Tục Ngữ Về "Bắc Ninh" - Ca Dao Mẹ

Những bài ca dao - tục ngữ về "Bắc Ninh":
  • Chợ Chì là chợ Chì xa

    Chợ Chì là chợ Chì xa, Chồng mong, con khóc, chém cha chợ Chì

    Thông tin thêm
    • Chủ đề:
      • Tình cảm gia đình, bạn bè
      • Quê hương đất nước
    • Thẻ:
      • chồng con
      • chợ búa
      • Bắc Ninh
      • chợ Chì
    • Người đăng: Phan An
    • 25 August,2019
  • Chợ Chì bán xảo bán sàng

    Chợ Chì bán xảo bán sàng Bắc Ninh bán những nhẫn vàng trao tay Đình Bảng bán ấm bán khay Phù Lưu họp chợ mỗi ngày một đông.

    Thông tin thêm
    • Chủ đề:
      • Quê hương đất nước
    • Thẻ:
      • con chó
      • nghề truyền thống
      • Bắc Ninh
      • Phù Lưu
      • Đình Bảng
      • chợ Chì
    • Người đăng: Phan An
    • 28 September,2015
  • Sinh ra trên tổng Đông Ngàn

    Sinh ra trên tổng Đông Ngàn Không ham vật võ khó làm thân trai

    Thông tin thêm
    • Chủ đề:
      • Quê hương đất nước
    • Thẻ:
      • Bắc Ninh
      • đấu vật
      • Hà Nội
      • Đông Ngàn
      • trò chơi dân gian
    • Người đăng: Nguiễn Sơn
    • 25 August,2015
  • Một giỏ ông đồ

    Một giỏ ông đồ, Một bồ ông cống, Một đống ông nghè, Một bè tiến sĩ, Một bị trạng nguyên, Một thuyền bảng nhãn

    Thông tin thêm
    • Chủ đề:
      • Quê hương đất nước
    • Thẻ:
      • Bắc Ninh
      • khoa bảng
    • Người đăng: Phan An
    • 14 July,2015
  • Ăn Bắc, mặc Kinh

    Ăn Bắc mặc Kinh

    Dị bản
    • Ăn Bắc, mặc Nam

    Thông tin thêm
    • Chủ đề:
      • Quê hương đất nước
    • Thẻ:
      • Thăng Long - Hà Nội
      • Bắc Ninh
    • Người đăng: Lê Minh Quang
    • 12 July,2015
  • Ghênh đẻ, Khe nuôi

    Ghênh đẻ, Khe nuôi

    Thông tin thêm
    • Chủ đề:
      • Lịch sử
    • Thẻ:
      • Bắc Ninh
      • chúa Trịnh
    • Người đăng: Phan An
    • 7 July,2015
  • Trăm năm cũng chẳng có suy

    Trăm năm cũng chẳng có suy Gia Bình ngũ hổ chầu về Thiên Thai

    Thông tin thêm
    • Chủ đề:
      • Quê hương đất nước
      • Lịch sử
    • Thẻ:
      • trạng nguyên
      • Thiên Thai
      • Bắc Ninh
    • Người đăng: Phan An
    • 2 July,2015
  • Xa đưa văng vẳng tiếng chuông

    Xa đưa văng vẳng tiếng chuông Kìa chùa Phả Lại chập chùng bên sông

    Thông tin thêm
    • Chủ đề:
      • Quê hương đất nước
    • Thẻ:
      • Bắc Ninh
      • Hải Dương
      • chùa chiền
      • Phả Lại
    • Người đăng: Nguiễn Sơn
    • 7 March,2015
  • Trúc Ổ tổ nói phét

    Trúc Ổ tổ nói phét

    Thông tin thêm
    • Chủ đề:
      • Quê hương đất nước
    • Thẻ:
      • Bắc Ninh
      • nói khoác
      • Trúc Ổ
    • Người đăng: Phan An
    • 4 January,2015
  • Em là con gái nhà diêm

    Em là con gái nhà diêm Đến tháng lĩnh tiền được bốn đồng hai Một đồng em để cho giai Hai đồng cho mẹ, đồng hai ăn quà.

    Thông tin thêm
    • Chủ đề:
      • Trào phúng, phê phán đả kích
    • Thẻ:
      • Bắc Ninh
    • Người đăng: Phan An
    • 28 July,2014
  • Những người lử khử lừ khừ

    Những người lử khử lừ khừ Không ở Đại Từ cũng ở Vũ Ninh

    Thông tin thêm
    • Chủ đề:
      • Quê hương đất nước
    • Thẻ:
      • Thăng Long - Hà Nội
      • bệnh tật
      • Bắc Ninh
      • Vũ Ninh
      • Đại Từ
    • Người đăng: Nguiễn Sơn
    • 12 April,2014
  • Tôi đây là người đi chơi

    Tôi đây là người đi chơi Chơi chốn lịch sự, chơi nơi hữu tình Mới đi chơi ở Bắc Ninh Chạy tàu Hà Nội sự tình xem sao Đồn vui tôi bước chân vào Chơi hội kỳ thú chơi đôi ba ngày.

    Thông tin thêm
    • Chủ đề:
      • Quê hương đất nước
    • Thẻ:
      • Thăng Long - Hà Nội
      • Bắc Ninh
    • Người đăng: Phan An
    • 6 April,2014
  • Ai qua quán Trắng phố Nhồi

    Ai qua quán Trắng phố Nhồi Để thương để nhớ cho tôi thế này Trèo lên cây khế nửa ngày Ai làm chua xót lòng này khế ơi Khế héo khế lại mọc chồi Con dao lá trúc thìa vôi têm trầu Từ ngày ta phải lòng nhau Bỏ buôn bỏ bán bỏ giầu chợ phiên

    Dị bản
    • Ai qua quán Trắng phố Nhồi Để thương để nhớ cho tôi thế này Trèo lên cây khế nửa ngày Ai làm chua xót lòng mày khế ơi Bây giờ tôi đứng tôi ngồi Con dao lá trúc bình vôi têm trầu

    Thông tin thêm
    • Chủ đề:
      • Tình yêu đôi lứa
    • Thẻ:
      • tương tư
      • cây khế
      • Bắc Ninh
      • dao lá trúc
      • phố Nhồi
      • làng Hòa Đình
    • Người đăng: Tuệ Nương
    • 30 March,2014
  • Ở đâu đi bán cá con

    – Ở đâu đi bán cá con Ở đâu nung chĩnh, nung lon, nung nồi Ở đâu gánh đá nung vôi Ở đâu nấu rượu cho người ta mua Ở đâu không miếu không chùa Ở đâu tế lễ rước vua về thờ Ở đâu thêu quạt thêu cờ Ở đâu chạm vẽ đồ thờ ống hoa Ở đâu có lính quan ba Có dinh quan sáu có toà quan năm? – Kẻ Dưng đi bán cá con Kẻ Cánh nung chĩnh, nung lon, nung nồi Kẻ Tự gánh đá nung vôi Kẻ Rau nấu rượu cho người ta mua Bên Tây không miếu không chùa An Nam tế lễ rước vua về thờ Hà Nội thêu quạt thêu cờ Bắc Ninh chạm vẽ đồ thờ ống hoa Hải Phòng có lính quan ba Có dinh quan sáu có toà quan năm.

    Dị bản
    • Kẻ Dưng đi bán cá con Kẻ Cánh gánh đất nỉ non nặn nồi Kẻ Tự gánh đá nung vôi Kẻ Rau nấu rượu cho người ta say

    Thông tin thêm
    • Chủ đề:
      • Quê hương đất nước
    • Thẻ:
      • Thăng Long - Hà Nội
      • nghề truyền thống
      • Bắc Ninh
      • Hải Phòng
      • Đại Từ
      • Vĩnh Phúc
      • Tứ Trưng
      • Hương Canh
      • Cựu Ấp
    • Người đăng: Phan An
    • 26 November,2013
  • Nhà anh phúc thọ đời đời

    Nhà anh phúc thọ đời đời Cha mẹ sinh hạ chín mười con trai Cũng đều có đức có tài Ai ai cũng xứng một đời tài hoa Anh Cả thì đỗ thám hoa Anh Hai tiến sĩ anh ba tú tài Anh Tư là quan tỉnh Đoài Anh Năm dẹp giặc tỉnh ngoài tỉnh trong Anh Sáu tổng đốc xứ Đông Anh Bảy án sát ở trong Ninh Bình Anh Tám tuần phủ Bắc Ninh Anh Chín tri phủ Quảng Bình gần xa Anh là em Út trong nhà Anh đi kén vợ đường xa nước người Thấy em đẹp nói đẹp cười Đẹp người đẹp nết lại tươi răng vàng Vậy nên anh gửi thơ sang Bởi lòng anh quyết lấy nàng mà thôi

    Thông tin thêm
    • Chủ đề:
      • Vũ trụ, con người và xã hội
      • Tình yêu đôi lứa
    • Thẻ:
      • cha mẹ
      • anh em
      • tán tỉnh
      • xứ Đoài
      • Quảng Bình
      • Ninh Bình
      • Bắc Ninh
      • xứ Đông
      • nhuộm răng
    • Người đăng: Quỳnh Mai
    • 19 July,2013
  • Bao giờ rừng báng hết cây

    Bao giờ rừng báng hết cây Tào Khê hết nước, Lý nay lại về

    Dị bản
    • Bao giờ rừng báng hết cây Đầm Long hết nước, Lý nay lại về

    • Bao giờ rừng báng  hết cây Tào Khê hết nước thì Tây lại về

    Thông tin thêm
    • Chủ đề:
      • Quê hương đất nước
    • Thẻ:
      • Tào Khê
      • cây bàng
      • Bắc Ninh
      • Đình Bảng
      • Đầm Long
      • nhà Lý
    • Người đăng: Nguiễn Sơn
    • 8 July,2013
  • Chợ Giầu một tháng sáu phiên

    Chợ Giầu một tháng sáu phiên Ai ơi nên nhớ chớ quên chợ Giầu

    Thông tin thêm
    • Chủ đề:
      • Quê hương đất nước
    • Thẻ:
      • Bắc Ninh
      • Phù Lưu
      • Chợ Giầu
    • Người đăng: Nguiễn Sơn
    • 8 July,2013
  • Ai lên quán dốc chợ Giầu

    Ai lên quán dốc chợ Giầu Để thương, để nhớ để sầu cho khách đường xa

    Thông tin thêm
    • Chủ đề:
      • Tình yêu đôi lứa
      • Quê hương đất nước
    • Thẻ:
      • Bắc Ninh
      • Phù Lưu
      • Chợ Giầu
    • Người đăng: Nguiễn Sơn
    • 8 July,2013
  • Chợ Giầu bán sáo bán sành

    Chợ Giầu bán sáo bán sành Bắc Ninh bán những nhẫn vàng trao tay Đình Bảng bán ấm bán khay Phù Lưu họp chợ mỗi ngày một đông

    Thông tin thêm
    • Chủ đề:
      • Quê hương đất nước
    • Thẻ:
      • Bắc Ninh
      • Phù Lưu
      • Đình Bảng
      • Chợ Giầu
    • Người đăng: Nguiễn Sơn
    • 8 July,2013
  • Nón này em sắm ở đâu

    Nón này em sắm ở đâu Dọc ngang mấy thước, móc khâu mấy lần Em mà đáp được như thần Thì anh trả nón đưa chân anh về – Nón này em sắm chợ Giầu Dọc ngang thước rưỡi, móc khâu năm đường Nón này chính ở làng Chuông Làng Già lợp nón, Khương Thường bán khua Hà Nội thì tết quai tua Có hai con bướm đậu vừa xung quanh Tứ bề nghiêng nón chạy quanh Ở giữa con bướm là hình ông trăng Nón này em sắm tiền trăm Ai trông cái nón ba tầm cũng ưa Nón này che nắng che mưa Nón này để đội cho vừa đôi ta Nón này khâu những móc già Em đi thử nón đã ba năm chầy Muốn em chung mẹ chung thầy Thì anh đưa cái nón này em xin.

    Thông tin thêm
    • Chủ đề:
      • Tình yêu đôi lứa
      • Quê hương đất nước
    • Thẻ:
      • Thăng Long - Hà Nội
      • hát đối
      • đối đáp
      • Bắc Ninh
      • Phù Lưu
      • nón quai thao
      • Chợ Giầu
    • Người đăng: Nguiễn Sơn
    • 7 July,2013
Chú thích
  1. Chợ Chì Ngôi chợ ở làng Chì, nay thuộc địa phận xã Bồng Lai, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
  2. Xảo Đồ đan bằng tre tương tự như giần nhưng có mắt thưa hơn nhiều, thường dùng để lọc lấy thóc và loại bỏ rơm rác. Động tác dùng xảo cũng gọi là xảo.
  3. Sàng Đồ đan bằng tre, hình tròn, lòng nông, có lỗ nhỏ và thưa, thường dùng để làm cho gạo sạch thóc, trấu và tấm. Hành động dùng cái sàng mà lắc cho vật vụn rơi xuống, vật to còn lại cũng gọi là sàng.

    Sàng gạo

    Sàng gạo

  4. Bắc Ninh Một tỉnh thuộc khu vực phía bắc của vùng đồng bằng sông Hồng, rất giàu truyền thống văn hóa. Bắc Ninh có nhiều lễ hội (hội Lim, hội Đền Đô, hội Phù Đổng...), nhiều đền chùa (chùa Bút Tháp, chùa Dâu, chùa Phật Tích...), là quê hương của danh tướng Cao Lỗ, Lý Thái Tổ, Nguyên Phi Ỷ Lan, đồng thời là cái nôi của dân ca quan họ.

    Hát quan họ

    Hát quan họ

  5. Đình Bảng Tên một ngôi làng ở tỉnh Bắc Ninh, xưa là làng Cổ Pháp, có tên Nôm là làng Báng. Đây là quê hương của Lý Thái Tổ – vị vua sáng lập triều Lý, người đã dời đô về Thăng Long-Hà Nội.

    Đền Lý Bát Đế, còn gọi là Đền Đô, thờ 8 vị vua nhà Lý.

    Đền Lý Bát Đế, còn gọi là Đền Đô, thờ 8 vị vua nhà Lý ở làng Đình Bảng

  6. Phù Lưu Một ngôi làng cổ ở Đông Ngàn, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh, còn gọi là làng Giầu, Chợ Giầu. Làng có truyền thống buôn bán và văn hóa. Vào các thế kỷ 15, 16, 17, Phù Lưu là một làng chợ lớn nên mới có tên chữ là Thị thôn (làng chợ). Nay Thị Thôn là tên một thôn ở xã Hán Quảng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
  7. Đông Ngàn Một địa danh cổ, tương ứng với diện tích thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, và một phần các huyện Đông Anh, Gia Lâm, thành phố Hà Nội ngày nay.
  8. Sinh đồ Một học vị trong hệ thống giáo dục Việt Nam thời phong kiến, được xác định trong kỳ thi Hương (là kỳ thi sơ khởi nhất để triều đình tuyển chọn người tài; người nào đỗ kỳ thi Hương thì năm sau mới được dự kỳ thi cao hơn là thi Hội, thi Đình).
  9. Bồ Đồ cỡ lớn đựng thóc lúa, thường đan bằng tre.

    Bồ và cối xay thóc

    Bồ và cối xay thóc

  10. Cống Học vị dành cho những người thi đỗ khoa thi Hương dưới chế độ phong kiến.

    Nào có ra gì cái chữ Nho Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co (Chữ Nho - Tú Xương)

  11. Nghè Tên gọi dân gian của học vị Tiến sĩ dưới chế độ phong kiến.
  12. Tiến sĩ Học vị được trao cho những người đỗ tất cả ba kỳ thi: thi Hương, thi Hội và thi Đình, được ghi danh trong khoa bảng (trừ thời nhà Nguyễn, có thêm học vị Phó bảng không phải là tiến sĩ, nhưng cũng được chấm đỗ ba kỳ thi trên). Thời nhà Trần, những người đỗ Tiến sĩ được gọi là Thái học sinh.
  13. Trạng nguyên Danh hiệu của người đỗ cao nhất khoa thi Đình dưới thời phong kiến. Đỗ nhì là Bảng nhãn, đỗ ba là Thám hoa. Các trạng nguyên nổi tiếng nhất trong lịch sử nước ta có thể kể đến: Nguyễn Hiền, Lương Thế Vinh (Trạng Lường), Mạc Đĩnh Chi (Lưỡng quốc Trạng nguyên), Nguyễn Bỉnh Khiêm (Trạng Trình)... Ngoài ra, một số nhân vật trong lịch sử tuy không đạt danh hiệu này nhưng nhờ có tài năng lớn mà cũng được nhân dân tôn làm Trạng (Trạng Ăn Lê Như Hổ, Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, Trạng Quỳnh...)
  14. Bảng nhãn Danh hiệu của người đỗ cao nhất khoa thi Đình dưới thời phong kiến, dưới Trạng nguyên và trên Thám hoa.
  15. Bài vè này nói về truyền thống hiếu học, khoa bảng của Bắc Ninh.
  16. Kinh Bắc Một địa danh thuộc miền Bắc trước đây, hiện nay bao gồm toàn bộ ranh giới hai tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và một phần nhỏ các tỉnh thành lân cận là Hà Nội (toàn bộ khu vực phía bắc sông Hồng là: Gia Lâm, Long Biên, Đông Anh, Mê Linh, Sóc Sơn); Hưng Yên (Văn Giang, Văn Lâm) và Lạng Sơn (Hữu Lũng). Là nơi có ba kinh đô cổ của Việt Nam gồm: Cổ Loa, Mê Linh và Long Biên. Kinh Bắc cùng với xứ Đoài là hai vùng văn hóa cổ nhất so với xứ Sơn Nam và xứ Đông, với nhiều di tích lịch sử có giá trị như Cổ Loa, đền Sóc, chùa Phật Tích, đền thờ Hai Bà Trưng...

    Quê hương Kinh Bắc có dân ca quan họ và lễ hội Gióng được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

    Hội Gióng

    Hội Gióng

  17. Thăng Long Tên cũ của Hà Nội từ năm 1010 - 1788. Tương truyền Lý Thái Tổ khi rời kinh đô từ Hoa Lư đến đất Đại La thì thấy rồng bay lên nên mới gọi kinh đô mới là Thăng Long (rồng bay lên). Ngày nay, tên Thăng Long vẫn được dùng nhiều trong văn chương và là niềm tự hào của người dân Hà Nội.

    Ai về xứ Bắc ta đi với Thăm lại non sông giống Lạc Hồng Từ độ mang gươm đi mở cõi Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long (Huỳnh Văn Nghệ)

    Trong thơ văn cổ, Thăng Long cũng được gọi là Long Thành (kinh thành Thăng Long), ví dụ tác phẩm Long Thành cầm giả ca (Bài ca về người gảy đàn ở Thăng Long) của Nguyễn Du.

    Thăng Long - Kẻ Chợ qua nét vẽ của thương nhân người Hà Lan Samuel Baron (1865)

    Thăng Long - Kẻ Chợ qua nét vẽ của thương nhân người Hà Lan Samuel Baron (1865)

  18. Như Quỳnh Tên Nôm là làng Ghênh, xưa thuộc Gia Lâm, phủ Thuận An, xứ Kinh Bắc, nay là địa phận thị trấn Như Quỳnh, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Đây là quê của thái phi Trương Thị Ngọc Chử, mẹ của chúa Trịnh Cương, bà nội của chúa Trịnh Giang và Trịnh Doanh.
  19. Liễu Ngạn Xưa có tên là làng Khe, nay thuộc xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
  20. Ghênh đẻ, Khe nuôi Tương truyền, khi thái phi Trương Thị Ngọc Chử (người làng Ghênh) sinh ra chúa Trịnh Cương thì bị mất sữa, chúa khóc ngằn ngặt suốt ngày đêm, ai dỗ cũng không nín. Khi ấy em con dì ruột của bà Chử là Nguyễn Thị Cảo lấy chồng về làng Khe cũng vừa sinh con nên bà vời vào cung nuôi con cùng. Khi bà Cảo bế cháu lên tay thì Trịnh Cương liền nín khóc và đòi bú. Từ đó bà Cảo ở lại trong cung nuôi con nuôi cháu, dần dần trong dân gian lưu truyền câu này.
  21. Gia Bình Địa danh nay là một huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh, bên bờ Nam sông Đuống.
  22. Gia Bình ngũ hổ Năm con hổ đất Gia Bình, chỉ năm trạng nguyên quê ở Gia Bình, Bắc Ninh: Lê Văn Thịnh (đỗ Trạng năm 1075), Lý Đạo Tái (1298), Nguyễn Quang Bật (1484), Nguyễn Lượng Thái (1553), và Vũ Giới (1557).
  23. Thiên Thai Một dãy núi gồm chín ngọn núi liền nhau (ngọn cao nhất cao 150 mét) tạo thành hình rồng lượn, nằm bên bờ sông Đuống, về phía tây bắc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Trên núi có nhiều đền chùa, từ xưa đã là một thắng cảnh.

    Trên núi Thiên Thai Trong chùa Bút Tháp Giữa huyện Lang Tài Gửi về may áo cho ai? (Bên kia sông Đuống - Hoàng Cầm)

  24. Chùa Phả Lại Xưa tên Chúc Thánh, một ngôi chùa cổ nay thuộc thôn Phả Lại, xã Đức Long, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Chùa thờ thiền sư Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không - hai vị thiền sư có công lớn với vua Lý và tu ở chùa Phả Lại, sau khi mất, hai vị thiền sư được nhân dân tạc tượng thờ và tôn làm Thành hoàng làng.

    Cũng có một ngôi chùa khác tên Phả Lại thuộc thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

  25. Trúc Ổ Một làng nay thuộc xã Mộ Đạo, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Làng có truyền thống "nói tức," nghĩa là cố tình nói khoác cho người nghe bực mình.
  26. Nhà diêm Nhà máy làm diêm quẹt ở Đáp Cầu, Bắc Ninh.
  27. Đại Từ Một làng cổ phía nam kinh thành Thăng Long xưa, nay thuộc phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Làng nằm bên đầm Đại (còn gọi là Linh Đàm).

    Cổng làng Đại Từ

    Cổng làng Đại Từ

  28. Vũ Ninh Tên một ngọn núi ở tỉnh Bắc Ninh, theo sự tích là quê của Thánh Gióng (Phù Đổng Thiên Vương). Thánh Gióng là một trong bốn vị thánh bất tử trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam (tứ bất tử), là người có công dẹp giặc Ân đem lại thái bình cho đất nước. Truyền thuyết kể rằng: Ông sinh ra thời vua Hùng thứ 6 tại xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội, do mẹ ông ướm chân vào một vết chân lớn trên đất về mang thai. Tuy lên ba nhưng Gióng không biết nói cười, đi đứng. Đến khi giặc Ân kéo đến bờ cõi, Gióng bỗng dưng cất tiếng gọi mẹ nhờ mời sứ giả của vua vào, đưa yêu sách đòi áo giáp, roi và ngựa sắt để đánh giặc. Chỉ trong mấy hôm, Gióng vươn vai thành một tráng sĩ cao lớn, cưỡi ngựa sắt vua ban đánh giặc Ân tan tác. Đuổi đám tàn quân đến chân núi Sóc (Sóc Sơn), Gióng cởi áo giáp, thả dao, cùng ngựa bay về trời.
  29. Đại Từ và Vũ Ninh ngày trước có tiếng là độc địa, dễ bị sốt rét.
  30. Hòa Đình Cũng tên là Lồi Đình, tên Nôm là Nhồi, một làng quan họ xưa, nay thuộc phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh.
  31. Khế Cây thân gỗ vừa, có nhiều cành, không cần nhiều ánh nắng. Hoa màu tím hồng pha trắng, mọc ở nách lá hoặc đầu cành. Quả khế có 5 múi nên lát cắt ngang tạo thành hình ngôi sao, quả còn non màu xanh, khi chín có màu vàng. Có hai giống khế là khế chua và khế ngọt. Cây khế là hình ảnh thân thuộc của làng quê Bắc Bộ.

    Lá và hoa khế

    Lá và hoa khế

    Quả khế

    Quả khế

  32. Dao lá trúc Dao sắc bén và mỏng như lá trúc.
  33. Bình vôi Ngày xưa nhân dân ta thường hay ăn trầu với cau và vôi. Bình vôi là dụng cụ bằng gốm hay kim loại để đựng vôi ăn trầu, đôi khi được chế tác rất tinh xảo, và tùy theo hình dạng mà cũng gọi là ống vôi.

    Bình vôi bằng gốm làng Dưỡng Động (Hải Phòng)

    Bình vôi bằng gốm làng Dưỡng Động (Hải Phòng)

  34. Têm trầu Quệt vôi vào lá trầu không, cuộn lại rồi cài chặt lại bằng cuống lá để thành một miếng trầu vừa miệng ăn.

    Têm trầu

    Têm trầu

    Trầu têm cánh phượng

    Trầu têm cánh phượng

  35. Chợ phiên Chợ họp có ngày giờ nhất định.
  36. Chĩnh Đồ đựng bằng sành hoặc đất nung, miệng hơi thu lại, đáy thót, nhỏ hơn chum. Xem thêm Cái chum
  37. Quan ba Tên gọi thời Pháp thuộc của cấp hàm đại úy (capitaine) Gọi vậy vì quân hàm này có 3 vạch.
  38. Quan sáu Cách gọi thời Pháp thuộc của quân hàm Đại tướng.
  39. Quan năm Cách gọi thời Pháp thuộc của quân hàm đại tá. Gọi vậy vì quân hàm này có 5 vạch.
  40. Tứ Trưng Tên Nôm là Kẻ Dưng, nay là một xã thuộc huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Đây là một vùng đất có nền văn hiến lâu đời, với đầm Dưng, chợ Dưng, đền Dưng, và lễ hội thờ Đức Ông vào mùng 6 tháng Giêng âm lịch hằng năm.

    Đền Dưng

    Đền Dưng

  41. Hương Canh Tên nôm là làng Cánh hay Kẻ Cánh, thuộc huyện An Lãng, xứ Sơn Tây thời Hậu Lê, nay là thị trấn Hương Canh, huyện lị huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Tại đây có phiên chợ Cánh, còn gọi là chợ Hương Canh, ngày xưa mỗi tháng họp tới 12 phiên vào các ngày hai, ngày tư, ngày sáu và ngày chín hàng tháng; trong đó ngày hai, ngày sáu là phiên chính, ngày tư ngày chín là phiên xép. Chợ Cánh có bán đủ các mặt hàng. Đặc biệt có dãy quán lò rèn luôn đỏ lửa để sửa chữa nông cụ tại chỗ cho bà con nông dân kịp lấy ngay. Ngoài ra Hương Canh còn nổi tiếng có nghề thợ xây. Làng có cả đường bộ, đường thủy và đường sắt chạy qua, rất thuận tiện cho giao thương.

    Lễ hội kéo song ở Hương Canh

    Lễ hội kéo song ở Hương Canh

  42. Đại Tự Tên nôm là kẻ Tự, nay là một xã thuộc huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
  43. Cựu Ấp Tên nôm là kẻ Rau, nay là xã Liên Châu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Làng thờ Tam Giang Đại Vương Thổ Lệnh, có nghề nuôi tằm. Hàng năm làng tổ chức lễ hội vào ngày 10 tháng Năm có các tục đua thuyền cướp kén ở ngã Ba Hạc.
  44. An Nam Tên gọi của nước ta trong một số giai đoạn lịch sử. Tiêu biểu nhất có lẽ là dưới thời kì đô hộ của thực dân Pháp, khi nước ta bị chia thành ba kỳ.
  45. Hải Phòng Một địa danh nay là thành phố Hải Phòng, thành phố cảng lớn nhất thuộc miền Bắc nước ta. Theo thư tịch cũ, toàn địa bàn xứ Đông (Hải Dương) xưa - bao gồm cả Hải Phòng ngày nay - thời Hùng Vương thuộc bộ Dương Tuyền, là một trong 15 bộ của nhà nước Văn Lang. Đến cuối thế kỉ 19, Hải Phòng đã thành một trong các thành phố lớn nhất nước. Về văn hóa, tại đây có nhiều đền chùa thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo, Lê Hoàn và Ngô Quyền, đồng thời là quê hương của các nhạc sĩ lớn như Văn Cao, Hoàng Quý, Đoàn Chuẩn, Ngô Thụy Miên... Hải Phòng cũng là một trung tâm du lịch nổi tiếng của Việt Nam với bãi biển Đồ Sơn và quần đảo Cát Bà. Vì có nhiều hoa phượng nên Hải Phòng còn được gọi là thành phố hoa phượng đỏ.

    Một góc Hải Phòng

    Một góc Hải Phòng

  46. Thám hoa Học vị của người đỗ thứ ba trong khoa thi Đình thời phong kiến (sau Trạng nguyên và Bảng nhãn).
  47. Tú tài Trong thời kì phong kiến, tú tài là danh hiệu dành cho người thi hương đỗ dưới hàng cử nhân. Người đỗ tú tài thường được gọi là ông Tú, cậu Tú. Vợ họ thì được gọi là cô Tú hoặc bà Tú.
  48. Xứ Đoài Tên gọi nôm na của xứ Sơn Tây, một xứ thừa tuyên (đơn vị hành chính) thời Hậu Lê, nằm về phía tây kinh thành Thăng Long.

    Tứ xứ

    Tứ xứ

  49. Tổng đốc Chức quan đứng đầu bộ máy cai trị một tỉnh lớn hoặc vài tỉnh dưới thời nhà Nguyễn, mang hàm tòng nhất phẩm hoặc chánh nhị phẩm.

    Vợ chồng Tổng đốc tỉnh Hà Đông ngày trước

    Vợ chồng Tổng đốc tỉnh Hà Đông ngày trước

  50. Xứ Đông Tên một địa danh cổ, một trấn ở phía Đông của Kinh thành Thăng Long xưa. Xứ Đông bao gồm một vùng văn hóa rộng lớn ở Đông Bắc đồng bằng sông Hồng, gồm các tỉnh Hải Dương (nằm ở trung tâm), Hải Phòng, Quảng Ninh và một phần đất thuộc hai tỉnh Hưng Yên và Thái Bình.

    Tứ xứ

    Tứ xứ

  51. Án sát Chức quan đứng đầu ty Án sát, trông coi việc hình (luật lệ, xét xử) trong một tỉnh dưới thời nhà Nguyễn, thuộc hàng tam phẩm.
  52. Ninh Bình Một tỉnh nằm ở cửa ngõ cực nam miền Bắc và khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Vùng đất này từng là kinh đô nước ta vào thế kỉ 10, là địa bàn quan trọng về quân sự qua các thời kỳ Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Tây Sơn. Với vị trí đặc biệt về giao thông, địa hình và lịch sử văn hóa, Ninh Bình là tỉnh có tiềm năng du lịch phong phú và đa dạng.

    Cố đô Hoa Lư

    Cố đô Hoa Lư, Ninh Bình

  53. Tuần phủ Chức quan đứng đầu một tỉnh nhỏ dưới thời nhà Nguyễn.
  54. Tri phủ Chức quan đứng đầu một phủ hoặc châu (tương đương với một huyện nhưng có vị trí quan trọng hơn), có quyền cao nhất cả về dân sự lẫn quân sự trong địa hạt đó.
  55. Quảng Bình Tên một tỉnh thuộc vùng duyên hải Bắc Trung Bộ, nằm ở vùng hẹp nhất của nước ta từ Đông sang Tây (chỉ dài độ 50 km). Vào thế kỉ 11, Lý Thường Kiệt là người đã xác định và đặt nền móng đầu tiên của vùng đất Quảng Bình trọn vẹn trong cương vực lãnh thổ Đại Việt. Trong thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh, Quảng Bình bị chia cắt tại sông Gianh. Từ 20/9/1975 đến 1/7/1989, tỉnh Quảng Bình được sáp nhập vào tỉnh Bình Trị Thiên.

    Quảng Bình nổi tiếng với di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, các di tích lịch sử thời Trịnh - Nguyễn phân tranh như thành Đồng Hới, Lũy Thầy... Nơi đây cũng là quê hương của nhiều danh nhân văn hóa - lịch sử như Dương Văn An, Nguyễn Hữu Cảnh, Hoàng Kế Viêm, Võ Nguyên Giáp, Ngô Đình Diệm...

    Vường quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng thuộc Quảng Bình

    Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng thuộc Quảng Bình

  56. Răng vàng Trong quá trình nhuộm răng đen, bước đầu răng có màu cánh gián (hơi ánh màu vàng đất), nếu nhuộm tiếp thì mới có màu đen. Một số người không muốn nhuộm nữa, để màu vàng, nên gọi là răng vàng.
  57. Gùa Cây thân gỗ, thường xanh (lá xanh hầu như quanh năm), còn có những tên gọi khác là báng, páng, gừa, đa gáo, đa chai, sung chai. Cây sinh trưởng hầu như trên mọi địa hình nước ta.

    Cây gùa

    Cây gùa

    Lá cây gùa non

    Lá cây gùa non

  58. Tào Khê Tên một con sông trước chảy qua làng Đình Bảng, tỉnh Bắc Ninh. Sông nay đã cạn, để lại dấu tích là những ao trũng quanh làng.
  59. Bài ca dao được cho là xuất phát từ làng Đình Bảng (Bắc Ninh), quê hương của Lý Thái Tổ, người dựng lên vương nghiệp nhà Lý. Xưa làng có rừng cây báng rậm rạp, về sau bị chặt trụi (nay người ta đang trồng lại). "Lý nay lại về" ý nói lòng thương tiếc của người dân Đình Bảng về sự kiện nhà Lý bị nhà Trần chiếm ngôi, con cháu họ Lý người bị giết, kẻ phải lưu lạc tha hương.
  60. Đầm Long Chú thích này đang để ngỏ. Nếu bạn có thông tin về Đầm Long, hãy đóng góp cho chúng tôi.
  61. Sáo Còn gọi là mành sáo, là tấm đan bằng tre, có nan to, thường treo trước nhà hoặc gần cửa sổ để che nắng. Sáo cũng có thể được treo trước bàn thờ.

    Mành sáo

    Mành sáo

  62. Ấm tích Loại ấm thường làm bằng sành hoặc gốm sứ, lớn hơn ấm trà độc ẩm (loại ấm thông dụng trong phòng khách ngày nay, có kích cỡ nhỏ vì nguyên thủy chỉ dành cho một người uống), thường được bỏ vào giỏ ủ đan bằng tre hay mây, bên trong có chằn vải bông giữ nhiệt. Ấm tích thường được dùng hãm chè xanh hoặc trà tươi, có quai cầm bên trên và có khả năng ủ chè nóng lâu.

    Bộ ấm tích

    Bộ ấm tích

  63. Thước Đơn vị đo chiều dài cổ ở nước ta. Một thước ngày đó bằng 40 cm. Ngày nay một thước được hiểu là 1 m.
  64. Quang Trung Một làng nay thuộc xã Phương Trung, huyện Thanh Oai, Hà Nội, có tên nôm là làng Chuông. Làng nổi tiếng với nghề làm nón lá. Chợ làng cũng gọi là chợ Chuông, chuyên bán nón và các nguyên vật liệu làm nón.

    Phơi lá lụi để làm nón

    Phơi lá lụi để làm nón

  65. Làng Già Chú thích này đang để ngỏ. Nếu bạn có thông tin về Làng Già, hãy đóng góp cho chúng tôi.
  66. Khương Thượng Còn có tên khác là làng Sại, trại Ông Đình, làng Đình Gừng, một làng cổ nay thuộc địa bàn phường Khương Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội. Làng có giếng cổ được cho là vết tích của "giếng Cao Biền."
  67. Khua Vành tròn đan bằng tre hoặc đay, gắn vào lòng nón để đội cho chắc.

    Khâu nón lá thủ công

    Khâu nón lá thủ công

  68. Quai thao Còn gọi quai tua, phần quai để giữ nón quai thao. Một bộ quai thao gồm từ hai đến ba sợi thao (dệt từ sợi tơ) bện lại với nhau, gọi là quai kép, thả võng đến thắt lưng. Khi đội phải lấy tay giữ quai ở trước ngực để tiện điều chỉnh nón.

    Chiếc nón quai thao ngày xưa

    Chiếc nón quai thao ngày xưa

  69. Nón quai thao Còn gọi là nón ba tầm, nón thúng, một loại nón xưa của phụ nữ đồng bằng Bắc Bộ. Nón làm bằng lá gồi hoặc lá cọ, mặt nón rộng 70 - 80 cm, hình bánh xe, đỉnh bằng, có vành cao độ 10 - 12 cm. Mặt dưới nón gắn một vành tròn vừa đầu người đội, gọi là khua. Quai nón dài, khi đội thì thả võng đến thắt lưng, người đội dùng tay giữ quai. Quai nón làm bằng từ một 1 tới 8 dây thao đen kết bằng tơ, chỉ, ngoài bọc tơ dệt liên tục. Đời nhà Trần, nón này được cải tiến cho cung nữ đội và gọi là nón thượng.

    Phụ nữ Hà Nội đội nón quai thao (đầu thế kỉ 20).

    Phụ nữ Hà Nội đội nón quai thao (đầu thế kỉ 20).

  70. Bấy chầy Từ ấy đến nay, bao lâu nay (từ cổ).

    Nỗi nàng tai nạn đã đầy, Nỗi chàng Kim Trọng bấy chầy mới thương. (Truyện Kiều)

Phân trang
  1. 1
  2. 2
  3. »

Từ khóa » Tục Ngữ Bắc Ninh