Tục Thờ Mẫu Tại Hải Phòng - Diễn Đàn Hát Văn Việt Nam
Có thể bạn quan tâm
Đăng nhập
Diễn Đàn Hát Văn Việt Nam Trang chủ Diễn đàn > Tín ngưỡng Tứ phủ > Tin tức Đạo Mẫu > Tục thờ Mẫu tại Hải Phòng Thảo luận trong 'Tin tức Đạo Mẫu' bắt đầu bởi Feng, 14/2/12.
Lượt xem: 4,898
-
Feng Member
Địa bàn thành phố Hải Phòng nằm trong vùng châu thổ sông Hồng, rộng khoảng 1526,3 km[SUP]2[/SUP], nhưng địa hình, địa mạo đa dạng, phức tạp, gồm đồng bằng, đồi núi, bán đảo, quần đảo, nhiều sông ngòi, bờ biển dài 125 km, có 5 cửa sông lớn đổ ra bể, trong đó có sông Bạch Đằng lịch sử. Do điều kiện thiên nhiên thuận lợi nên vùng này có người Việt cổ sinh tụ thời tiền sử, góp phần tạo dựng văn hoá Hạ Long nổi tiếng. Vùng này gồm toàn bộ các huyện ven biển xứ Đông xưa, được coi là phên dậu của kinh đô Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội. Nhiều cuộc chiến tranh vệ quốc khốc liệt, vẻ vang của dân tộc, nhiều cuộc cướp phá của hải phỉ, nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân lớn thời phong kiến đã diễn ra trên ảnh đất này. dân làm nhiều nghề, nhưng nghề nông, nghề cá, nghề muối chiếm vị trí chủ đạo. Quá trình đô thị hoá chủ yếu tính từ sau Hiệp ước Giáp Tuất (1874) đến nay qua hai thể chế thực dân và xã hội chủ nghĩa. Hải Phòng thành cửa biển chính của miền Bắc, một trung tâm đô thị loại I cấp quốc gia. Do đó, dân ở khắp vùng đất nước, người nhiều nước đến làm ăn, sinh sống. Tất cả đều mang theo phong tục, tập quán, tôn giáo tín ngưỡng hoà đồng cùng dân bản địa. Vì là dân miền ven biển nên tín ngưỡng dân gian mang đậm yếu tố sông nước của cư dân nông nghiệp, ngư nghiệp bắt nguồn từ tín ngưỡng phồn thực. Nhưng do biến động lớn về thiên tai nhân hoạ ở đây dẫn đênứ những đợt thiên di lớn của cư dân, lại chịu ảnh hưởng, tác động sâu của Nho giáo, của Nhà nước phong kiến nên dấu tích tín ngưỡng phồn thực ngày càng mờ nhạt mà các vị thàn linh sau đều trở thành những vị chính thần, phúc thần, đều được sắc phong của nhà vua và gia phong rất mỹ tự cao quý; nhiều vị lại được quan Hàn lâm học sĩ Nguyễn Bính biên soạn thần tích rõ ràng vào năm Hồng Phúc thứ nhất (1572) và Quản giám bách thần Nguyễn Hiền thừa sao vào niên hiệu Vĩnh Hựu (1735-1740). Chúng ta đều biết thời gian biên soạn thần tích là lúc miền Bắc nằm trong vùng nhà Mạc quản lý; hơn nữa, năm này vua Lê Kính Tông bị Chúa Trịnh bức hại cùng 4 hoàng tử. Chắc Nguyễn Bính khó có thể thâm nhập thực tế vùng nhà Mạc kiểm soát. Khảo sát các thần Thành hoàng được thờ ở miền bể Hải Phòng nay thấy nhiều vị dân khai không rõ sự tích mà danh tính cũng rát mơ hồ như: Liễn Đầu, Đề điếm Toàn Nghĩa, Thiên Muối, Đống Dõi, Hô Ha, Hiển Huống, Sáng Tha… Còn thần sắc, dân khai có vị thần được vua Trần Anh Tông, vua Lê Thái Tổ… ban sắc nhưng chỉ thấy sắc của vua đời Nguyễn. Sắc cổ nhất là của triều Mạc ở từ Lương Xâm thờ Ngô Quyền, thuộc quận Hải An, nơi có thành Vành Kiệu tương truyền do Ngô Quyền sai đắp khi ra Bạch Đằng đánh dẹp quân Nam Hán. Như vậy, để tìm đúng bản lai diện mục các vị nữ thần miền này quả không dễ, tham luận này chỉ nhằm khảo tả, tìm hiểu những tư liệu hiện còn ở các đền miếu và tư liệu điều tra của Pháp quốc Viên Đông học viện, của Hội Folklore Đông Dương những năm 1937-1938. Kê khai trên cho biết có đến 144 nữ thần, nhiều vị là thiên thần như Bạch Nhạn công chúa, Hoàng Bà Long Hội, Nữ Oa tôn thần, Thất Tinh công chúa, Thiên hoàng Tiên công chúa, Liễu Hạnh công chúa…Nhiều vị là Sơn Thần như: Ninh Sơn công chúa, Sơn thần Ngọc Hoa công chúa,Thái đường Vĩnh Sơn Minh Đạt phu nhân… Nhiều vị là Thuỷ thần như: Chúa tiên Hồng nữ thuỷ thiên thần, Đông cung Miếu môn phu nhân, Hoàng cô Kinh Hào, Mẫu Tài Long, Quảng Tế phu nhân, Ả Náng… Số nhân thần ít hơn, có những vị thần tích ghi ở vào các thời đã có sử nh Lê Chân, danh tướng đời vua Trưng; Hoàng Thị Lãng đời Tiền Lý; Mai Thị Cầu, con gái Mai Thúc Loan tức Mai Hắc Đế; Phùng Thị Trinh, chị gái Phùng Hưng tức Bố Cái Đại Vương thời thuộc Đường; Vũ quận Quyến Hoa công chúa; Từ Nhan phu nhân; Không Hoàng công chúa, con gái Đinh Bộ Lĩnh, đời Ngô; Phạm Cúc Nương đời Tiền Lê; Đỗ Thị Uyển, vợ Đào Cam Mộc, mẹ Đào Lôi; Đỗ Hồng Nương, Lý Thị Châu, Trần Thị Hảo đời Hậu Lý; Hoàng Thị Châu, ba chị em công chúa Thiên Thuỵ, Chiêu Hoa, Chiêu Chính là em gái vua Trần Nhân Tông; Bùi Thị Từ Nhiên, Tống Thái hậu – Dương Thị Hương và 3 công chúa; Mãn Đường Hoa, vợ Đinh Dự là tổ nghề hát ca trù nước ta, công chúa Liễu Hạnh đời Hậu Lê; Hoàng Thái hậu Đặng Thị Hiếu, người làng Cổ Trai, thân mẫu Mạc Thái Tổ Đăng Dung, Hoàng hậu Nguyễn Thị Ngọc Toản, người xã Trà Phương, thân mẫu Mạc Thái Tông Đăng Doanh, đời Mạc; Nguyễn Thị Ngọc Đĩnh, người làng Đại Lộc, huyện Kiến Thuỵ, phi của Bình An Vương Trịnh Tùng, bà có công làm đình Vàng, chùa Đoài, chùa Đông của xã… Trần Thị Ngọc Yến, người làng Hoàng Kênh, xã Hưng Nhân, Vĩnh Bảo, phi của chúa Trịnh Tùng(?) có công dựng chùa làng và giúp đỡ dân lúc cơ hàn, đau ốm. Đời Nguyễn Gia Long, vua sai làng An Đà nay thuộc quận Ngô Quyền thờ hoàng phi Nguyễn Thị Kim lấy Lê Chiêu Thống khi còn là hoàng tử sau uống thuốc độc tự tạn, được ban danh hiệu Tỳ Bà liệt nữ, phong phúc thần. Qua lược ke trên chưa thật đủ, đúng, thấy rõ số nữ thần (kể cả nam thần) thời tiền sử đông hơn, nhiều hơn, rồi giảm dần, dẫn đến thời phong kiến tự chủ từ Hậu Lê về sau, các triều đại độc tôn Nho giáo, số nữ thần dcc thờ rất ít, có người như Bà Đế ở Đồ Sơn được nhân dân tôn sùng nhưng không được đưa vào tự điển của triều đình. Qua thần tích dân khai thấy rõ nhiều vị thần thân thế sự nghiệp do thất truyền (!), nhiều vị có danh hiệu nhưng không rõ thánh phụ, thánh mẫu là ai, có vị như sinh mẫu của Hùng Sơn, liệt sĩ chống giặc Ân, dân chỉ nhớ tên và thờ thánh mẫu. Thần tích chắc phản ánh đúng sự thực vì làm sao mà biết ai là thánh phụ. Số lượng nữ thần thờ nhiều, nhưng tục lệ, lễ hội cũng giống như các vị thần khác, chỉ có các vị sau có điểm tiêu biểu: 1. Nữ tướng Lê Chân
Bài viết mới
được dân coi là chủ thần của nội đô Hải Phòng. Bà quê gốc ở làng Vẻn (An Biên) huyện Đông Triều nay thuộc tỉnh Quảng Ninh, cha là Lê Đạo, thày thuốc, mẹ là Trần Thị Châu. Cha mẹ phúc hậu nhưng hiếm muộn, cầu tự ở chùa Yên Tử sinh được gái hiền. Cha mẹ chăm sóc dạy dỗ. Lúc ấy nước ta bị Đông Hán cai trị, một viên quan nhà Hán thấy Lê Chân tài sắc, ép làm tỳ thiếp. Gia đình và nàng từ chối, viên quan nhà Hán sát hại cha. Lê Chân đem gia nhân về trốn ở nội đô (Hải Phòng ngày nay), chiêu binh luyện võ, tích chứa lương thảo, chờ dịp báo thù nhà nợ nước. Năm 40, Hai Bà Trưng khởi nghĩa, Lê Chân đem đội hương binh theo giúp, lập nhiều chiến công xuất sắc, được Hai Bà tin dùng, giao cho trấn thủ cả miền Hải Đông. Khi Mã Viện đem đại quân sang đánh, Lê Chân chỉ huy chặn giặc nhiều trận. Hai Bà tử trận, Lê Chân cùng các bộ tướng khác lui dần, lập phòng tuyến sông Đáy chống cự. Sau thế cùng lực tận, bà nhảy xuống sông Ngân, một nhánh sông Đáy tự tận. Hồn trinh thác vào hòm đá trôi về bến làng Vẻn (Hải Phòng) thì dừng lại, dân ra rước về, đến cánh đồng Mạ, hậu cung đền Nghè nay, thì chão đứt, hòm đá nằm im không chuyển được. Dân tin bà muốn ngự ở đây nên lập miếu thờ. Khi rước hòm đá về vào lúc chiều muộn, dân làng chỉ kiếm được cua bể và bún đem dâng cúng. Từ đó thành lệ, lễ phẩm các ngày sự lệ đền Nghè, nhất thiết phải có cua bể và bún; về sau, dân còn tổ chức dâng hoa thuỷ tiên, làng có cuộc thi, ai được bình thuỷ tiên gọt tỉa khéo nở đúng giao thừa thì có thưởng. Trong thế chiến II, không nhập được củ thuỷ tiên của Trung Quốc, người ta phải dùng quả đu đủ xanh tỉa, lát, nhuộm rất công phu để làm thuỷ tiên giả. Đền Nghè làng An Biên, các lễ tiết do đội tế những quan đảm nhiệm. Dịp hội hè, ngoài các trò vui khác, phải tổ chức thi vật vì theo thần tích. Lê Chân tổ chức trò thi vật để luyện quân; dấu tích xới vật của nghĩa quân do Bà xây dựng ở Mai Động – Hoàng Mai, Hà Nội bây giờ. Nữ tướng cũng xây dựng đội thuỷ quân mạnh, đặt căn cứ ở trang Đà Cụ, xã An Biên bên bờ lạch Trai của trang. Thời Pháp thuộc, xã an Biên cắt vào nội đô Hải Phòng, số đinh điền còn lại lập xã An Đà (giữ nghĩa gốc An Biên – Đà Cụ). Đền An Đà thờ một nữ tỳ tướng của Lê Chân, chỉ huy thuỷ quân, nay vẫn còn. Xưa, hội làng có hội bơi chải nay không còn vì hai đầu lạch đã bị chặn làm hồ An Biên.
2. Công chúa Thiên Thuỵ là chị ruột Trần Nhân Tông. Theo chính sách khai hoang của triều Trần, các vương công, trưởng công chúa được khai hoang lập điền trang. Bà đã khai khẩn được cả một tổng Nghi Dương gồm 5 xã thuộc giang phận xã Ngũ Phúc, huyện Kiến Thuỵ nay và một ấp nữa ở thôn Quang Khải, huyện An Lão. Bà là người nhân từ thông tuệ, có nhiều sáng kiến chiêu mộ dân lưu tán, giúp họ ngưu canh điền khí, thuốc men…nên sinh thời dân coi như mẹ hiền. Tuy con vua nhưng sinh hoạt giản dị, gần dân. Bà thường dùng mõ để làm hiệu lệnh để nhắc điền nô đi làm, đi nghỉ nên dân gọi là Bà Chúa Mõ. Bà thường cho trẻ con trong ấp tập võ, tập đấu vật, tập bơi lội, làm cầu làm quán, làm chùa cho dân ấp. Trần Nhân Tông nhiều lần về thăm chị, mở hội Vô Già ở chùa Mõ. Bà mất cùng ngày với Trúc Lâm đại sĩ Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Dân nhớ công ơn, lập đền thờ ở gần chùa, tục gọi là đền Mõ, được xếp vào loại linh từ của huyện cổ Nghi Dương. Dịp lễ hội chính, đền Mõ bao giờ cũng có mưa rửa đền nên ngạn ngữ có câu: “Rằm mưới sáu chẳng mưa đâu, mười bảy, mười tám mưa thâu ba ngày, hai mươi thì nắng đày đày, hai mốt mưa suốt cả ngày lẫn đêm…” Khuôn viên đền, chùa Mõ rất rộng, cây cối um tùm, cổ thụ xum xuê, có nhiều chim chóc, trăn rắn. Trong đền trang trí đủ loại rắn làm bằng vải gồm bạch xà, hoa xà, thanh xà… trông như rắn thật. Ngày hội, dân cả tổng hội tế, đủ các trò vui vật võ, bơi chải, rước nước, thả hoa đăng và đàn chay. Dân trong tổng có tục hát đúm, thu hút nam thanh nữ tú cả một vùng quê.
3. Công chúa Liễu Hạnh, một trong tứ bất tử Việt Nam. Theo thần phả, công chúa vốn là Ngọc Hoa công chúa, con gái Ngọc Hoàng do phạm tội bị giáng xuống trần đầu thai làm con Lê Thái Công ở Kẻ Dày, thuộc huyện Vụ Bản, Nam Định, khi trưởng thành lấy Trần Hào Lang sinh một con. Năm 21 tuổi, không bệnh mà mất. Thực ra công chúa được gọi về tiên giới. Nhưng quyến luyến cõi trần, công chúa đã giáng thế 3 lần, hiển hiện kỳ ảo, linh ứng để khuyến thiện trừng ác. Vua Lê sai quân đánh phá triệt bỏ đền, quán của công chúa nhưng thất bại. Sau phải nhờ Đức Phật cảm hoá trở thành một phúc thần hộ quốc, che chở cho dân nên được nhiều nơi lập đền phủ thờ. Ở Hải Phòng có 17 đền, phủ thờ Công chúa với nhiều danh hiệu Bà Chúa Liễu, Vân Hương thánh mẫu, Vân Cát thần nữ… Nơi thờ chính là phủ Thượng Đoạn, nay thuộc quận Ngô Quyền mà Đại Nam Nhất thống chí có ghi ở mục đền, miếu của xứ Hải Dương xưa. Khi cùng cha dạy học ở làng Lạc Viên gần phủ Thượng Đoạn, nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đã viết truyện Vân Cát nữ thần in trong tập Tục truyền kỳ của bà. Lễ hội chính ở đền phủ thờ Mẫu Liễu phổ biến ở tục hầu bóng mà vũ điệu, âm nhạc (hát chầu) đã được các nhà nghiên cứu chuyên ngành khảo cứu công phu. Ở đền Hoàng Châu (Cát Hải) thờ Công chúa và đệ tử có tục đua ngựa gỗ. Ngày hội chính, 3 giáp làng Hoàng Châu đem ngựa gỗ đặt trên giá gỗ có bánh xe gỗ của giáp mình ra đua. Mỗi giáp chọn trai tráng khoẻ mạnh, đạo đức tốt, quang ánh dự đua do một viên chỉ huy. Thắng thua do tốc độ, lượn tròn lượn khéo không mắc lỗi. Lễ tục đua ngựa gỗ khiến ta có thể liên tưởng đến những cuộc giao tranh giữa quân triều đình với quân của Mẫu Liễu. Trò chơi kéo chữ đặc sắc ở Hội Phủ Dầy không thấy ở nơi thờ Mẫu Liễu ở Hải Phòng. Trò chơi phổ biến là đua thuyền và rước nước.
4. Dương Thái hậu. Mẹ vua tống Đế Bính, bà tên huý là Dươnbg Thị Hương. Năm 1279, triều đình Nam Tống bị quân Mông Cổ truy đuổi, vua quan quân lính trong đó có Dương Thái hậu cùng ba con gái phải nhảy xuống bể tự tận. Thi hài Thái hâu và ba công chúa dạt vào cửa Cờn (Cần/Càn Hải) Quỳnh Lưu được dân chài địa phương mai táng, sau hiển linh âm phù vua Trần Anh Tông đánh dẹp Chiêm Thành quấy phá biên giới năm 1312 nên được phong phúc thần. Khi Thái hậu gieo mình xuống biển, một món tóc của bà dạt vào cửa Ngãi Am, huyện Vĩnh Bảo, đẩy mãi vẫn không thấy trôi, bà báo mộng cho dân sở tại, dân rước về lập miếu thờ có nhiều hiển hiện linh ứng phò vua giúp nước. Niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 7 (1712) âm phù Quế quận công Nguyễn Đức Uyên người Quế Ô Bắc Ninh đắp được đê đá Ngãi Am ngăn mặn, bão tố cho cả một vùng. Ở Hải Phòng có đến 26 đền, miếu thờ Dương Thái hậu từ Bến Gót – Cát Hải đến cửa bể Ngãi Am, vĩnh Bảo, trong đó có nhiều đền to miếu lớn, dân sùng tín.
Lễ hội các đền thờ Dương Thái hậu ngoài các trò vui phổ biến của hội hè miền Bắc châu thổ sông Hồng, chỉ có các cuộc bơi chải ở Cát Hải và Quần Mục là có nét riêng, dân chài ở đây đua ở ngoài biển. Sau khi rời điểm xuất phát trước cửa miều thờ rồi lao ra biển, người xem đông nghịt trên bờ chỉ trông thấy các tay đua khi vào gần bờ. Khi mãn cuộc, các tay đua thân trần, khố bao vào đền làm lễ tạ. Ngạn ngữ trong vùng có câu: “Vui xem hát, nhạt xem bơi, tả tơi xem hội…” Nhưng nhất niên nhật lệ cứ ngày hội chèo bơi ở đền Dương Thái hậu, dân quanh vùng vẫn nô nức đi xem. 5. Bà Đế Đồ Sơn. Xuất thân gia đình nề nếp họ Ngô (Có thuyết họ Đào) ở Đồ Sơn. Thời thiếu nữ nổi tiếng tài sắc, hiều hạnh khiến nhiều trai làng trong đó có con những hào lý quyền hành cầu hôn, nhưng nàng đều từ chối, vì cớ phải lo phụng dưỡng cha mẹ già yếu. Một buổi nàng đi cắt cỏ ở sườn đồi, vừa làm vừa hát. Tiếng hát trong trẻo vang xa đến tai chúa Trịnh đang dừng thuyền khi tuần du trên biển. Chúa say mê giọng hát sai lính tìm bắt về hầu, nàng cự tuyệt bèn bị chúa cưỡng hiếp. Nàng về khóc lóc kể với mẹ cha. Lần ấy, nàng bị mang thai, bọn cường hào dựa vào lệ làng khe khắt, bắt buộc đá buông sông. Nàng cầu nguyện Hoàng thiên hậu thổ xét soi, nếu thấu oan tình thì không bị chết chìm. Quả nhiên, đúng với ý nguyện. Nhưng viên cường hào thù ghét nàng đã làm y bẽ mặt vì bị từ hôn nên thuê tiền ba tên côn đồdìm chết người con gái trinh thục. Sau khi qua đời, nàng hiển linh làm chết tươi những kẻ hại mình và phù hộ cho dân làng yên ổn, làm ăn thịnh vượng. Paul Munier, một nhà Đông phương học, đã sưu tầm bài viết huyền thoại Bà Đế ( La légende de Ba Dé). Trịnh Cao Tưởng có lý khi nêu giả thiết “huyền thoại Bà Đế Đồ Sơn là âm hưởng còn lại của xã hội mẫu hệ đã ẩn mình rất sâu trong quá khứ được người Đồ Sơn giữ gìn, củng cố, đắp xây trên bình diện lễ thức” (Non nước Đồ Sơn – NXB Văn hoá H. 1978).
Xưa, trong đền có một tấm lưới gaiu nâu, một bơi chèo và một đoạn chạc (dây thừng) nhuộm màu nâu sẫm. Theo truyền ngôn, tấm lưới ngư dân dâng để Bà ban cho đánh được nhiều tôm cá. Còn bơi chèo và dây chạc là chứng tích tội ác của bọn hung đồ. Ngư dân Đồ Sơn xưa có lệ khi ra khơi phải vào đền lễ trình, khi về phải dâng cá lễ tạ. Các ngày 24,25,26 tháng hai là ngày hội chính, có tục hát đúm và hầu đồng cầu vía bà. Tóm lại, các vị nữ thần được dân Việt miền bể Hải Phòng sùng kính thờ phụng hầu hết là thần Việt, chỉ có Tứ Vị Thánh Nương là người Trung Quốc. Lễ nghi, tập tục, đồ dâng cùng…dần dà đã được lễ tiết hoá theo quan điểm Nho giáo, theo điền lệ của triều đình phong kiến tự chủ Việt Nam. Những “đàng hèm”, “hèm” (fente) chỉ còn dấu vết mờ nhạt. Văn chúa bà Hưng Ninh - Biển Quốc Đoan Trang bởi Nguyễn Ngọc Tú, 31/1/25 lúc 11:52
Meet Women Looking for Fun in Your Town bởi ducdienls, 1/1/25 lúc 09:51 Feng, 14/2/12 #1
Bình Luận Bằng Facebook
Chia sẻ trang này
- Google+
- Tumblr
- Login with Facebook
- Tích vào đây để đăng ký
- Vâng, Mật khẩu của tôi là:
- Bạn đã quên mật khẩu?
Đăng ký! 
Thành viên trực tuyến
Tổng: 47 (Thành viên: 0, Khách: 36, Robots: 11)Thống kê diễn đàn
Đề tài thảo luận: 7,005 Bài viết: 61,753 Thành viên: 28,763 Thành viên mới nhất: thienphuc nb





Từ khóa » đền Thờ Mẫu Liễu Hạnh ở Hải Phòng
-
Phủ Thượng Đoạn: Công Trình Nghệ Thuật đặc Sắc
-
Tìm Hiểu Về Phủ Thượng Đoạn – Hải Phòng
-
Review Tham Quan Phủ Thượng Đoạn Hải Phòng ở đâu,lịch Sử ...
-
Phủ Thượng Đoạn (Phu Thuong Doan Temple), Hải...
-
Di Tích Phủ Thượng Đoạn ở Hải Phòng - Tiếp Thị Sài Gòn
-
Phủ Thượng Đoạn
-
Lễ Hội Truyền Thống Phủ Thượng Đoạn
-
Đền Mẫu Liễu Hạnh - Chốn Linh Thiêng Tọa Trấn Đèo Ngang - Vinpearl
-
Phủ Thượng Đoạn ở Hải Phòng - TripHunter
-
Đền Mẫu Đồng Đăng. Ảnh: Nguoicaotuoi. - Cồ Việt Mobile
-
[PDF] Tín Ngưỡng Thờ Mẫu Của Người Việt ở Thành Phố Hải Phòng
-
[Hải Phòng] Đền Tiên Nga - ĐẠO MẪU VIỆT NAM
-
Hải Phòng - TÌM HIỂU THUỶ NGUYÊN Di Tích Lịch Sử Kháng Chiến ...
-
Đền Thờ Mẫu Liễu Hạnh đón Khách Du Xuân Những Ngày đầu Năm ...
-
Đền Thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh Quảng Bình Nổi Tiếng Linh Thiêng
-
Liễu Hạnh Công Chúa – Wikipedia Tiếng Việt