Vì Sao Lí Học Chu Hi Là Tội đồ Làm Văn Minh Trung Hoa Thụt Lùi
Có thể bạn quan tâm

Sau khi văn minh Trung Hoa đạt đến cực thịnh vào thời Đường, sang đến thời Tống bắt đầu quá trình suy đồi. Lí học Chu Hi sản sinh vào cuối thời Tống đã ảnh hưởng đến 3 vương triều sau này là Nguyên, Minh, Thanh, đặc biệt hai triều Minh Thanh. Học giới Trung Quốc đã chỉ ra sự nguy hại của Lí học Chu Hi đối với văn minh Trung Hoa, “Lí học Chu Hi cổ xúy bó chân, làm hại phụ nữ”, “Lí học Chu Hi áp chế tinh thần khai sáng và năng lực sáng tạo của người Trung Quốc”, “Lí học Chu Hi triệt để nô hóa người Trung Quốc, con người trở thành nô tài nghịch lai thuận thọ”, “Lí học Chu Hi đã trở ngại 1000 năm sự phát triển của Trung Quốc”, “Việc sản sinh sự bó ngực nơi phụ nữ với sự hưng thịnh của Lí học Chu Hi không phải không có liên quan, Lí học là kẻ tội đồ đầu têu đối với sự phát dục không bình thường của bộ ngực phụ nữ Trung Quốc.” …
Chu Hi là người tập đại thành Lí học, ông kế thừa và phát huy tư tưởng của các nhà Lí học trước đó như Trình Di, Trình Hạo, Chu Đôn Di… nên còn gọi là Lí học Trình Chu. Lí học Chu Hi được hai triều Minh Thanh xem là hình thái ý thức của vương triều. Thế thì Lí học Chu Hi chủ trương những điều gì khiến đế vương Minh Thanh lợi dụng làm hình thái ý thức và những chủ trương đó đã gây hại cho sự phát triển của xã hội như thế nào ?
Chu Hi là người có giao lưu với rất nhiều Tăng sĩ, Đạo sĩ của Phật giáo và Đạo giáo. Ông không phải là môn đồ của Thích, Đạo, ông chỉ tìm hiểu, nghiên cứu rồi áp dụng theo thiên kiến của mình để tạo nên Lí học của Nho gia. Ông vốn xuất thân là nhà Nho nên ông nghiên cứu Thích, Đạo chỉ để cố chứng minh Nho giáo cũng cao siêu không kém Thích, Đạo; đây là bị “Tâm hiếu thắng” và “Tâm tật đố” sai sử chứ không phải sự truy cầu chân lý chân chính. Cũng bởi chính sự dụng tâm trong nghiên cứu và tu hành như vậy đã dẫn ông đến rất nhiều sai lầm. Khảo cứu chủ trương của Lí học ta thấy gần như ông kết hợp hỗn loạn cả Đạo gia, Phật gia, Âm Dương gia nhưng lại chủ trương những điều mà Phật, Đạo xem là tiêu cực.
Chu Hi nói rằng Lí tức là Thái Cực là Thiên lý, là bản nguyên của Vũ trụ, là quy luật của vạn sự vạn vật, là Lý của vạn lý, là chuẩn mực đạo đức. Tức ông mượn quan niệm tuần hoàn từ Thái Cực Đồ Thuyết 太極圖說 của Chu Đôn Di : Thái cực sinh Lưỡng nghi (âm dương), Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái, Bát quái sinh vạn sự vạn vật. Tuy nhiên trong Thái Cực Đồ Thuyết của Chu Đôn Di, thì nguồn gốc của vũ trụ là Vô cực, “từ Vô cực sinh ra Thái cực” (tự Vô cực nhi vi Thái cực 自無極而為太極). Lí học của Chu Hi đã phế bỏ Vô cực mà chỉ cho Thái cực là Thiên lý, là nguồn gốc của vũ trụ. Trong trước tác “Thái Cực Đồ Thuyết giải 太極圖說解” (Giảng giải Thái Cực Đồ Thuyết) của mình, Chu Hi cho rằng Vô cực chính là Thái cực (Vô cực nhi Thái cực 無極而太極). Sự sai lầm khi đánh đồng Vô cực là Thái cực đã khiến dẫn khởi thêm rất nhiều sai lầm trong lý luận và đặc biệt là trong thực tiễn phương pháp tu dưỡng tâm tính.
Lí học Chu Hi có 3 sai lầm làm thụt lùi văn minh Trung Hoa :
1 ) Xem Thái cực là Thiên lý, là cái Lý của vạn lý.
2 ) Chủ trương “Tồn Thiên lý, diệt Nhân dục” “存天理,滅人欲”.
3 ) Phương pháp tu dưỡng “Nửa ngày tĩnh tọa, nửa ngày đọc sách”. ( Bán nhật tĩnh tọa, bán nhật độc thư半日靜坐,半日讀書)
Sai lầm thứ 1 là Xem Thái cực là Thiên lý, là cái Lý của vạn lý :
Chu Hi quan niệm Thiên Lý là Thái cực, Thái cực là cái lý của vạn lý, đã bác bỏ hay hạ thấp cái Thiên lý của Đạo gia và cái Siêu Lý của Phật pháp. Đạo gia quan niệm trên Thái cực và sinh ra Thái cực chính là Vô cực (1), Vô cực mới là cái Lý tối cao của vũ trụ, vòng tuần hoàn là Vô cực sinh Thái cực, Thái cực sinh Lưỡng Nghi… Phật pháp thì quan niệm Vô cực tương đương với Vô tâm hay còn gọi Vô thủy Vô minh, Vô tâm thì còn cách xa sự ngộ đạo (“Chớ cho Vô tâm tức là Đạo, Vô tâm còn cách muôn trùng quan” – Tổ sư Thiền tông). Vô cực hay Vô tâm là nguồn gốc sinh ra cái Lý và vạn cái Lý nên Phật pháp chủ trương phải Liễu ngộ cái Vô tâm này, phải siêu việt cái Lý, tức phá Vô thủy vô minh kiến tánh thành Phật.
Sự hiểu lầm, hạ thấp hay sự xuyên tạc bậy bạ của Chu Hi đối với cái Lý tối cao của vũ trụ đã bị đế vương Minh Thanh lợi dụng trở thành hệ tư tưởng đắc lực để nô dịch người dân. Trong thời Đường, khi Thích và Đạo được đế vương suy sùng, chính tư tưởng siêu việt tam cương ngũ thường của Phật và Đạo đã là nguồn cảm hứng tạo ra một thời kỳ tự do tư tưởng và văn hóa nghệ thuật phát triển đỉnh thịnh. Đế vương nhà Đường có chủ trương suy sùng Thích, Đạo dù biết có thể ảnh hưởng đến tính chuyên chế vì họ chủ trương nền Đức trị, dùng Đức của bản thân để giáo hóa người dân, đế vương sẵn sàng tiếp nạp lời can gián và trọng dụng hiền tài, tiêu biểu là Đường Thái Tông và giai đoạn đầu của Đường Huyền Tông. Đế vương Minh Thanh thì muốn tăng cường tính chuyên chế, không chú trọng Đức trị, nền Đức trị có yêu cầu khắt khe nơi đạo đức của chính bản thân đế vương, nên thay vì đề cao đạo đức bản thân thì họ lợi dụng Lí học Chu Hi để áp chế bách tính phục tùng mình. Khi cái Lý tối cao của vũ trụ bị hạ thấp xuống thành Thái cực, thành những trật tự của Tam cương Ngũ thường thì đế vương khi sử dụng tư tưởng Chu Hi đã có tính chính danh để bắt trăm họ phải nghe theo mình.
Sai lầm thứ 2 là Chủ trương diệt Nhân dục để tồn thiên lý :
Diệt nhân dục theo quan điểm của Thích, Đạo là vô cùng sai lầm. Chu Hi chủ trương “Tồn Thiên lý, diệt nhân dục” tức giữ mình trong tình trạng Thái cực hay Thiên lý và diệt cái Nhân dục đi. Nhân dục làm che chướng Thiên lý. Con người trong Thái cực hay Thiên lý thì tự nhiên sẽ giữ lấy trật tự của các mối quan hệ gia đình và xã hội, tức tam cương ngũ thường, nên phải diệt Nhân dục vì Nhân dục có thể làm cá nhân vi phạm trật tự đó, đây là điều mà các đế vương cảm thấy có thể lợi dụng triệt để nơi học thuyết này.
Thích, Đạo quan niệm Dục (dâm dục, danh lợi dục, tài sắc dục…) chỉ là một loại năng lượng tạm thời khi con người ở tầng giới đó thì ắt có Dục nhưng khi thông qua tu hành tầng giới được nâng cao thì Dục cũng được chuyển hóa thành năng lượng thanh cao hơn. Chính một chữ “Diệt” của Chu Hi đã gây áp ức đối với phụ nữ trong hai thời Minh Thanh, chữ Diệt của Lí học Chu Hi cổ xúy cho việc bó chân, bó ngực nơi nữ giới và kiềm tỏa nữ giới, chính quan niệm sai lầm và ác cảm với Dục đã khiến Lí học Chu Hi trở thành công cụ để kẻ thống trị áp chế phụ nữ. Chủ trương Diệt dục, tồn Thiên lý, giữ các trật tự luân thường đạo lý còn gây ức chế đối với giới trí thức kẻ sĩ. Tồn thiên lý, giữ trật tự quan hệ xã hội tức không ai được vượt khỏi phạm vi quân thần, vua tôi, tam cương ngũ thường… là điều mà kẻ thống trị rất ưa thích. Biến Lí học thành hình thái tư tưởng của vương triều thì từ quan Nhất phẩm đương triều cho đến kẻ áo vải không còn một ai có tự do tư tưởng dám vượt qua đấng quân vương nữa.
Sai lầm thứ 3 là phương pháp tu dưỡng “nửa ngày đọc sách, nửa ngày tĩnh tọa” :
Muốn tồn Thiên lý diệt Nhân dục thì phải tĩnh tọa vì Tĩnh tọa (giúp) – hư tâm – (hư tâm giúp) minh Lý 静坐——虚心——明理 . Đây là nguyên lý vay mượn từ Đạo gia : “Tâm càng Hư (trống rỗng) thì Khí càng thanh (trong), Khí càng trong thì Lý càng thông”. Ông đề ra pháp Tĩnh tọa : “Nửa ngày tĩnh tọa, nửa ngày đọc sách”. Ông nói với học trò rằng :“Dùng nửa ngày tĩnh tọa, nửa ngày đọc sách, như vậy một hai năm, lo gì không tiến bộ! 用半日靜坐,半日讀書,如此一二年,何患不進!”(Chu Tử Ngữ Loại《朱子語類》 quyển 116). Và “Đọc sách lúc nhàn hạ thì lại tĩnh tọa, thấy được đạo lý thứ lớp phân minh. Điều này nơi một thân mà gồm đủ.” 讀書閒暇且靜坐,教他心平氣定,見得道理漸次分明。這個卻是一身總會處。 ”(Chu Tử Ngữ Loại《朱子語類》quyển 11)tức tĩnh tọa trợ giúp cho sự đọc sách được minh lý, đồng thời đọc sách cũng giúp cho khi tĩnh tọa được hiệu quả, nhờ đọc sách mà lúc tĩnh tọa ít suy nghĩ tạp nhạp, hai công phu này bổ sung qua lại cho nhau.
Về cách thức tĩnh tọa, ông nói : “Tĩnh tọa chẳng phải cần như tọa Thiền nhập Định, đoạn tuyệt suy nghĩ, chỉ thu liễm Tâm này, chớ để rong ruổi suy nghĩ, thì Tâm này trong lặng vô sự, tự nhiên chuyên nhất. Khi có việc, ắt theo việc mà ứng, việc xong rồi, thì khôi phục lại sự trong lặng vậy.”“靜坐非是要如坐禪入定,斷絕思慮。只收歛此心,莫令走作閑思慮,則此心湛然無事,自然專一。及其有事,則隨事而應,事已,則復湛然矣。” (Chu Tử Ngữ Loại《朱子語類》quyển 12)
Dù giao lưu nhiều với Tăng sĩ, Đạo sĩ nhưng phương pháp của Chu Hi hoàn toàn đi ngược lại với Thích, Đạo. Phật và Đạo không chủ trương tĩnh tọa và đọc sách cả ngày như vậy, Thiền của Phật giáo chủ trương đi đứng ngồi nằm đều Thiền chứ không chấp ngồi tĩnh tọa hoài một chỗ, Lão Trang cũng không chấp tĩnh tọa một chỗ mà chủ trương vô vi tự nhiên trong đời sống. Ngay như cách hiểu của Chu Hi về Thiền định của Phật pháp cũng là sai lầm. Thiền định của Phật pháp không phải chấp ngồi một chỗ rồi đoạn diệt mọi tư tưởng, ngồi một chỗ đoạn diệt mọi suy nghĩ theo Phật pháp là một thứ Thiền bệnh. Phương pháp tĩnh tọa của Chu Hi đối với Thiền tông gọi là bệnh “chấp Tịnh”, “chấp Ngồi”. Các bậc Tổ sư Thiền tông từ đời từ đời đều đả phá quan niệm sai lầm này, sách vở nhiều không kể xiết, đơn cử có thể tham khảo Pháp Bảo Đàn Kinh để biết chỉ thú của Thiền tông.
Thiền định của Phật pháp là lúc Động cũng tu được, lúc Tịnh cũng tu được, Động Tịnh nhất như, bất cứ lúc nào, mọi lúc mọi nơi. Tổ sư Thiền tông dạy rằng : “Đi cũng Thiền, ngồi cũng Thiền, nói nín động tịnh thể an nhiên.” Tọa Thiền của Phật pháp là ngay trong cuộc sống hàng ngày, lúc đi đứng ngồi nằm, lúc lao động đều có thể hạ thủ công phu Thiền định chứ không chấp ngồi một chỗ. Lục Tổ Huệ Năng nói “Tọa Thiền là Tâm tọa chứ không phải Thân tọa”.
Tổ sư Thiền tông khi dạy Thiền trong các Thiền viện từ đời Đường không ép buộc Thiền sinh phải tĩnh tọa hay một lối công phu nhất định nào mà hàng ngày cứ làm công việc lao động trồng trọt, lao động tập thể với đại chúng, có thắc mắc thì cùng đại chúng thưa hỏi vào hai thời tham vấn lúc sáng sớm và chiều tối, đồng thời trong hai thời đó sẽ được nghe trụ trì hay chức sự thuyết giảng. Trong cuộc sống bình thường hàng ngày, vị trụ trì hay chức sự đã kiến tánh sẽ tùy căn cơ và nhân duyên mà có phương tiện cơ xảo để tiếp dẫn học Tăng vào được cửa Thiền của Tổ sư, minh tâm kiến tánh.
Tổ sư Thiền tông khuyến khích người chưa chứng đắc nên tham thiền trong lúc lao động, làm việc thì mới tốt, nếu chưa chứng đắc mà đã đi tìm cảnh thanh vắng để dục công hoặc chấp ngồi tĩnh tọa để dụng công thì đều là sai lầm, là Thiền bệnh. Đây là điều mà Chu Hi hoàn toàn hiểu lầm đối với Thiền định của Phật pháp.
Chính phương pháp Thiền không tách rời cuộc sống đó của Thiền tông đã góp phần tạo nên bối cảnh hưng thịnh của văn hóa Đường triều. Một phương pháp tu hành có thể ứng dụng ngay trong lúc đi đứng ngồi nằm, trong lao động sản xuất, mọi lúc mọi nơi khiến cho con người trở nên năng động, sáng tạo, mạnh mẽ, sinh mệnh lực thịnh vượng. Thiền tông đời Đường được đế vương ngưỡng mộ, các bậc Tổ sư được đế vương sắc phong Quốc sư, từ quan lại cho đến thứ dân đều ham thích tu tập Thiền tông, góp phần tạo nên tính cách đại khí đại độ của con người thời Đường, kiến lập nên đỉnh cao của văn minh Trung Hoa.
Phương pháp “nửa ngày tĩnh tọa nửa ngày đọc sách” của Chu Hi là quá tĩnh, làm nhu hóa tính cách Nho sinh. Nho sinh hoàn toàn rời xa lao động sản xuất, trở nên quá nhu, suốt ngày hết tĩnh tọa thì đọc sách, hết đọc sách thì tĩnh tọa, sinh mệnh lực yếu đuối. Chính phương pháp của Chu Hi đã làm cho tầng lớp trí thức, Nho sinh hai triều Minh Thanh trở nên hèn nhát vì thiếu tính dương cương, tính động, họ không dám suy nghĩ, không dám tưởng tưởng, không dám bứt phá, không dám thử nghiệm, chỉ bo bo ôm chặt cái Thiên lý đã bị Chu Hi hạ cấp, luẩn quẩn trong đó không thoát ra được. Nhưng đây lại là điều mà đế vương hai triều Minh Thanh ưa thích, nhờ học thuyết của Chu Hi, họ đã “nô hóa” được phần tử trí thức.
Tùng Văn
Chú thích :
(1) về Vô cực : trích Cội nguồn truyền thừa của Thiền tông :
- Tham Thiền Lầm Nhận Hầm Sâu Vô Minh Là Phật-tánh Như Thái Cực Đồ Thuyết Của Châu Liêm Khê :
Châu Liêm Khê là Tổ sáng lập lý học của nhà Nho đời Tống, soạn Thái Cực Đồ Thuyết cho Đạo là trước vô hậu hữu làm căn bản, phối hợp với lý âm dương ngũ hành để thuyết minh thế hệ của vũ trụ vạn vật trở đi trở lại, tuần hoàn hóa sanh mãi. Cái nghĩa “Vô-cực thái-cực” với học thuyết “Vô-danh là bắt đầu của Thiên-địa, hữu danh là mẹ của vạn vật” và “Vô-vi mà vô-bất-vi” của Lão-tử đồng một ý chỉ. Nhà Nho vốn chỉ nói Thái-cực, hai chữ “Vô-cực” là học thuyết của Đạo-giáo, Lão Tử Tri Hùng Chương nói : “Trở về nơi vô-cực”, Trang-tử Đại Tông Sư Thiên nói : “Yểu đào vô-cực”, Khắc Ý Thiên “Đạm nhiên vô-cực”, Tại Hựu Thiên “Dạo nơi đồng vô-cực”. Trong Đạo Tạng có Thái Cực Tiên Thiên Đồ, tác giả là Trần Đồ Nam, người Đạo-giáo, ấy là một sản phẩm hỗn hợp với Nho và Đạo. Châu Liêm Khê từng theo học với Thích Thọ Nhai ở Hạc Lâm tự, được bản Thái Cực Tiên Thiên Đồ, rồi sửa lại theo ý mình để kiến lập thể hệ Lý-học.
Theo quan điểm của nhà Phật, ‘Vô-cực’ tức là vô thỉ vô minh, ‘Thái-cực’ tức là nhất niệm vô minh. Tại sao ? Vô-cực vốn vô mà sanh ra hữu, nhất niệm đã sanh tức là Thái-cực, niệm có động tịnh thì phân thành âm dương, âm dương phân thì lưỡng-nghi lập, biến hợp mà sanh ngũ hành. Tinh diệu của lưỡng-nghi hợp nhau mà có Càn nam, Khôn nữ, nhị khí (âm dương), ngũ hành hóa sanh vạn vật, rồi vạn vật trở về nơi ngũ hành, ngũ hành trở về âm dương, âm dương trở về thái cực, một lên một xuống, trở đi trở lại tức là pháp luân hồi sanh diệt, bắt đầu khởi từ vô minh, cuối cùng cũng trở lại nhập nơi vô-minh, giống như Thập Nhị Nhân Duyên của thừa Duyên-giác. Theo Thập Nhị Nhân Duyên chỉ nói về tác dụng luân hồi của vô thỉ vô minh với nhất niệm vô minh, nói cách khác tức là tác dụng của bộ não suy nghĩ, chẳng thể thuyết minh tác dụng Phật-tánh, Phật-tánh siêu việt luân hồi sanh diệt, vô nhân vô duyên, chẳng động chẳng tịnh, bổn lai vô sanh nên vô diệt, bổn lai chẳng hữu nên chẳng vô, sự hữu vô sanh diệt là do tác dụng tương đối của bộ não, chẳng dính dáng với Bản-thể Chơn-như.
Thái Cực Đồ Thuyết nói vô-cực sanh thái-cực, thái-cực lại sanh âm-dương vạn vật, vì có sanh nên có diệt, có sanh diệt tức là luân hồi, có luân hồi thì chẳng phải tuyệt đối. Nên biết lý vô-cực, Thái-cực là do kiến, văn, giác, tri quán xét hiện tượng biến hóa của vũ trụ mà kiến lập giả thiết, phàm chỗ quán xét có thể đến là quyết định chẳng phải bản thể tuyệt đối. Bản-thể chơn như tuyệt đối là “Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt”, chẳng thể dùng suy nghĩ đo lường, cũng chẳng thể dùng ngôn ngữ tỏ bày, chỉ có người trực tiếp chứng nhập mới biết được. Kẻ được chứng nhập thì không còn sanh tử luân hồi, nên gọi là kiến Tánh thành Phật, sau khi thành Phật thì chẳng biến lại chúng sanh, chẳng chịu lại luân hồi, mà Thái-cực thì luân hồi chẳng dừng.
(http://thamtosuthien.net/vn/thu-vien/Coi-nguon-truyen-thua-cua-Thien-tong/Coi-nguon-truyen-thua-cua-Thien-tong-phan-III-63.phattrien.net#.XKHPgtL7SDK)
Tư liệu tham khảo :
http://blog.sina.com.cn/s/blog_dbc34e280101h3gy.html
https://xw.qq.com/cmsid/2016062204138600
https://zh.m.wikisource.org/wiki/%E5%A4%AA%E6%A5%B5%E5%9C%96%E8%AA%AA
https://zhidao.baidu.com/question/5906202.html
https://zhidao.baidu.com/question/493283468.html?qbl=relate_question_0
https://zhidao.baidu.com/question/562952679.html?qbl=relate_question_3
http://guoxuepeixun.com/yanjiu/1350.html
Kinh Pháp Bảo Đàn
http://thamtosuthien.net/vn/thu-vien/Kinh/Kinh-Phap-Bao-Dan-162.phattrien.net#.XKHPPdL7SDI
Cội nguồn Truyền thừa của Thiền tông
http://thamtosuthien.net/vn/thu-vien/Sach-Huong-Dan-Tham-Thien/Coi-nguon-truyen-thua-cua-Thien-tong-171.phattrien.net#.XKHPXdL7SDI
Xem thêm :
5 sự kiện đại nguy hại cho văn minh Trung Hoa
5 sự kiện đại nguy hại cho văn minh Trung Hoa
Chia sẻ bài viết này :
- Tweet
Có liên quan
Từ khóa » Tồn Thiên Lý Diệt Nhân Dục
-
48. SỰ HÌNH THÀNH CỦA LÝ HỌC
-
Nguyễn Bỉnh Khiêm – Nhà Lý Học - Viện Nghiên Cứu Hán Nôm
-
Tư Tưởng Lý Dựa Vào Khí - Tử Vi Cổ Học
-
Chu Hi – Wikipedia Tiếng Việt
-
Từ Học Thuyết Nho Gia Nhìn Nhận Sự Giao Lưu Văn Hoá - Hà Nội - VNU
-
QUAN NIỆM VỀ TU THÂN THEO NHO GIA
-
Hoa Sơn Tiên Môn - Mạt Lăng Biệt Tuyết ~ Chương 967 # Mobile
-
Đôi điều Nên Biết Về Nho Giáo - PHAN KHOI
-
Triết Học Thời Tống (960 - 1279)
-
Chu Hi | Bách Khoa Người Phương Đông
-
[PDF] Tư Tưởng Của Ngô Thì Nhậm - Về Con Người Và Giáo Dục Con Người
-
Tinh Thần “Khu Thích Dĩ Nhập Nho - Cư Nho Mộ Phật” Trong Trúc ...
-
Một Số đặc Trưng Cơ Bản Của Nho Giáo Việt Nam - Viện Triết Học
-
HÀNH TRÌNH TÌM KIẾM “NHÂN SINH CHI KHOÁI LẠC” (1) VÀ SỰ ...