Vận Dụng Cơ Chế Ám Thị Vào Cuộc Sống - ENCOPSY

Ám thị là một thuật ngữ chuyên ngành tâm lý ít được biết đến song cơ chế ám thị được vận dụng rất nhiều vào đời sống hằng ngày. Nó giải thích cho rất nhiều hiện tượng cũng như được áp dụng để phát triển bản thân. Vậy các cơ chế đó cụ thể là gì hoạt động ra sao và ứng dụng như thế nào hãy cùng phân tích nhé.

Cơ chế của quy luật ám thị

Cơ chế của quy luật ám thị

Ám thị là một động từ được sử dụng trong thuật ngữ tâm lý học. Trong nhiều tài liệu tiếng anh có rất nhiều cách để diễn đạt cụm từ “ám thị” như to hint, to insinuate, to suggest. Trong đó cụm từ phổ biến nhất được dùng là Suggestion Psychology.

Theo thuật ngữ tâm lý học của TS. Vũ Dũng: “ám thị là quá trình tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp lên tâm lý con người một cách có chủ đích nhằm gán cho họ một nội dung với mục đích điều khiển họ thực hiện những yêu cầu nhất định”.

Trong trạng thái bị ám thị năng lực nhận thức, phán xét, ý chí của người bị ám thị giảm đi rõ rệt. Những nội dung này được chủ thể đón nhận một cách tự động khó phê bình hay phân tích logic. Nếu bạn chấp nhận một mệnh lệnh hay ý kiến nào đó sau khi trải qua một cuộc tranh luận thì không được gọi là ám thị.

Một số nhà nghiên cứu khác cũng cho ra định nghĩa tương tự như: “Ám thị là một quá trình giao tiếp dẫn đến việc chấp nhận với sự tin chắc về giới từ được truyền đạt trong trường hợp không có cơ sở thích hợp về mặt logic để chấp nhận nó” – McDougali.

Đặc điểm của cơ chế ám thị

  • Ám thị là một thành tố cơ bản trong giao tiếp
  • Phương tiện của ám thị thường là ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ. Ta có thể sử dụng lời nói, biểu cảm, thái độ, và hành vi để ra ám thị. Câu nói “muốn nhà cửa yên ổn hãy nhìn mặt vợ mà sống” có lẽ bắt nguồn từ đây. Khi người chồng không tham gia vào việc nhà, người vợ tỏ thái độ khó chịu, cau mày lên khuôn mặt thì đó chính là ám thị gián tiếp để yêu cầu người chồng xem xét lại hành động của mình.
  • Người thực hiện ám thị có thể là cá nhân hoặc nhóm. Tự bản thân ám thị chính mình được gọi là tự ám thị. Ám thị trong giao tiếp được thực hiện khi có sự tham gia của ít nhất 2 người.
  • Người tiếp nhận ám thị thường không muốn tham gia vào quá trình (ngoại trừ trường hợp tự ám thị) tuy nhiên lại bị thôi thúc tham gia một cách vô thức
  • Người bị ám thị thường cho rằng đó là hành vi và ý nghĩ có ý thức của bản thân
  • Các ám thị có thể là những yêu cầu, những thông tin không có logic để được chấp nhận nhưng vẫn được thực hiện
  • Ám thị có thể tốt hoặc xấu chẳng hạn Mark Antony bị Cassius gán cho suy nghĩ rằng Caesar là bạo chúa và ông đã tham gia ám sát Caesar. Trong khi đó một biểu hiện tích cực hơn là Alexander nhận được ám thị từ Aristotle rằng sẽ trở thành vua. Sau đó ông đã phấn đấu để thống trị thế giới.
  • Ám thị được chia thành 2 dạng phổ biến là trực tiếp và gián tiếp. Ở dạng trực tiếp đó là sử dụng mệnh lệnh yêu cầu trực tiếp, ở dạng gián tiếp là truyền đạt thông tin yêu cầu dưới dạng ẩn ý khiến đối tượng mất chú ý là làm theo.
  • Đây là sự bắt chước vô thức trên bình diện nhận thức

Các dạng của cơ chế ám thị

Các dạng của cơ chế ám thị

Tự ám thị (Auto-Suggestion)

Có lẽ rất nhiều lần bản thân chúng ta thường tự nhủ với bản thân rằng “Tôi ổn”, “mọi thứ sẽ tốt hơn”,… gạt đi nỗi sợ hãi, bước qua vùng an toàn, tự đứng dậy và ngoan cường chiến đấu đấy chính là tự ám thị. Tác giả của quyển sách Chiến Thắng Con Qủy trong bạn cũng nhiều lần nhắc về tự ám thị. Cơ chế của tự ám thị được hình thành khi người ám thị và người bị ám thị cùng là một. Bản thân họ nhận mệnh lệnh ám thị từ chính họ. Song mệnh lệnh này có thể tích cực hoặc tiêu cực.

Nói sơ qua về năng lực ý chí của bản thân bạn có biết thí nghiệm giả dược được thực hiện thế nào không? Các bác sĩ chia bệnh nhân thành 2 nhóm: một nhóm được điều trị bằng liệu pháp thông thường và nhóm còn lại được cung cấp Vitamine nhưng bệnh nhân vẫn nghĩ đó là thuốc mới tốt nhất. Kết quả bất ngờ là tình trạng bệnh của nhóm Vitamine có xu hướng phát triển chậm lại hẳn. Cơ chế ám thị tích cực này giúp tinh thần bệnh nhân được cải thiện nhờ đó các nội tiết tốt cơ thể cũng chuyển hướng tích cực. Rêu chỉ phủ những hòn đá không lăn chỉ cần tin tưởng vào bản thân không gì là không thể.

Khi mang tính tích cực nhà triết học gia Patajali đã khẳng định sự cần thiết để duy trì sức khỏe thể chất và tinh thần của nó. Mỗi khi mệt mỏi kiệt sức chỉ cần tự nhủ “tôi làm được” bạn sẽ được tiếp thêm sức mạnh để vượt qua. Ngược lại sự tiêu cực trong tự ám thị có thể kéo bạn xuống. Hãy thử tưởng tượng mỗi ngày bạn đều tự nghĩ “tôi xấu xí”, “tôi không làm được”, “chẳng ai thích tôi”,… thì điều gì sẽ xảy ra. Có lẽ thật khó tưởng tượng nhưng một điều chắc chắn rằng bạn đang tự giết chết bản thân bạn đấy.

Ám thị chống lại (Contra-Suggestion)

Đọc đến đây chắc hẳn sẽ có ai đó đang xây dựng những luận điểm để chứng minh rằng: ám thị đôi lúc không có tác dụng. Ám thị thực chất không phải lúc nào cũng có tác dụng và không phải ai cũng có thể bị ám thị hoặc ám thị người khác.

Nguồn ám thị là yếu tố quyết định ám thị có thành công hay không. Nếu nguồn là một người mà đối tượng không có thiện cảm thì Contra-Suggestion xuất hiện. Ám thị chống lại là hiện tượng thông tin ám thị được đưa ra nhưng đối tượng từ chối chấp nhận. Không những dừng lại ở mức từ chối mà đối tượng còn có thể hành động ngược.

Bây giờ có lẽ bạn hiểu vì sao Adam và Eva lại ăn trái cấm rồi nhỉ? Điều này còn được áp dụng để lý giải các trường hợp chống đối ở trường học. Thông tin hoặc mệnh lệnh được đưa ra có thể xuất phát từ nguồn mà đối tượng không thích. Chắc hẳn đã đôi lần chỉ vì là giáo viên bạn không thích nên bạn đã bỏ cả tiết học phải không?

Gần đây nhất chính là đơn kiện Võ Hoàng Yên sau khi bị lừa thì nguyên đơn phủ nhận và từ chối tiếp nhận mọi thông tin được bị đơn đưa ra. Nguồn ám thị là bị đơn bây giờ đã gây mất thiện cảm và uy tín trong nguyên đơn nên mọi thông tin đều dẫn đến phản ứng ngược.

Ám thị uy tín (Prestige Suggestion)

Đã bao giờ bạn tự hỏi tại sao bạn lại nghe lời của bố mẹ mình chưa dù đôi lúc mệnh lệnh nghe thật hoang đường. Bố mẹ đánh con – làm con khóc – rồi lại ra mệnh lệnh “nín khóc ngay”. Dù tình huống ấy thật sự bất logic nhưng bạn vẫn nghe theo, tại sao vậy?

Thông thường chúng ta chịu ảnh hưởng bởi những người có thẩm quyền, vị thế xã hội hay chức vụ cao hơn mình. Dù là trong trạng thái thôi miên hay tỉnh táo chúng ta cũng có xu hướng chấp nhận thông tin hay mệnh lệnh từ những người có vị trí xã hội cao hơn. Đấy chính là cơ chế ám thị uy tín.

Nguyên nhân của vấn đề này thường thuộc về yếu tố chủ quan. Cụ thể khi kiến thức chuyên môn, thái độ, quan điểm và độ uy tín của chúng ta không đủ để chống lại quan điểm của người ở trên thì chúng ta có xu hướng phục tùng.

Có lẽ bạn đã nghe qua sự việc lay động cộng đồng nói chung và y học nói riêng khi người được mệnh danh là “thần y” Võ Hoàng Yên bị tố cáo lừa đảo. Ông hành nghề không có bằng cấp, chứng chỉ, giấy phép nhưng vẫn có nhiều người đến khám tại sao vậy? Để lý giải điều đó một phần chính là ám thị uy tín.

Ông sở hữu cơ sở khám chữa bệnh rộng lớn, nổi tiếng giúp đỡ người nghèo, làm từ thiện và chữa bệnh giá rẻ. Những thông tin đó vô tình đi vào tiềm thức và thôi thúc người đến khám. Dù chứng kiến cảnh tượng chữa bệnh bất khoa học cùng với đó là không nhận được kết quả tốt. Song dưới uy tín của vị bác sĩ cùng sự kém hiểu biết của bản thân hầu hết người đến đều chấp nhận phục tùng mà không chút phản kháng.

Ám thị hàng loạt (Mass Suggestion)

Vào thời kỳ Phục Hưng thế kỷ thứ XVI cụm từ Sheeple hay Cừu Ngoan được biết đến rộng rãi và dẫn trở thành một hiệu ứng tâm lý được biết với tên Herd Behavior hay hiệu ứng bầy đàn. Đây là định nghĩa ám chỉ một cách mỉa mai hiện tượng một đám đông tin vào một sự việc và những người khác a dua theo một cách thụ động và dễ bị chi phối.

Áp dụng hiệu ứng ấy dưới cơ chế ám thị thì Mass Suggestion ra đời. Ám thị số lượng hay ám thị hàng loạt là định nghĩa mô tả sự bị chi phối của một người trước thông tin mà lượng lớn người khác đã chấp nhận và tuân theo.

Điều này được thể hiện rõ nhất qua các phong trào cổ vũ. Các chương trình tình nguyện thường được dẫn đầu bởi đông đảo đại đa số những gương mặt quen thuộc hay những cái tên đầy uy tín. Cụ thể nhất là chương trình đồng hành cùng miền Trung vượt qua khó khăn vừa qua. Điều đó để thúc đẩy sự tin tưởng và tham gia của những người bị động.

Thông tin giúp đỡ, hỗ trợ được đưa ra dưới áp lực của đám đông rất nhiều người dù muốn dù không cũng bị thôi thúc tham gia một cách vô thức. Tuy nhiên nếu cá nhân bị động và thiếu năng lực phán xét có thể gặp những đối tượng lừa đảo thông qua hiệu ứng này.

Những nạn nhân của vụ lừa từ “thần y” Võ Hoàng Yên là minh chứng cụ thể. Họ bị kéo theo đám đông đến khám mà không hề tìm hiểu. Đến khi bị tố giác một lần nữa họ đi theo đám đông để tố giác.

Mối quan hệ giữa nhận thức và cơ chế của ám thị

Mối quan hệ giữa nhận thức và cơ chế của ám thị

Theo lý thuyết hành vi của Skinner, ông cho rằng kích thích sẽ tạo ra phản ứng S – R. Tuy nhiên thực tế chỉ ra rằng không phải kích thích nào cũng sinh ra phản ứng. Trong từ điển thuật ngữ tâm lý học có cụm từ “Absolute Threshold” tạm dịch là ngưỡng tuyệt đối. Nói một cách dễ hiểu đây là giới hạn tối thiểu mà kích thích phải đạt đủ để sinh ra phản ứng. Ở mỗi người lại có sự khác biệt về ngưỡng tuyệt đối.

Nếu bạn có thể tưởng tượng ra tảng băng trôi ngay bây giờ tôi sẽ dùng nó để giải thích về cơ chế của ám thị. Những thông tin khi được truyền đến phải vượt qua được mặt nước và vào nhận thức để phân tích và đưa ra phản hồi. Vậy những thông tin không vượt qua được sẽ đi đâu? Nó sẽ trôi dạt vào tiềm thức của bạn.

Ám thị chính là lợi dụng những thông tin không thể vượt qua ngưỡng giới hạn đó. Từ đó dần ăn sâu vào tiềm thức ảnh hưởng đến hành vi và suy nghĩ. Nhược điểm của loại thông tin này chính là không được bộ não phân tích nên người bị ám thị không thể phân biệt được thông tin tốt và thông tin xấu.

Một thông tin luôn được tích tụ dần trong tiềm thức của chúng ta chính là “làm điều tốt là người tốt”. Do đó khi bắt gặp những mệnh đề liên quan như làm từ thiện, giúp đỡ người nghèo ta mặc định và tin tưởng. Nó khiến ta mở cánh cửa phòng vệ để chấp nhận phục tùng.

Khi những thông tin ám thị được lưu trữ ở tiềm thức đây gọi là ám thị gián tiếp. Hầu hết các thông tin này đều mang tính biểu tượng và không ép buộc. Ngược lại thông tin mang tính mệnh lệnh hay thôi miên là ám thị trực tiếp khiến ta gỡ lớp phòng vệ xuống và thực hiện.

5 Yếu tố giúp vận dụng cơ chế ám thị đạt hiệu quả cao

5 Yếu tố giúp vận dụng cơ chế ám thị đạt hiệu quả cao

Bản chất của ám thị phụ thuộc vào nhiều yếu tố, quan trọng nhất chính là nội tại các chủ thể tham gia ám thị. Người có vị thế cao, địa vị, tri thức, thẩm quyền, chức vụ, sự uy tins cao hiển nhiên sẽ dễ dàng thực hiện ám thị hơn. Ngược lại những người yếu thế như trẻ em, năng lực kém, tri thức có giới hạn có thể dễ chịu ám thị hơn. Tuy nhiên vẫn có những trường hợp có đủ khả năng phản kháng lại ám thị.

Một công thức tiêu biểu để đánh giá khả năng ám thị là C= (S.A/S.G)i.e. Trong đó:

S.G là số ám thị được đưa ra

SA là số ám thị được tiếp nhận

Vậy nếu đưa ra 20 ám thị và nhận được 12 phản hồi thì hệ số khả năng sẽ là 6. Khả năng này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố.

  • Tuổi: trẻ em dễ bị ám thị hơn do thiếu kinh nghiệm, lý do, khả năng phản biện, nhận thức, xem người lớn hơn là cấp trên
  • Năng lực trí tuệ: nếu ám thị hình ảnh ma quỷ với hai đứa trẻ có chỉ số năng lực khác nhau thì đứa trẻ kém hơn sẽ bắt đầu tin và sợ. Ngược lại đứa giỏi hơn sẽ bắt đầu phản biện về thần tiên, siêu anh hùng
  • Kiến thức: những người bệnh nhân của “thần y” Võ Hoàng Yến đều thuộc tầng lớp nghèo kinh tế, kém hiểu biết chuyên môn do đó dễ bị ám thị bởi những thông tin về cách chữa bệnh hay những điều ông nói. Do đó tin tưởng trả tiền và bị lừa.
  • Giới tính: nữ thường chịu ám thị cao hơn nam có lẽ vì sự chênh lệch trong cơ hội thể hiện hiểu biết. Ngoài ra phái yếu thường có xu hướng trông đợi, tựa nhờ. Nếu điểm qua số bệnh nhân của Võ Hoàng Yên bạn có thể thấy được điều này.
  • Niềm tin: bạn sẽ khó khăn khi ám thị một người từ bỏ niềm tin của họ
  • Tính cách: một số người có thể bị ám thị dễ dàng do tích cách dễ chịu phục tùng
  • Trạng thái tinh thần: ở trạng thái thôi miên mọi ám thị được thực hiện dễ dàng. Khi bất lực, mệt mỏi cơ chế của ám thị dễ dàng được phát huy. Bệnh nhân của Võ Hoàng Yên chính là những người đã cùng cực xoay với bể đời với bệnh tật và dù có là ông hay một người nào khác xuất hiện tự tuyên bố “thần y” thì họ vẫn tin như một tia hy vọng.
  • Nguồn ám thị: là người có uy tín có vị thế có học thức hoặc không phải là người mà đối tượng ghét sẽ dễ thực hiện ám thị hơn. Một cuộc thí nghiệm được thực hiện khi một vị bác sĩ gọi cho 22 cô y tá có chuyên môn yên cầu đem ASTROGEN 20mg cho bệnh nhân trong 5’ nữa ông sẽ kiểm tra. Dù đó là loại thuốc không được tự ý dùng và liều dùng đó là chống chỉ định nhưng 21 trong 22 người y tá đã làm theo.

Có rất nhiều góc độ ta có thể đi sâu và phân tích chuyên môn hơn về cơ chế của ám thị. Song một bài viết không thể chia sẻ được tất cả hãy theo dõi ENCOPSY để cập nhật thêm kiến thức thú vị nhé.

Share this:

  • X
  • Facebook
Like Loading...

Related

Từ khóa » Ngôn Ngữ ám Thị