượng nhân Nguyệt Đàm này. Đây là vị cao tăng đã được thi ca đề cập tới, nhưng chưa được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam.

- NGUYỄN TRÃI (1380-1442), cả ở thơ chữ Nôm và thơ chữ Hán đều có nói đến Tào Khê.- Nơi bài thơ Nôm "Thuật hứng” (bài số 19), ông viết:Núi láng giềng, chim bầu bạnMây khách khứa, nguyệt anh tamTào Khê rửa ngàn tầm suốiSạch chẳng còn một chút phàm.(Nguyễn Trãi toàn tập, NXB KHXH, 1976, tr.417)- Đáng chú ý hơn hết là nơi bài thơ chữ Hán "Thăm chùa Nam Hoa” (Du Nam Hoa tự):Thần tích phi lai kỷ bách xuân Bảo Lâm hương hỏa khế tiền nhânHàng long phục hổ cơ hà diệuVô thụ phi đài ngữ nhược tâmĐiệu trắc khởi lâu tàng Phật bátKhám trung di tích thuế chân thânMôn tiền nhất phái Tào Khê thủyTẩy tận nhân gian kiếp kiếp trần.(Gậy thần bay đến mấy trăm niênHương hỏa Bảo Lâm giữ trọn nguyềnPhục cọp, hàng rồng sao phép diệuChẳng đài, không thụ vẫn lòng truyềnNơi tàng bát Phật lầu bên đấyDấu lột xác phàm tháp giữ nguyênTrước cửa Tào Khê dòng nước chảyLâng lâng gột sạch mọi trần duyên).(Đào Duy Anh dịch, Nguyễn Trãi toàn tập, sđd, trang 383-384)

Không chỉ nói đến Tào Khê, tôn vinh Tào Khê, tôn vinh pháp Phật trong sứ mạng cứu khổ, diệt mê, Nguyễn Trãi còn gợi lại uy lực của Lục tổ Huệ Năng trong nỗ lực hàng phục ngoại cảnh: Phục cọp, hàng rồng sao phép diệu.Cùng nhắc lại bài kệ ngộ đạo nổi tiếng của Lục tổ: Chẳng đài không thụ vẫn lòng truyền.Chỉ với mỗi bài thơ này, cũng đủ để khẳng định Nguyễn Trãi là một Phật tử.

* Đầu thế kỷ XVIII, Ngô Thì Ức (1709-1736) người mở đường cho truyền thống văn học của Ngô gia văn phái, cũng là người mở đầu cho truyền thống mộ Phật của danh gia vọng tộc này, nơi bài thơ chữ Hán viết về chùa Linh Quang (Đề Linh Quang tự), thiền cảnh Tào Khê cũng được gợi nhắc:Lưu ly nhất thốc bạng giang đìnhẢo xuất Tào Khê cảnh giới thanhHuyền vũ long cương bài Phật ấnThanh lưu yến vĩ trạm tăng bìnhHoa khai ngọc xế quỳnh thiên thụNguyệt chiếu hồi lan dạ ngũ canhChủng chủng thanh kỳ đô hoan cựuThiện căn tá vấn kỷ niên thành.(Bên đình sông có chùa lộng lẫyCảnh giới thanh ngỡ đấy Tào KhêGò rồng đội nóc bồ đềDòng xanh đuôi yến nước chia tràn bầu.Quỳnh muôn đóa in mầu thềm ngọcTrăng năm canh sáng rực bao lơnThanh kỳ nét trổ vàng sonPhải chăng quả thiện vuông tròn từ lâu).(Tham Tuyền dịch, Một số tác giả và tác phẩm trong Ngô gia văn phái, Sở VH-TT Hà Sơn Bình XB, 1980, trang 69-70).

- Và NGÔ THÌ NHẬM (1746-1803) cháu nội của Ngô Thì Ức, là gương mặt thi ca tiêu biểu nhất của văn học Việt Nam thế kỷ XVIII, tác giả tác phẩm Trúc Lâm tông chỉ Nguyên Thanh nổi tiếng, nơi bài thơ "Đậu thuyền bến Hội Khê” cũng đã nói tới Tào Khê. Đấy là cảnh Hội Khê nhưng Ngô Thì Nhậm đã liên tưởng đến Tào Khê:Chẳng phải Tào Khê, chính Hội KhêĐôi nhà thấp thoáng liễu ven đê...(Bất thị Tào Khê, thị Hội KhêSổ duyên y ước liễu dương đê...)(Hợp tuyển Thơ văn Ngô Thì Nhậm, T1, NXB KHXH, 1978, trang 119-120).v Thi hào NGUYễN DU(1765-1820) tuy không nói tới Tào Khê, nhưng nơi bài thơ chữ Hán khá dài "Lương Chiêu Minh thái tử phân kinh thạch đài” (Đài đá phân kinh của thái tử Chiêu Minh đời Lương), được viết trong chuyến đi sứ sang Trung Hoa năm 1813-1814, sau khi nêu bật một số điểm về Phật, về tu Phật (Phật thuyết pháp độ sinh, tha độ, tự độ), Nguyễn Du đã nhắc đến 2 câu đầu nơi bài kệ của Lục tổ Huệ Năng:“Ngô văn Thế Tôn tại Linh SơnThuyết pháp độ nhân như hằng hà sa sốNhân liễu thử tâm nhân tự độLinh Sơn chỉ tại như tâm đầuMinh kính diệc phi đàiBồ đề bản vô thụ...”(Phật xưa thuyết pháp độ ngườiNhiều như vô số cát nơi sông HằngChân tâm hiện chính từ tự độLinh Sơn nên tìm ở tâm mìnhGương sáng không phải đàiBồ đề vốn không cây...).(Dẫn theo Thơ chữ Hán Nguyễn Du, NXB Văn Học, 1978, tr.445, phần dịch thơ là của chúng tôi)

Sách Việt Nam Phật giáo sử luận I của giáo sư Nguyễn Lang đã nhấn mạnh về sự phát triển của dòng thiền phương Nam (Huệ Năng): “Nhưng sự truyền thừa của Bắc tông (Thần Tú) ngắn ngủi quá, chỉ trong mấy thế hệ đã bị mai một. Trong khi đó, sự truyền thừa của Nam tông (Huệ Năng) phát triển mạnh” (sđd, tr.175).

Chính sự phát triển mạnh của Thiền tông phương Nam đã có ảnh hưởng lớn đối với Phật giáo Việt Nam, với các thiền phái được du nhập: Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, và sau này là Lâm Tế, Tào Động. Điều ấy giúp chúng ta lý giải về sự có mặt của thiền cảnh Tào Khê trong văn học Việt Nam.

(1) Xem Ca dao tục ngữ Phật giáo VN, Thích Trung Hậu sưu tập, NXB TP.HCM, 2002, tr.383.(2) Hiện tượng này có thể xem như là một cố gắng, từ văn học chữ Hán, chữ Nôm đẩy sang văn học dân gian. Trong sách Thiền học Việt Nam, GS. Nguyễn Đăng Thục đã dẫn 2 câu (Thơ? Ca dao? Thơ dịch? - vì không nêu rõ xuất xứ) viết rất đạt về Tào Khê:“Ai nhìn sáu Tổ năm TôngThiền hà muôn phái một dòng Tào Khê”(Sđd, NXB Lá Bối, S, 1967, tr.75)

Từ khóa » Khê Tiếng Nôm