Ứng Dụng Tiến Bộ Khoa Học Kỹ Thuật Trong Việc Sử Dụng Một Số ...
Có thể bạn quan tâm
- Trang nhất
- Giới thiệu
- Cơ cấu tổ chức
- Lãnh đạo sở
- Chức năng nhiệm vụ
- Hội đồng KHCN các cấp
- HĐ KHCN cấp tỉnh
- HĐ KHCN cấp Ngành
- HĐ KHCN cấp huyện, TX, TP
- HĐ KHCN các Viện - Trường
- Các đơn vị KHCN không chuyên
- Ban chỉ đạo Chuyển đổi số các cấp
- Văn bản pháp quy
- Tổ chức
- Hoạt động KHCN
- Quản lý CN - Sở hữu trí tuệ
- An toàn bức xạ hạt nhân
- Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng
- Thông tin & Thống kê KHCN
- Chuyên mục Đề tài - dự án
- Chuyển đổi số
- Bưu chính viễn thông
- Thủ tục hành chính
- Hành chính công
- Biểu mẫu thủ tục hành chính
- KHOA HỌC XH&NV
- Diễn đàn KHXH&NV
- Nghiên cứu KHXH&NV
- Thông tin - Tư liệu
- Đất và người xứ Nghệ
- Ấn phẩm KHCN
- Đặc san KH&CN
- Đặc san KHXH&NV
- Chuyển đổi số
- Video
- Video KH&CN
- Video bình dân học vụ số
- Sàn CN-TB
- Tin KHCN-Thiết bị Nghệ An
- Sáng chế - Điện tử - Tự động hóa
- Video KHCN - thiết bị
- Liên kết
- Quản lý văn bản điều hành
- Hành chính công trực tuyến
- Hệ thống thư điện tử công vụ
- Thư viện điện tử KH&CN Nghệ An
- Sàn giao dịch công nghệ & thiết bị
- Đặc san KH&CN Nghệ An
- Đặc san KHXH&NV
- Công báo tỉnh Nghệ An
- TBT Nghệ An
- Cổng thông tin điện tử tỉnh Nghệ An
- Quản trị tài sản trí tuệ IPPlatform
- Phần mềm quản lý đề tài khoa học
- Phần mềm số hóa tài liệu lưu trữ
- Hỏi-đáp trong lĩnh vực KH&CN
- Sản phẩm Ocop Nghệ An
- Liên hệ
- Đăng nhập
- Trang nhất
- Phổ biến kiến thức
- Nông nghiệp
Để phát huy lợi thế của địa phương, đưa chăn nuôi bò trở thành ngành chăn nuôi chính, tạo sản phẩm hàng hóa, lâu dài. Góp phần phát triển kinh tế xã hội, xoá đói, giảm nghèo bền vững và tiến tới làm giàu cho người dân trên địa bàn huyện Tân Kỳ nói chung và đồng bào các dân tộc trên địa bàn 03 xã Đồng Văn, Tiên Kỳ và nghĩa Phúc. Chính vì vậy, để đưa các tiến bộ mới trong chăn nuôi bò đến với đồng bào các dân tộc miền tây Nghệ An, thì việc triển khai thực hiện dự án: “Ứng dụng tiến bộ Khoa học kỹ thuật trong việc sử dụng một số giống bò có khả năng thích nghi tốt với điều kiện miền núi để phục vụ công tác sản xuất bò hàng hóa cho miền tây Nghệ An”. là thực sự cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Hiện nay trên đia bàn tỉnh có các giống bò địa phương, như giống bò vàng: ở các huyện như Con Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn, Qùy Châu, Quế Phong và Quy Hợp chiếm từ 48 - 90 % trong cơ cấu giống; Giống bò H’mông: huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong, đầy là giống bò đặc hữu bản địa của đồng bào H’mông chiêm 100% cơ cấu giống của vùng này. Các giống bò lai và bò lai hướng thịt như nhóm giống bò lai Zebu: Nhóm bò lai Zebu được nuôi nhiều ở các huyện vùng núi thấp, đây là con lai giữa đực giống nhóm Bò Zebu (Red Sind, Brahman, Sahiwan..) với bò Vàng. Đến năm 2020 tỷ lệ bò laiZebu ở các huyện vùng núi thấp bình quan toàn vùng đạt 75%, trong đó các huyện có tỷ lệ bò lai cao như huyện Tân Kỳ 78%, Anh Sơn 85%, Nghĩa Đàn 89%, Thị xã Thái Hòa 92%; Nhóm giống bò lai hướng thịt: Là con lai giữa tinh bò đực chuyên thịt Limousine, climousine với nhóm bò cái nên giống bò laiZebu, tạo ra con lai hướng thịt có tỷ lệ máu lai > 75%, ở các huyện Thanh Chương, Anh Sơn, Tân Kỳ và Nghĩa Đàn, Tập quán, phương thức chăn nuôi bò ở Nghệ An theo nhiều tập quán, phương thức khác nhau, tùy vào vùng, miền và trình độ chăn nuôi bò của người dân, cụ thể: Đối với các huyện miền núi thấp, chủ yếu chăn nuôi bò theo phướng thức chăn dắt và chăn thả. Đây là vùng có trình độ chăn nuôi bò gần bằng với các huyện miền đồng bằng. Quy mô chăn nuôi bò từ 1-3 con/hộ; Đối với các huyện miền núi cao chủ yếu chăn nuôi bò theo phương thức chăn thả và thả rông truyền thống, quảng canh, trình độ chăn nuôi bò của vùng này còn thấp, quy mô chăn nuôi từ 2 - 3 con/hộ. Trong những năm gần đây, các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như: Nhiệt thán, dịch tả bò đã được khống chế. Tuy vậy, ở một số huyện cũng đã xảy ra các ổ dịch LMLM, viên da nổi cục. Theo điều tra, xã Nghĩa Phúc: Đàn bò từ 1.930 con năm 2017 tăng lên 2.965 con năm 2020, đàn bò lai tăng từ 1.075 con năm 2017 lên 2.224 con năm 2020, tỷ lệ bò lai đạt đến 75% toàn đàn; Xã Đồng Văn đàn bò tăng khá từ 1.547 con năm 2017 tăng lên 2.211 con năm 2020, đàn bò lai tăng từ 785 con năm 2017 lên 1.492 con năm 2020, tỷ lệ bò lai đạt 67,5% toàn đàn; Xã Tiên Kỳ đàn bò tăng chặm từ 652 con năm 2017 tăng lên 862 con năm 2020, đàn bò lai tăng từ 314 con năm 2017 lên 561 con năm 2020, tỷ lệ bò lai đạt 65,1% toàn đàn. Đa số các hộ nuôi bò chủ yếu ở quy mô nhỏ từ 1 - 3 con, chiếm 57,5% ở xã Tiên Kỳ; 60% ở xã Đồng Văn và 67,5% ở xã Nghĩa Phúc. Quy mô từ 4 - 6 con chiếm từ 25 - 27,5% ở các xã. Quy mô chăn nuôi trên 10 con/hộ chỉ chiếm từ 7,5 – 17,5% ở 3 xã Nghĩa Phúc, Đồng Văn, Tiên Kỳ. Các hộ nông dân chủ yếu chăn thả theo phương thức chăn dắt và chăn thả ở các đồi, bãi và kết hợp cho ăn bổ sung tại chuồng. 100% các hộ dân đều có chuồng nuôi, từ 50 - 150 m2 chuồng nuôi; chuồng nuôi kiên cố chiếm từ 77,5 - 87,5%; chuồng nuôi bán kiên cố chiếm từ 12,5 – 22,5% phục vụ cho chăn nuôi bò.
Kết quả điều tra cho thấy, công tác thú y, tiêm phòng đã thực hiện tốt, đạt từ 87,28% ở xã Tiên Kỳ đến 95% ở xã Nghĩa Phúc và xã Đồng Văn đạt 92,21%, các hộ chăn nuôi đều tiêm phòng các loại bệnh như lở mồm long móng và tụ huyết trùng, tỷ lệ người chăn nuôi sử dụng nội ngoài ký sinh trùng từ 52,6 - 70,5%. Về công tác giống: Tỷ lệ bò lai đạt 75% ở xã Nghĩa Phúc; 67,5% ở xã Đồng Văn; 65% ở xã Tiền Kỳ. Phương pháp nhảy trực tiếp vấn được sử dụng cho các hộ nuôi bò Vàng địa phương, nhưng chỉ chiếm từ 25 - 35%. Về thực trạng và nguồn thức ăn cho bò trong nông hộ. Thức ăn trong mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 cho đàn bò thường đa dạng và phong phú, giai đoạn này cỏ và các loại phế phụ phẩm nông nghiệp nhiều, người dân thường bổ sung thêm các loại thức ăn tinh như cám gạo, cám ngô, khoai,..Đây là giai đoạn thuận lợi cho chăn nuôi bò thịt trong năm, đáp ứng đủ 100% nhu cầu thức ăn mà còn dư thừa thức ăn cho đàn bò. Vào mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau hoặc thời gian giáp hạt giữa 2 vụ sản xuất, thức ăn cho bò thường thiếu, đặc biệt vào các tháng 12 năm trước và tháng 1, 2 của năm sau chỉ đáp ứng được từ 20 - 50% nhu cấu thức ăn cho đàn bò. Tuy nhiên, các hộ chăn nuôi chưa sử dụng phương pháp ủ chua thức ăn và sử dụng tảng đá liếm bổ sung chất khoáng cho đàn bò. Đàn bò cái nền sinh sản giống bò LaiZebu có tầm vóc cao, to đạt yêu cầu kỹ thuật làm bò cái nền sinh sản tham gia mô hình. Xã Nghĩa Phúc tuyển chọn được 83 con, Đồng Văn tuyển chọn được 39 con và Tiên Kỳ tuyển chọn được 07 con. Tổng bò cái nền lai Zebu tham gia mô hình là 129 con. Lựa chọn được 110 hộ dân tham gia mô hình dự án. Các chỉ tiêu yêu cầu về chất lượng của của dự án đặt đối với mô hình sinh sản giữa giống bò đực H’ Mông (miền tây Nghệ An) và bò cái là giống bò vàng bản địa miền Tây Nghệ An bằng hai hình thức phối giống là nhảy trực tiếp và thụ tinh nhân tạo, ở giai đoàn từ sơ sinh đến 6 tháng tuổi đã đạt yêu cầu đặt ra của dự án. Tuy nhiên, ở chỉ tiêu số lượng chỉ đạt chỉ đạt 75% yêu cầu của dự án với kết quả sinh sản được được 90 con bê lai F1. Số bê lai nuôi sống đến 6 tháng tuổi đạt 86 con, đơn vị chủ trì đã đưa 40 con bê lai F1(♂ H’mông x ♀ Vàng Nghệ An)vào nuôi hậu bị. Các chỉ tiêu yêu cầu về chất lượng, cũng như số lượng của dự án đặt đối với mô hình sinh sản nhân tạo giữa con đực là 02 giống bò Droughmaster và bò Brahman với con cái là bò lai Zebu để tạo ra bê lai thích nghi với điều kiện sống tại miền Tây Nghệ An, ở giai đoàn từ sơ sinh đến 6 tháng tuổi đã đạt và vượt yêu cầu đặt ra của dự án. Như vậy, các chỉ tiêu yêu cầu về chất lượng, cũng như số lượng của dự án đặt đối với mô hình nuôi vỗ béo hậu bị của 3 công thức lai F1 (♂ Hmông x ♀ bò vảng địa phương); F1 (♂ Droughmaster x ♀ bò LaiZebu); F1 (♂ Brahman x ♀ bò LaiZebu) đã đạt và vượt yêu cầu đặt ra của dự án. Bước đầu khẳng định 3 công thức lai trên phù hợp, có khả năng thích nghi tốt với điều kiện khí hậu thời tiết khắc nghiệt và địa hình đồi núi của khu vực miền tây Nghệ An, cụ thể các huyện thuộc vùng núi thấp giống như Tân Kỳ, bao gồm Thanh Chương, Anh Sơn, Nghĩa Đàn và Thái Hòa. Về hiệu quả kinh tế, cho thấy mô hình chăn nuôi trang trại, quy mô 67 con (2 bò đực H’mông, 65 bò cái bản địa). Ở năm thứ nhất, tổng giá thành đầu vào là 2.397.862.000 đồng, bao gồm: Tiền giống, thức ăn, thuốc thú y, công chăm sóc, chuồng trại...). Tồng doanh thu đầu ra là 1.210.137.500 đồng. Bao gồm tiền bán giống bê lai đạt 1.140.000.000 đồng, với giá bán bê ở mức giá trung bình là 18 triệu – 20 triệu đồng/con. Tiền cho thuê bò đực giống 9 triệu. Tiền bán phân chuồng 61.137.500 đồng với mức giá trung bình. Như vậy trong năm đầu tiên người chăn nuôi chưa có lãi dòng. Sáng năm thứ hai, tổng giá thành đầu vào là 974.712.000 đồng, bao gồm: Thức ăn, thuốc thú y, công chăm sóc, khấu hao chuồng trại, khấu hao con giống...). Tồng thu nhập đầu ra đạt 1.140.000.000 đồng, bao gồm tiền bán giống bê lai đạt 2.300.000.000 đồng với giá bán bê ở mức giá trung bình từ 18 triệu-20 triệu đồng/con. Tiền cho thuê bò đực giống 9 triệu. Tiền bán phân chuồng đạt 61.138.000 đồng. Lãi ròng đạt 235.426.000 đồng (sau khi trừ chi phí thức ăn, thuốc thú y, công lao động, khâu hao con giống, chuồng trại....) Năm thứ ba. tổng giá thành đầu vào là 764.000.000 đồng, bao gồm: Thức ăn, thuốc thú y, công chăm sóc, sửa chữa chuồng trại...).Tổng thu nhập đầu ra: 1.210.138.000 đồng. Bao gồm tiền bán giống bê lai đạt 2.300.000.000 đồng với giá bán bê ở mức giá trung bình 18 triệu - 20 triệu đồng/con. Tiền cho thuê bò đực giống 9 triệu. Tiền bán phân chuồng đạt 61.138.000 đồng với mức bán trung bình. Lãi ròng đạt 446.133.000 đồng (sau khi trừ chi phí thức ăn, thuốc thú y, công lao động, sửa chữa chuồng trại....) Như vậy: Từ năm thừ 2 trở đi trang trại lai tạo giống bò hoàn toàn có lãi ròng đạt 235.426.000 đồng, trung bình mỗi bò cái cho lợi nhuận đạt 3.622.000 đồng/con/năm. Sau 5 năm hoàn toàn thu hồi được vốn và trả lãi ngân hàng. Từ năm thứ sáu trở đi cho lãi ròng hàng năm đạt 466.133.000 đồng, trung bình mỗi bò cái cho lợi nhuận đạt 6.864.000 đồng/con/năm. Sau 3 năm triển khai thực hiện, dự án kết quả đạt được 3 mô hình (02 mô hình lai tạo; 01 mô hình nuôi hậu bị vỗ béo) các chỉ tiêu yêu cầu về chất lượng, cũng như số lượng của dự án đặt đối với mô hình lai tạo và nuôi bỗ béo hậu bị của 3 công thức lai F1 (♂ Hmông x ♀ bò vảng địa phương); F1 (♂ Droughmaster x ♀ bò LaiZebu); F1 (♂ Brahman x ♀ bò LaiZebu) đã đạt và vượt yêu cầu đặt ra của dự án. Từ kết quả, đạt được bước đầu khẳng định 3 công thức lai trên phù hợp, có khả năng thích nghi tốt với điều kiện khí hậu thời tiết khắc nghiệt và địa hình đồi núi của khu vực miền tây Nghệ An, cụ thể các huyện thuộc vùng núi thấp giống như Tân Kỳ, bao gồm Thanh Chương, Anh Sơn, Nghĩa Đàn và Thái Hòa./. Hải Yến Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viếtÝ kiến bạn đọc
Sắp xếp theo bình luận mới Sắp xếp theo bình luận cũ Sắp xếp theo số lượt thích Bạn cần đăng nhập với tư cách là Thành viên chính thức để có thể bình luận- Những tin mới hơn
- Những tin cũ hơn
- Tin liên quan
-
Ứng dụng công nghệ cao trong nuôi trồng thủy sản tại Nghệ An và hiệu quả thu được
(30/06/2022) -
Tình hình nuôi tôm 6 tháng đầu năm 2022 tại Nghệ An
(30/06/2022) -
Phát triển hạ tầng và cơ sở dịch vụ hậu cần Nghề Cá trên địa bàn tỉnh Nghệ An
(30/06/2022) -
Hội nghề cá xã Tiến Thủy (thị xã Hoàng Mai) phát huy hiệu quả nghề cá truyền thống
(30/06/2022) -
Tình hình nghiên cứu và sản xuất Mướp đắng rừng
(30/06/2022) -
Trung Tâm DVNN huyện Đô Lương tổ chức đánh giá mô hình thử nghiệm Ứng dụng tiến bộ KHCN sử dụng chế phẩm VAL-A phòng trừ bệnh vằn trên cây ngô
(06/07/2022) -
Trung Tâm DVNN huyện Đô Lương tổ chức đánh giá mô hình thử nghiệm Ứng dụng tiến bộ KHCN sử dụng chế phẩm VAL-A phòng trừ bệnh vằn trên cây ngô
(06/07/2022) -
Đến năm 2030, Việt Nam hoàn thành xây dựng chính phủ số
(06/07/2022) -
Bảo tồn, lưu giữ nguồn gen vi sinh vật trồng trọt
(06/07/2022) -
Nông dân Nghệ An đề xuất nhiều ý kiến, kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ
(06/07/2022)
-
Khảo nghiệm giống nhãn chín sớm tại tỉnh Nghệ An
(01/02/2022) -
Kết quả hoạt động xuất nhập khẩu năm 2021 và giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu năm 2022
(01/02/2022) -
Bài học kinh nghiệm về phát triển dịch vụ logistics cho Nghệ An
(01/02/2022) -
Ứng dụng công nghệ invitro xây dựng mô hình nhân giống lan Thạch hộc tía nhằm khai thác và phát triển nguồn gen cây dược liệu trên địa bàn tỉnh Nghệ An
(01/02/2022) -
Tương Dương tổ chức Hội thi “Nhà nông đua tài” lần thứ V năm 2022
(30/04/2022) -
Nghiên cứu giải pháp bảo vệ, phục hồi chất lượng đất phục vụ nâng cao chất lượng cây ăn quả ở miền núi
(18/05/2022) -
Nghiên cứu xây dựng, thử nghiệm mô hình cộng đồng làng xã cacbon thấp, chống chịu cao nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu
(18/05/2022) -
Nghiên cứu thành phần hóa học và một số hoạt tính sinh học chi Dó đất (Balanophora) ở Việt Nam
(18/05/2022) -
Tổng hợp và đánh giá polymer dẫn điện có cấu dạng cho nhận điện tử với độ rộng vùng cấm hẹp ứng dụng trong pin quang điện nền hữu cơ hiệu suất cao
(18/05/2022) -
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ tích hợp với từ trường cường độ cao kích thích phát triển rễ để nhân giống vô tính cây hồng ăn quả đặc sản
(18/05/2022)
- Đang truy cập180
- Hôm nay60,010
- Tháng hiện tại2,374,340
EmagazineEmagazine
Bộ thủ tục hành chínhBộ thủ tục hành chính
Đường dây nóng - HotlineSĐT: 0238.3837448
Video thiết bị - công nghệVideo thiết bị - công nghệ Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây Từ khóa » Chăn Nuôi Bò Miền Tây
-
20/5 Tài Ba Tri Báo Giá Lô đực Kem_chăn Nuôi Bò Miền Tây - YouTube
-
Chăn Nuôi Bò Miền Tây - YouTube
-
Vì Sao Giống Bò Miền Tây Đẹp - 1 Ngày Theo Chân Thương Lái đi ...
-
HỘI CHĂN NUÔI BÒ MIỀN TÂY - Facebook
-
TRẠI BÒ GIỐNG MIỀN TÂY - TRẠI BÒ VĂN CẦM BA TRI BẾN TRE
-
Hợp Tác Xã Bò Sữa Hơn 2.000 Hộ Nuôi ở Miền Tây - VnExpress
-
Triển Vọng Từ Chăn Nuôi Bò 3B Hướng Thịt
-
Thương Lái Ra Sức ép Giá Người Chăn Nuôi - Báo Thanh Niên
-
Thư Viện- Người Chăn Nuôi | Chăn Nuôi Việt Nam
-
21/1 Tài Ba Tri Báo Giá Lô Bò đực Kem Mini_chăn Nuôi Bò Miền Tây
-
Trang Trại Bò Siêu Sạch Lớn Nhất Miền Tây - Tạp Chí Chăn Nuôi
-
Xã Bù Nho: Kinh Tế ổn định Nhờ Chăn Nuôi Bò. - Huyện Phú Riềng
-
Nuôi Dê Thịt ở Miền Tây