Vii Thị Tộc Của Người Celt Và Người Germania - Nguồn Gốc Của Gia đình

F. Engels Nguồn gốc của gia đình

VII THỊ TỘC CỦA NGƯỜI CELT VÀ NGƯỜI GERMANIA

Khu�n khổ của t�c phẩm n�y kh�ng cho ph�p ch�ng t�i xem x�t những thể chế thị tộc, hiện vẫn tồn tại dưới một h�nh thức �t nhiều thuần t�y, ở những bộ tộc m�ng muội v� d� man hết sức kh�c nhau; hay những dấu t�ch của c�c thể chế đ� trong lịch sử cổ đại của c�c d�n tộc văn minh ở ch�u �. [Cả hai thứ đ� đều c� ở khắp nơi. Chỉ cần lấy v�i v� dụ l� đủ. Từ trước khi người ta hiểu về thị tộc, th� ch�nh McLennan - người đ� cố gắng hiểu sai n� hơn ai hết - đ� chứng minh sự tồn tại của thị tộc ở người Kalmyk, người Circassian, người Samoyedic, v� 3 bộ tộc của Ấn Độ (người Warli, người Magar, người Meitei); v� về đại thể, đ� m� tả đ�ng đắn thị tộc. Gần đ�y, Kovalevsky đ� ph�t hiện v� m� tả thị tộc ở người Pshavi, người Shapsug, người Svaneti v� c�c bộ lạc kh�c ở v�ng Kavkaz.] Ở đ�y, ch�ng t�i chỉ nhận x�t vắn tắt về sự tồn tại của thị tộc ở người Celt v� người Germania. Những đạo luật cổ nhất, c�n lưu lại tới nay của người Celt, đều cho thấy thị tộc vẫn c�n đầy sức sống: ở Ireland, d� bị người Anh ph� hoại bằng bạo lực, thị tộc vẫn tồn tại đến ng�y nay, trong � thức của nh�n d�n, �t nhiều như l� một bản năng; ở Scotland, cho tới giữa thế kỉ trước, thị tộc vẫn c�n ở thời to�n thịnh, v� cả ở đ�y nữa, n� chỉ bị ti�u diệt bởi vũ kh�, ph�p luật v� t�a �n của người Anh. Những đạo luật cổ của người xứ Wales - được ghi th�nh văn từ nhiều thế kỉ, trước khi người Anh tới x�m chiếm, muộn nhất l� v�o thế kỉ XI - vẫn c�n cho thấy c� những l�ng mạc m� ruộng đất được c�y cấy chung, d� rằng đ� chỉ l� những t�n dư c� t�nh ngoại lệ của một tập qu�n phổ biến trước kia: mỗi gia đ�nh c� 5 acre ruộng đất để tự canh t�c, ngo�i ra c�n c� một khu đất được canh t�c chung, v� hoa lợi th� đem chia. Nh�n v�o sự tương đồng giữa Scotland v� Ireland, th� kh�ng nghi ngờ g� nữa, những c�ng x� l�ng mạc đ� ch�nh l� thị tộc, hay c�c phần nhỏ của thị tộc; mặc d� nghi�n cứu mới về c�c đạo luật xứ Wales, m� t�i kh�ng c� thời gian để thực hiện (c�c tr�ch dẫn của t�i l� từ 1869), kh�ng đưa ra bằng chứng trực tiếp. Nhưng những t�i liệu gốc của người xứ Wales - v� cả người Ireland - đều chứng minh trực tiếp rằng: ở người Celt thế kỉ XI, h�n nh�n đối ngẫu vẫn ho�n to�n chưa bị thay thế bằng h�n nh�n c� thể. Ở xứ Wales, chỉ sau khi vợ chồng đ� sống chung được bảy năm, th� h�n nh�n mới được coi l� kh�ng thể bị x�a bỏ, đ�ng hơn l� chỉ c� thể bị x�a bỏ theo y�u cầu của cả hai b�n. D� chỉ c�n ba đ�m nữa l� đủ bảy năm, th� vợ chồng vẫn c� thể bỏ nhau được. L�c đ�, người ta đem chia t�i sản; vợ th� chia, c�n chồng th� chọn phần của m�nh. Đồ đạc trong nh� được chia theo một số tục lệ nhất định, rất buồn cười. Nếu người chủ động li h�n l� chồng, th� anh ta phải ho�n lại của hồi m�n cho vợ, v� c�n k�m th�m v�i thứ kh�c; nếu người đ� l� vợ, th� phần của c� ta sẽ �t hơn. Nếu c� ba con th� chồng đem theo hai, vợ đem theo một, cụ thể l� đứa con thứ. Sau khi li dị, nếu người đ�n b� đi lấy chồng mới, m� người chồng cũ đến đ�i lại vợ; th� b� ta phải đi theo chồng trước, d� đ� c� một ch�n tr�n c�i giường mới. Mặt kh�c, nếu một cặp đ� chung sống với nhau được bảy năm, th� d� trước kia kh�ng ch�nh thức kết h�n, họ vẫn l� vợ chồng. Trước khi cưới, con g�i kh�ng cần phải giữ g�n trinh tiết qu� nghi�m ngặt, m� người ta cũng kh�ng đ�i hỏi thế; những tục lệ về việc n�y rất lỏng lẻo, ho�n to�n kh�ng ph� hợp với đạo đức tư sản. Nếu vợ phạm tội ngoại t�nh, th� chồng c� quyền đ�nh vợ (đ�y l� một trong ba trường hợp m� chồng được ph�p l�m thế, với mọi trường hợp kh�c th� người chồng sẽ bị xử phạt), nhưng đ� đ�nh rồi th� kh�ng được đ�i hỏi g� th�m, v�

“với cùng một việc phạm tội, thì hoặc là đòi chuộc tội, hoặc là trả thù; chứ không thể đòi cả hai”1

Những l� do để người vợ c� thể đ�i li h�n m� kh�ng bị mất quyền lợi khi chia t�i sản th� rất đa dạng: chỉ cần chồng bị h�i miệng l� đủ. Khoản tiền nộp cho trưởng bộ lạc hoặc nh� vua, để chuộc lại quyền hưởng đ�m đầu ti�n (gobr merch, do đ� m� c� danh từ thời Trung cổ �marcheta, tiếng Ph�p l� marquette), c� vai tr� lớn trong bộ luật. Phụ nữ c� quyền bầu cử trong đại hội nh�n d�n.Cần n�i th�m rằng, những t�i liệu cũng cho thấy t�nh h�nh tương tự ở Ireland: ở đ�, những cuộc h�n nh�n trong một thời gian cũng l� kh� thường t�nh; khi li h�n th� phụ nữ được hưởng những quyền ưu ti�n lớn, được qui định r� r�ng, v� cả một khoản tiền trả cho những c�ng việc nội trợ nữa; ở Ireland cũng c� t�nh trạng �người vợ thứ nhất� c�ng với những người vợ kh�c, v� khi chia t�i sản thừa kế th� kh�ng hề c� ph�n biệt giữa con ch�nh thức v� con hoang. Vậy, ta c� h�nh ảnh của h�n nh�n đối ngẫu; so với n� th� h�nh thức h�n nh�n hiện h�nh ở Bắc Mĩ xem ra c�n nghi�m ngặt hơn. Nhưng ở thế kỉ XI, v� với một bộ tộc m� đến tận thời Caesar vẫn c�n sống dưới chế độ quần h�n, th� điều đ� kh�ng đ�ng ngạc nhi�n. Sự tồn tại của thị tộc ở Ireland (được gọi l� sept; c�n bộ lạc gọi l� clann, clan) đ� được x�c nhận v� được m� tả, kh�ng chỉ trong c�c bộ luật cổ, m� c�n bởi c�c luật gia Anh ở thế kỉ XVII, vốn được ph�i tới Ireland để biến đất đai của c�c bộ lạc đ� th�nh l�nh địa của vua Anh. Cho tới thời đ�, đất đai vẫn l� t�i sản chung của bộ lạc hay thị tộc, trong chừng mực m� c�c t� trưởng chưa biến n� th�nh của ri�ng m�nh. Khi một th�nh vi�n thị tộc chết đi - tức l� một hộ mất đi - th� t� trưởng (được c�c luật gia Anh gọi l� caput cognationis) đem chia lại to�n bộ đất đai cho c�c hộ c�n lại. Việc ph�n chia n�y, về đại thể, chắc l� được tiến h�nh theo c�c luật lệ hiện h�nh ở Đức. Bốn mươi hay năm mươi năm trước, h�y c�n rất nhiều những c�nh đồng thuộc chế độ rundale, như người ta vẫn gọi; ngay cả hiện nay, ta vẫn gặp một v�i c�i như thế. N�ng d�n - tức l� c�c t� điền ri�ng lẻ, c�y cấy những ruộng đất trước đ�y l� của to�n thị tộc, sau đ� bị người Anh cướp mất - nộp tiền thu� cho ri�ng mảnh ruộng của m�nh, nhưng lại đem gộp to�n bộ phần ruộng v� đồng cỏ m� m�nh nhận được với nhau, rồi căn cứ theo vị tr� v� chất lượng đất m� chia th�nh từng Gewann (khu đất) - theo c�ch gọi ở v�ng Moselle - v� cấp cho mỗi người một khu; c�c v�ng đất hoang v� b�i chăn thả cũng được d�ng chung. Chỉ mới năm mươi năm trước, thỉnh thoảng, cũng c� khi l� h�ng năm, người ta vẫn tiến h�nh ph�n chia lại. Bản đồ ruộng đất của một l�ng theo chế độ rundale cũng hệt như của một Geh�ferschaft (c�ng x� n�ng d�n) của người Đức v�ng Moselle hay Hochwald. Thị tộc cũng tiếp tục tồn tại trong những faction (phe). N�ng d�n Ireland được chia th�nh nhiều phe, c�c phe ấy được ph�n biệt theo những dấu hiệu bề ngo�i rất k� dị v� v� nghĩa; với người Anh th� đ� l� những c�i kh�ng thể hiểu nổi, v� h�nh như kh�ng nhằm mục đ�ch n�o kh�c, ngo�i việc tổ chức c�c trận đ�nh, vốn rất được ưa th�ch trong c�c ng�y lễ trọng thể. Đ� l� sự hồi sinh nh�n tạo, l� sự thay thế cho c�c thị tộc đ� bị tan r�; n� chứng minh một c�ch độc đ�o cho sự tồn tại bền bỉ của bản năng thị tộc c�n di truyền lại. Trong một số v�ng, c�c th�nh vi�n thị tộc vẫn sống chung với nhau tr�n l�nh thổ xưa kia; v�o những năm ba mươi, đại đa số d�n ở hạt Monaghan chỉ mang c� bốn họ, nghĩa l� họ l� con ch�u của bốn thị tộc hoặc clan1*. Tại Scotland, sự tan r� của chế độ thị tộc đ� diễn ra khi cuộc khởi nghĩa năm 1745 bị đ�n �p. Vẫn c�n phải nghi�n cứu xem trong tổ chức thị tộc của người Scotland, th� clan c� chức năng ch�nh x�c l� g�; nhưng n� l� một phần của tổ chức thị tộc, c�i n�y th� kh�ng nghi ngờ g� cả. Trong c�c tiểu thuyết của Walter Scott, c�c clan ở v�ng Thượng đ� hiện l�n sinh động. Như Morgan n�i, đ� l�

“...một kiểu mẫu thị tộc tuyệt vời, về mặt tổ chức và tinh thần; và là một minh họa nổi bật về sức sống của chế độ thị tộc đối với các thành viên của nó... Trong những mối thù, những vụ trả nợ máu; từ việc sống chung theo từng clan vào các địa phương, và việc dùng chung ruộng đất; từ sự trung thành mà các thành viên của clan dành cho thủ lĩnh, cũng như dành cho nhau; ta đều thấy những nét vững chắc của xã hội thị tộc... Dòng dõi được tính về đằng cha, nên con cái của thành viên nam thì ở lại trong clan, còn con cái của thành viên nữ thì chuyển sang clan của cha mình”("Xã hội Cổ đại")

Nhưng chế độ mẫu quyền trước kia đ� từng thịnh h�nh ở người Scotland, điều đ� được chứng minh nhờ sự kiện n�y: theo Bede th� trong ho�ng tộc của người Pict, việc nối ng�i được t�nh theo nữ hệ. Ở người Scot, cũng như ở người xứ Wales, c� một t�n t�ch của gia đ�nh punalua vẫn c�n được duy tr� tới tận thời Trung cổ, ấy l� quyền hưởng đ�m đầu ti�n, m� thủ lĩnh clan hay nh� vua - đại diện cuối c�ng của những người chồng chung thời xưa - c� quyền thực hiện với mọi c� d�u mới, trừ khi quyền đ� chưa được chuộc lại2. Kh�ng nghi ngờ g� nữa, người Germania vẫn được tổ chức th�nh thị tộc, m�i tới thời k� Đại di cư3. C� thể l� chỉ v�i thế kỉ trước C�ng nguy�n, họ đ� chiếm lĩnh v�ng đất đai ở giữa s�ng Danube, s�ng Rhein, s�ng Vistula v� c�c biển miền Bắc. Người Cimbri v� người Teuton vẫn đang di cư, c�n người Suevi chỉ bắt đầu định cư từ thời Caesar. Caesar n�i r�: họ định cư theo từng thị tộc v� tập đo�n th�n tộc (gentibus cogniationibusque), v� theo ng�n ngữ của người La M� thuộc thị tộc Julia th� từ gentibus đ� c� một � nghĩa r� r�ng, kh�ng thể tranh c�i được. Với người Germania cũng vậy, h�nh như ngay cả ở những tỉnh vừa chiếm được từ tay La M�, họ vẫn ở theo từng thị tộc. Bộ luật Alamanni x�c nhận: tr�n c�c v�ng đ� chinh phục được ở ph�a Nam s�ng Danube, nh�n d�n đ� ở theo từng thị tộc (genealogiae); ở đ�y từ genealogiae được d�ng với nghĩa giống hệt từ �c�ng x� mark� hay �c�ng x� l�ng mạc� sau n�y. [Mới đ�y, Kovalevsky đưa ra � kiến rằng c�c genealogiae đ� l� những c�ng x� gia đ�nh lớn, c� ph�n chia đất đai; c�n c�ng x� l�ng mạc chỉ sau n�y mới từ đ� m� ph�t triển l�n. Vậy th� điều đ� cũng �p dụng được với fara; đ� l� từ m� người Burgundy v� người Lombard - một bộ lạc l� người Goth, bộ lạc kia th� l� người Herminones, tức l� người miền thượng Đức - d�ng để chỉ gần đ�ng, nếu kh�ng phải ho�n to�n đ�ng, c�i genealogiae trong Bộ luật Alamanni. Đ� c� thật sự l� một thị tộc, hay chỉ l� một c�ng x� gia đ�nh, th� c�n phải nghi�n cứu s�u hơn. Những văn kiện cổ về ng�n ngữ vẫn để lại cho ta một b� ẩn: tất cả những người Germania c� một từ chung để chỉ thị tộc hay kh�ng, v� đ� l� từ g�. Về mặt từ nguy�n, từ kuni trong tiếng Goth, v� từ k�nne trong tiếng miền trung thượng Đức, đều tương ứng với từ genos trong tiếng Hi Lạp - hay l� từ gens trong tiếng Latin - v� cũng được d�ng với nghĩa như c�c từ đ�. C�c từ ngữ d�ng để chỉ nữ giới cũng từ gốc đ� m� ra: gyne trong tiếng Hi Lạp, zena trong tiếng Slav, qvino trong tiếng Goth, kona, kuna trong tiếng Norse cổ; đ� l� bằng chứng về sự tồn tại của thời đại mẫu quyền. Ở người Lombard v� người Burgundy, như tr�n đ� n�i, c� từ fara; m� Grimm giả định l� do từ fisan, tức l� �sinh đẻ�, m� c�. T�i cho l� n� bắt nguồn một c�ch r� r�ng hơn từ danh từ faran, nghĩa l� �di chuyển�, �du mục�; vậy fara d�ng để chỉ một bộ phận nhất định của đo�n người du mục, lu�n gắn b� th�nh một khối, v� dĩ nhi�n l� gồm những người c�ng huyết tộc. Qua h�ng thế kỉ di cư, l�c đầu về ph�a Đ�ng, sau lại về ph�a T�y; danh từ n�y dần được d�ng để chỉ bản th�n tập đo�n huyết tộc. Ta c�n c� từ sibja trong tiếng Goth, từ sib trong tiếng Anglo-Saxon, c�c từ sippia, sippa trong tiếng thượng Đức cổ; đều c� nghĩa l� �th�n thuộc�. Trong tiếng Norse cổ chỉ c� danh từ số nhiều sifjar, danh từ số �t chỉ l� t�n một nữ thần (Sif) m� th�i. Sau hết, c�n một từ kh�c trong �B�i ca Hildebrand�, ở đoạn Hildebrand hỏi Hadubrand:

“Trong những người đàn ông của dân này, thì ai là cha ngươi; hay ngươi thuộc thị tộc nào?” (eddo huêlihhes cnuosles du sîs)

Nếu c� một từ chung trong tiếng Germania để chỉ thị tộc, đ� c� lẽ l� kuni trong tiếng Goth; kh�ng chỉ v� sự tương đồng giữa từ n�y với những từ đồng nghĩa của c�c ng�n ngữ c� li�n quan, m� c�n v� từ kuning - nghĩa l� �vua�, l�c đầu d�ng để chỉ trưởng thị tộc hay trưởng bộ lạc - cũng do kuni m� c�. Từ sibja h�nh như kh�ng cần x�t tới, v� sifjar trong tiếng Norse cổ kh�ng những d�ng để chỉ người c�ng huyết tộc, m� c�n d�ng để chỉ cả những b� con b�n vợ (hoặc b�n chồng) nữa, tức l� những th�nh vi�n của �t nhất hai thị tộc; cho n�n sif cũng kh�ng phải l� từ chỉ thị tộc.] Ở người Germania, cũng như ở người Mexico v� người Hi Lạp, đội h�nh chiến đấu cũng được bi�n chế theo thị tộc, cả với kị binh v� bộ binh xếp h�nh chữ V; Tacitus d�ng c�i thuật ngữ mơ hồ �theo gia đ�nh v� tập đo�n th�n tộc�, đ� l� v� ở thời �ng, thị tộc La M� từ l�u đ� kh�ng c�n sức sống. Một đoạn văn kh�c của Tacitus c� � nghĩa quyết định, trong đ� c� n�i: những người cậu coi ch�u trai như con trai m�nh, v� một số người thậm ch� cho rằng quan hệ huyết thống giữa cậu v� ch�u trai c�n thi�ng li�ng v� gần gũi hơn quan hệ cha con; thế n�n khi đ�i nộp con tin, th� con trai của chị em g�i được coi l� tốt hơn cả con trai của ch�nh kẻ bị r�ng buộc. Ở đ�y ta thấy một tập tục h�y c�n đầy sức sống của thị tộc nguy�n thủy, được tổ chức theo chế độ mẫu quyền, ở người Germania2*. Nếu một th�nh vi�n thị tộc đem con trai m�nh l�m con tin, v� đứa con trai đ� sau n�y bị giết v� cha m�nh bội ước, th� đ� chỉ l� việc của ri�ng người cha th�i. Nhưng nếu kẻ bị giết l� người ch�u trai, th� c�i luật lệ thi�ng li�ng nhất của thị tộc đ� bị vi phạm; th�n nh�n gần nhất của người ch�u trai đ�, người c� nghĩa vụ bảo vệ n� hơn ai hết, phải chịu tr�ch nhiệm về c�i chết của n�; hoặc anh ta kh�ng n�n đem n� l�m con tin, hoặc anh ta phải giữ lời hứa. Ngay cả nếu ta kh�ng t�m thấy dấu vết n�o kh�c của tổ chức thị tộc ở người Germania, th� chỉ một đoạn văn đ� cũng đủ rồi. [C�n c� � nghĩa quyết định hơn nữa, v� được s�ng t�c khoảng t�m thế kỉ sau thời Tacitus, l� một đoạn trong b�i thơ của người Norse cổ, �V�lusp�, n�i về thời k� t�n tạ của c�c vị thần v� về ng�y tận thế. Trong �lời dự đo�n của nh� nữ ti�n tri� đ� - c� xen lẫn c�c yếu tố Cơ Đốc, như Bang v� Bugge từng chứng minh - th� đoạn m� tả thời đại suy vi v� đồi bại phổ biến, mở đầu cho c�i tai họa lớn, c� ghi như sau:

“Broedhr munu berjask munu systrungar ok at bönum verdask sifjum spilla”

�Anh em sẽ g�y chiến v� ch�m giết lẫn nhau, con cái của chị em gái sẽ ph� vỡ c�c quan hệ th�n tộc�. Systrungr c� nghĩa l� con trai của chị em g�i của mẹ; v� với t�c giả, việc anh em đ�i con d� kh�ng thừa nhận quan hệ huyết tộc với nhau, l� một tội c�n nặng hơn cả việc anh em giết lẫn nhau. Điều n�y được biểu hiện nhờ từ systrungar, n� nhấn mạnh quan hệ họ h�ng về ph�a mẹ; nếu ở chỗ đ� l� từ syskina-b�rn (�con của anh chị em ruột�) hay l� syskina-synir (�con trai của anh chị em ruột�), th� d�ng thơ sau sẽ kh�ng c� � nghĩa mạnh hơn d�ng thơ trước, m� l� yếu hơn. Vậy l� ngay cả ở thời Viking, l�c m� �V�lusp� ra đời, người Scandinavia vẫn chưa qu�n chế độ mẫu quyền.] Vả lại, v�o thời Tacitus, ở người Germania, [�t ra l� trong số những người Germania m� Tacitus biết r�,] th� chế độ mẫu quyền đ� bị chế độ phụ quyền thay thế. Con c�i kế thừa t�i sản của cha; nếu kh�ng c� con, th� anh em trai, rồi tới ch� b�c, về ph�a cha cũng như ph�a mẹ, sẽ hưởng thừa kế. Việc cho ph�p anh em trai của mẹ được thừa kế cũng c� li�n quan tới những tập qu�n của thời đại mẫu quyền, như đ� n�i ở tr�n; n� c�n chứng tỏ rằng, ở người Germania thời bấy giờ, chế độ phụ quyền h�y c�n mới mẻ đến thế n�o. Dấu vết của chế độ mẫu quyền vẫn c� cả ở cuối thời Trung cổ. H�nh như ngay cả v�o thời đ�, người ta vẫn chưa tin v�o phụ hệ cho lắm, nhất l� trong trường hợp của c�c n�ng n�. Vậy n�n, khi một l�nh ch�a phong kiến đ�i một th�nh thị n�o đ� trả lại cho m�nh một n�ng n� đ� bỏ trốn; th� như ở Augsburg, Basel v� Kaiserslautern chẳng hạn, th�n phận n�ng n� của kẻ đ� phải được s�u th�n nh�n gần nhất x�c nhận bằng c�ch tuy�n thệ, v� s�u người n�y đều phải l� họ h�ng về đằng mẹ (Maurer, �Thể chế của c�c th�nh phố�4, I, tr. 381). Một t�n t�ch kh�c của chế độ mẫu quyền vừa mất đi, đ� l� sự k�nh trọng của người Germania với phụ nữ, điều m� người La M� hầu như kh�ng thể hiểu được. Trong c�c hiệp ước k� kết với người Germania, th� c�c thiếu nữ qu� tộc được coi l� những con tin đảm bảo nhất. C�i � nghĩ rằng vợ v� con g�i m�nh c� thể bị bắt l�m n� lệ, đ� khiến họ thấy kinh khủng nhất, v� đ� k�ch th�ch tinh thần dũng cảm chiến đấu của họ nhiều nhất. Họ coi phụ nữ l� c�i g� đ� thi�ng li�ng v� ti�n tri, họ nghe theo lời khuy�n bảo của phụ nữ cả trong những việc quan trọng nhất. Veleda, b� thầy ph�p của bộ lạc Bructeri sống ven bờ s�ng Lippe, ch�nh l� linh hồn của cuộc khởi nghĩa của người Batavi; cuộc khởi nghĩa đ�, do Civilis - thủ lĩnh của người Germania v� người Belgae - l�nh đạo, đ� l�m rung chuyển nền thống trị của La M� ở xứ Gaul. Uy quyền của phụ nữ trong gia đ�nh h�nh như l� kh�ng thể chối c�i, mặc d� họ - c�ng với người gi� v� trẻ em - phải l�m mọi việc trong nh�, c�n đ�n �ng th� săn bắn, uống rượu, hoặc l� ngồi kh�ng. Đấy l� Tacitus n�i vậy, nhưng �ng kh�ng n�i l� người n�o phải c�y cấy ruộng đất, v� lại khẳng định: n�ng n� chỉ nộp t� hiện vật chứ kh�ng đi lao dịch; n�n r� r�ng l� to�n thể đ�n �ng th�nh ni�n phải l�m c�i việc canh t�c nhỏ nhặt ấy. Chế độ h�n nh�n, như tr�n đ� n�i, bấy giờ vẫn l� đối ngẫu, nhưng đang tiến dần đến c� thể. Đ� chưa phải l� chế độ h�n nh�n c� thể chặt chẽ, v� những người đứng đầu bộ lạc vẫn được ph�p lấy nhiều vợ. N�i chung, người ta đ�i hỏi con g�i phải giữ trinh tiết nghi�m ngặt (c�i n�y ngược với người Celt); v� Tacitus, với một nhiệt t�nh đặc biệt, cũng n�i đến t�nh thi�ng li�ng của quan hệ vợ chồng ở người Germania. Về l� do để li dị, th� �ng chỉ n�u ra việc ngoại t�nh của người vợ m� th�i. Nhưng trong tường thuật của �ng c� nhiều lỗ hổng, v� r� r�ng l� �ng đ� d�ng c�u chuyện đ� để l�m tấm gương đạo đức cho những người La M� hư hỏng. Điều chắc chắn l�: người Germania trước kia, sống trong rừng r� của họ, l� những mẫu mực về đạo đức như thế; nhưng chỉ cần tiếp x�c một ch�t với thế giới b�n ngo�i, l� đủ để họ rơi xuống hạng những người ch�u �u trung b�nh kh�c. Ở giữa c�i thế giới La M�, th� vết t�ch sau c�ng của sự khổ hạnh về đạo đức c�n biến mất nhanh hơn cả ng�n ngữ Germania: cứ đọc Gr�goire xứ Tours th� r�. Trong rừng rậm nguy�n sinh xứ Germania, th� hiển nhi�n l� kh�ng thể c� sự bu�ng thả đầy dục vọng đối với mọi tr� kho�i lạc tinh vi, như ở La M� được; vậy l� về mặt n�y, người Germania vẫn c�n hơn hẳn thế giới La M�, m� ta cũng kh�ng cần g�n cho họ c�i t�nh tiết dục, vốn chưa bao giờ v� chưa ở đ�u trở th�nh qui tắc chung cho cả một d�n tộc. Cũng từ chế độ thị tộc, đ� nảy sinh ra c�i nghĩa vụ thừa kế cả những quan hệ - th� địch cũng như b� bạn - của người cha hoặc những người th�n th�ch; wergeld, m�n tiền chuộc nợ m�u, d�ng trong những trường hợp giết hay l�m bị thương người kh�c, cũng được thừa kế như thế. C�ch đ�y một thế hệ, wergeld vẫn được coi l� một thể chế đặc th� của người Germania; c�n ng�y nay, người ta đ� chứng minh l� thể chế đ� từng c� ở h�ng trăm d�n tộc. Đ� l� một h�nh thức l�m dịu việc trả nợ m�u, vốn nảy sinh từ chế độ thị tộc. M�n bồi thường đ�, c�ng với nghĩa vụ mến kh�ch, ta cũng thấy c� ở người Indian ch�u Mĩ; m� tả của Tacitus (cuốn �Germania�, ch. 21) về l�ng mến kh�ch của người Germania, cho tới từng chi tiết, th� hầu như khớp với m� tả của Morgan về người Indian. Cuộc tranh c�i s�i nổi kh�ng dứt về việc người Germania thời Tacitus đ� ph�n chia hẳn ruộng đất hay chưa, v� việc hiểu c�c đoạn văn li�n quan tới vấn đề đ� như thế n�o, giờ đ�y đ� thuộc về qu� khứ rồi. Cũng kh�ng cần ph� th�m lời n�o về vấn đề đ�, khi m� người ta đ� chứng minh rằng ở hầu hết c�c d�n tộc đều c� chế độ canh t�c chung ruộng đất, ban đầu l� do thị tộc, về sau l� do c�c c�ng x� gia đ�nh cộng sản chủ nghĩa - Caesar từng ph�t hiện c�c c�ng x� gia đ�nh n�y ở người Suevi - v� sau nữa, ruộng đất được chia cho từng gia đ�nh ri�ng rẽ, v� c� cả việc chia lại định k�; chế độ n�y được x�c định l� vẫn c�n tồn tại đến ng�y nay, ở một số v�ng của nước Đức. Nếu trong 150 năm, tức l� khoảng thời gian giữa Caesar v� Tacitus, m� người Germania đ� chuyển từ chế độ canh t�c chung ruộng đất - m� Caesar n�i r� l� của người Suevi (�ng ta viết l� ở người Suevi ho�n to�n kh�ng c� ruộng chia hay ruộng tư) - sang chế độ canh t�c của từng gia đ�nh ri�ng rẽ, v� c� chia lại h�ng năm; th� đ� quả l� một bước tiến kh� lớn. Bước qu� độ từ việc canh t�c chung tới việc ho�n to�n tư hữu ruộng đất, trong một thời gian ngắn như vậy, v� lại kh�ng c� bất k� sự can thiệp n�o từ b�n ngo�i, th� đ�ng l� kh�ng thể c� được. Do đ�, khi đọc Tacitus, t�i chỉ thấy �ng ghi vắn tắt: h�ng năm họ thay đổi (hay chia lại) đất canh t�c, ngo�i ra c�n để lại kh� nhều ruộng đất chung. Giai đoạn đ� của n�ng nghiệp v� quan hệ sở hữu ruộng đất cũng ph� hợp với chế độ thị tộc của người Germania thời bấy giờ. [T�i vẫn giữ đoạn tr�n y như thế ở c�c lần xuất bản trước, kh�ng thay đổi g�. Nhưng trong qu�ng thời gian đ�, sự thể đ� thay đổi rồi. Từ khi Kovalevsky (xem phần �Gia đ�nh đối ngẫu�) chứng minh rằng c�ng x� gia đ�nh gia trưởng l� c�i h�nh thức trung gian rất phổ biến, nếu kh�ng phải l� c� ở khắp nơi, giữa gia đ�nh cộng sản mẫu quyền v� gia đ�nh c� thể hiện đại; th� người ta kh�ng đặt vấn đề - như trong cuộc tranh c�i giữa Maurer v� Waitz - rằng ruộng đất l� t�i sản c�ng hay tư, m� đặt vấn đề rằng hình thức c�ng hữu ruộng đất thời đ� l� thế n�o. Kh�ng nghi ngờ g� nữa, người Suevi thời Caesar kh�ng những sở hữu chung ruộng đất, m� c�n canh t�c chung v� d�ng chung hoa lợi thu được từ ruộng đất đ�. Đơn vị kinh tế l� thị tộc, hay c�ng x� gia đ�nh, hay một tập đo�n th�n tộc cộng sản, nằm ở giữa hai c�i tr�n; vấn đề đ� sẽ c�n được b�n c�i l�u. Nhưng Kovalevsky khẳng định: t�nh h�nh m� Tacitus m� tả giả định sự tồn tại, kh�ng phải của c�ng x� mark hay c�ng x� l�ng mạc, m� l� của c�ng x� gia đ�nh; chỉ m�i về sau n�y, khi d�n số tăng l�n, th� c�ng x� gia đ�nh mới ph�t triển th�nh c�ng x� l�ng mạc. Theo quan điểm n�y, người Germania cư tr� tr�n l�nh thổ của họ v�o thời La M�, cũng như tr�n l�nh thổ m� sau n�y họ chiếm được từ tay La M�, th� kh�ng chia th�nh c�c l�ng mạc, m� th�nh c�c c�ng x� gia đ�nh lớn; c�c c�ng x� n�y bao gồm v�i thế hệ, canh t�c một v�ng đất đai tương ứng với số th�nh vi�n, v� c�ng với những người h�ng x�m sử dụng chung những đất đai bỏ hoang ở xung quanh, như l� c�ng x� mark c�ng cộng vậy. V� thế, đoạn văn của Tacitus về việc họ thay đổi ruộng đất trồng trọt phải được hiểu theo nghĩa n�ng học: mỗi năm c�ng x� lại canh t�c một v�ng đất kh�c, c�n đất đ� canh t�c năm trước th� để h�a hoặc bỏ hoang hẳn. V� d�n số �t ỏi, n�n lu�n c� nhiều ruộng bỏ hoang, v� thế m� việc tranh chấp ruộng đất trở n�n kh�ng cần thiết. Chỉ sau nhiều thế kỉ, khi số th�nh vi�n của c�c c�ng x� gia đ�nh tăng l�n đến mức kh�ng thể l�m ăn chung được nữa trong điều kiện kinh tế thời bấy giờ, th� c�ng x� gia đ�nh mới tan r�. Ruộng đất v� đồng cỏ, trước nay vẫn l� c�ng hữu, th� được ph�n chia theo c�ch m� ta đ� biết: l�c đầu l� chia tạm, về sau th� chia hẳn cho c�c hộ c� thể mới ra đời; c�n rừng rũ, b�i chăn thả, s�ng hồ vẫn l� của chung. Với trường hợp nước Nga, qu� tr�nh ph�t triển đ� đ� được lịch sử chứng thực. C�n với nước Đức, v� những nước Germania kh�c, th� kh�ng thể phủ nhận rằng quan điểm n�y, về nhiều mặt, giải th�ch r� r�ng hơn c�c t�i liệu gốc, v� giải quyết dễ d�ng hơn những kh� khăn; so với quan điểm trước nay vẫn thống trị, rằng c�ng x� l�ng mạc đ� c� từ thời Tacitus rồi. N�i chung, những văn kiện cổ nhất, như bộ Codex Laureshamensis chẳng hạn, sẽ được giải th�ch r� hơn nhiều; nếu d�ng c�ng x� gia đ�nh thay v� c�ng x� l�ng mạc hoặc c�ng x� mark. Mặt kh�c, c�ch giải th�ch đ� sẽ đặt ra những vấn đề mới v� kh� khăn mới, cần được giải quyết. Điều n�y chỉ được x�c định khi c� c�c nghi�n cứu mới, nhưng t�i kh�ng thể phủ nhận rằng: c�ng x� gia đ�nh, c�i h�nh thức trung gian ấy, rất c� thể đ� tồn tại ở Đức, Anh, v� miền Scandinavia.] Ở thời Caesar, một bộ phận người Germania chỉ vừa mới định cư th�i, phần kh�c c�n đang t�m nơi định cư, c�n tới thời Tacitus, th� họ đ� định cư được cả thế kỉ rồi; tương ứng với điều đ� phải l� bước tiến r� r�ng trong việc sản xuất tư liệu sinh hoạt. Họ ở trong những ng�i nh� dựng bằng th�n c�y, họ mặc như những người nguy�n thủy sống trong rừng: �o kho�c ngo�i th� sơ bằng l�ng cừu hay da th�; phụ nữ v� những người quyền qu� th� mặc �o bằng lanh. Họ ăn sữa, thịt, quả dại; v� theo Gaius Plinius Secundus th� c� cả m�n ch�o yến mạch nữa (ng�y nay, n� vẫn l� m�n ăn d�n tộc của người Celt ở Ireland v� Scotland). Của cải của họ l� b� v� ngựa, nhưng to�n giống xấu: b� th� b�, xấu x�, lại kh�ng c� sừng; ngựa cũng b� v� chạy chậm. Tiền cũng hiếm v� �t khi d�ng tới, m� lại to�n l� tiền La M� th�i. Họ kh�ng chế ra c�c đồ bằng v�ng bạc, v� cũng kh�ng ưa chuộng c�c thứ đ�. Sắt h�y c�n hiếm, v� �t ra l� ở c�c bộ lạc v�ng Rhein v� Danube, th� c� vẻ đều được nhập khẩu, chứ kh�ng phải tự khai th�c được. Chữ rune (dựa theo chữ Hi Lạp hoặc Latin) chỉ được d�ng một c�ch b� mật, d�nh cho c�c mục đ�ch ma thuật v� t�n gi�o. Tập qu�n giết người để hiến tế vẫn c�. T�m lại, ở đ�y ta thấy một d�n tộc vừa từ giai đoạn giữa l�n giai đoạn cao của thời d� man. Nhưng trong khi c�c bộ lạc sống ngay cạnh bi�n giới La M�, nhờ nhập khẩu dễ d�ng c�c sản phẩm của đế chế, n�n kh�ng thể ph�t triển độc lập c�c ng�nh luyện kim hay dệt; th� ở miền Đ�ng Bắc, ven biển Baltic, c�c ng�nh n�y chắc chắn đ� ph�t triển. Những mảnh vũ kh� được t�m thấy trong c�c đầm lầy miền Schleswig - kiếm sắt d�i, �o gi�p, mũ bạc, v.v., c�ng với những đồng tiền La M� hồi cuối thế kỉ II - v� c�c đồ kim loại của người Germania, do c�c cuộc di cư m� c� rải r�c ở khắp nơi, đều c� kiểu d�ng kh� đặc biệt v� đạt tr�nh độ ph�t triển cao, d� ch�ng c� phỏng theo c�c mẫu của người La M� đi nữa. Việc di cư tới thế giới La M� văn minh đ� chấm dứt ng�nh c�ng nghiệp d�n tộc ấy ở khắp nơi, trừ nước Anh. Ng�nh c�ng nghiệp ấy đ� ph�t sinh v� ph�t triển theo c�ng một kiểu đến thế n�o, điều n�y c� thể thấy được, chẳng hạn nhờ những chiếc khuy m�c bằng đồng đen: những c�i t�m thấy ở Burgundy, Romania hay bờ biển Azov, c� lẽ cũng được l�m ra từ c�ng một xưởng với những c�i t�m thấy ở Anh v� Thụy Điển; v� chắc chắn l� đều c� nguồn gốc Germania cả. Thể chế cai trị cũng tương ứng với giai đoạn cao của thời d� man. Theo Tacitus, ở đ�u cũng c� hội đồng c�c thủ lĩnh (principes), chuy�n quyết định những việc �t quan trọng; c�n những vấn đề lớn th� chuẩn bị để đưa ra đại hội nh�n d�n quyết định, ở giai đoạn thấp của thời d� man, th� đại hội nh�n d�n n�y - �t ra l� ở người ch�u Mĩ, như ta đ� biết - chỉ c� ở thị tộc, chứ bộ lạc v� li�n minh bộ lạc th� chưa c�. Giữa c�c thủ lĩnh (principes) v� chỉ huy qu�n sự (duces) vẫn c� sự ph�n biệt r� r�ng, y như ở người Iroquois. Họ đ� phần n�o sống bằng những lễ vật như gia s�c, ngũ cốc, ... m� c�c th�nh vi�n bộ lạc mang tới biếu; v� cũng như ở ch�u Mĩ, họ n�i chung l� được bầu l�n từ c�ng một gia đ�nh. Giống hệt với Hi Lạp v� La M�, bước qu� độ sang chế độ phụ quyền đ� l�m lợi cho việc từ từ biến nguy�n tắc bầu cử th�nh một quyền lực thế tập, v� từ đ� h�nh th�nh một gia đ�nh qu� tộc trong thị tộc. Tầng lớp được gọi l� �qu� tộc bộ lạc� cổ xưa ấy hầu hết đ� diệt vong trong thời k� Đại di cư, hoặc l� sau đ� kh�ng l�u. C�c chỉ huy qu�n sự th� được bầu l�n ho�n to�n nhờ khả năng, chứ kh�ng nhờ d�ng d�i. Họ c� �t quyền lực, v� c�n phải n�u gương cho mọi người; Tacitus n�i r�: quyền thi h�nh kỉ luật trong qu�n đội l� của ph�p sư. Thực quyền thuộc về đại hội nh�n d�n. Nh� vua hay t� trưởng bộ lạc l�m chủ tọa, nh�n d�n biểu quyết; tiếng x� x�o tức l� phản đối, tiếng hoan h� v� chạm vũ kh� v�o nhau tức l� t�n th�nh. Đại hội nh�n d�n cũng đồng thời l� đại hội xử �n: những vụ kiện c�o được k�u xin v� x�t xử ngay; c� cả �n tử h�nh, nhưng chỉ d�nh cho c�c trường hợp h�n nh�t, phản bội nh�n d�n, v� những tật xấu phản tự nhi�n. Trong thị tộc v� c�c chi nh�nh kh�c của bộ lạc, mọi th�nh vi�n đều tham gia x�t xử, dưới quyền chủ tọa của thủ lĩnh; cũng như mọi t�a �n của người Germania thời cổ, thủ lĩnh chỉ điều khển việc xử �n v� đưa ra c�u hỏi, c�n việc kết �n l� của cả tập thể. Những li�n minh bộ lạc đ� c� từ thời Caesar, một số trong đ� đ� c� vua; cũng như ở Hi Lạp v� La M�, vi�n thủ lĩnh qu�n sự tối cao đ� cố đ�i cho m�nh một địa vị chuy�n chế, v� đ� c� l�c đạt được mục đ�ch đ�. Nhưng những kẻ tiếm đoạt may mắn đ� kh�ng c� được quyền lực tuyệt đối, tuy thế, họ cũng đ� bắt đầu ph� vỡ những xiềng x�ch của chế độ thị tộc. Trong khi c�c n� lệ được giải ph�ng vẫn giữ địa vị thứ yếu, v� họ kh�ng thuộc thị tộc n�o cả; th� c�c n� lệ th�n t�n nhất của mấy �ng vua mới lại thường c� địa vị cao, được nhiều của cải v� danh dự. Điều tương tự đ� xảy ra khi c�c thủ lĩnh qu�n sự x�m lăng La M�, rồi trở th�nh vua của c�c đất nước rộng lớn. Ở người Franks, c�c n� lệ - v� cả những người đ� được giải ph�ng - của nh� vua đều c� vai tr� quan trọng, l�c đầu l� ở triều đ�nh, sau đ� l� trong cả nước; đại bộ phận qu� tộc mới đều xuất th�n từ bọn họ. C� một tổ chức đ� đặc biệt gi�p cho vương quyền ra đời: c�c đội th�n binh. Ta đ� thấy ở người Indian ch�u Mĩ, b�n cạnh chế độ thị tộc, c� c�c đo�n thể tư nh�n được th�nh lập để tự m�nh tiến h�nh chiến tranh như thế n�o. Ở người Germania, những đo�n thể tư nh�n ấy đ� trở n�n thường trực. Thủ lĩnh qu�n sự, khi c� ch�t t�n tuổi, liền tập hợp quanh m�nh một đ�m thanh ni�n th�m kh�t chiến lợi phẩm; họ nguyện trung th�nh với thủ lĩnh, cũng như �ng ta nguyện trung th�nh với họ. Thủ lĩnh qu�n sự nu�i dưỡng họ, tặng thưởng họ, tổ chức họ theo một hệ thống cấp bậc; ở những trận nhỏ, họ l� đội bảo vệ cho thủ lĩnh qu�n sự, v� l� đội qu�n sẵn s�ng chiến đấu; trong c�c trận lớn, họ l� một đo�n sĩ quan thường trực. D� c�c đội th�n binh ấy nhất định c� yếu tới đ�u đi nữa, v� thực tế họ c� yếu đến mấy đi nữa, như đội th�n binh của Odoacer ở � chẳng hạn; th� họ cũng l� khởi đầu cho sự suy t�n của nền tự do cổ xưa của nh�n d�n, v� ch�nh họ cũng đ�ng vai tr� đ�, trong v� sau thời k� Đại di cư. Bởi v�, một mặt, họ gi�p cho vương quyền ra đời; mặt kh�c, như Tacitus từng nhận x�t, họ chỉ c� thể tồn tại nhờ kh�ng ngừng g�y chiến v� kh�ng ngừng cướp b�c. Ăn cướp tự n� đ� trở th�nh mục đ�ch. Nếu vi�n chỉ huy thấy kh�ng c� việc g� để l�m trong v�ng l�n cận, th� �ng ta - c�ng đội th�n binh của m�nh - k�o tới c�c bộ tộc kh�c, nơi đang c� chiến tranh, v� c� hi vọng lấy chiến lợi phẩm. Những đội qu�n trợ chiến người Germania rất đ�ng đảo, chiến đấu dưới cờ La M�, chống lại ch�nh những người Germania, phần lớn được chi�u mộ từ c�c đội th�n binh ấy. Họ ch�nh l� h�nh thức ban đầu của chế độ l�nh đ�nh thu�, một điều sỉ nhục đ�ng nguyền rủa của người Đức. Sau khi đế chế La M� bị chinh phục, những đội th�n binh của nh� vua lại l� th�nh phần chủ yếu thứ nh� của tầng lớp qu� tộc sau n�y, xếp sau đ�m bầy t�i trong triều đ�nh, bao gồm n� lệ được giải ph�ng v� người La M�. Vậy th� nh�n chung, thể chế của c�c bộ lạc Germania - đ� li�n minh th�nh bộ tộc - cũng giống với người Hi Lạp thời đại anh h�ng, hay người La M� ở thời của c�c rex: đại hội nh�n d�n, hội đồng thủ lĩnh thị tộc, v� thủ lĩnh qu�n sự - kẻ lu�n muốn chiếm vương quyền thật sự. Đ� l� h�nh thức quản l� cao nhất m� chế độ thị tộc c� thể đạt tới, v� l� h�nh thức kiểu mẫu ở giai đoạn cao của thời d� man. Chỉ cần x� hội vượt qu� c�i giới hạn m� thể chế ấy thỏa m�n được, th� chế độ thị tộc cũng chấm dứt: n� sụp đổ, v� Nh� nước thay thế n�.

Chú thích của Engels

1* [Qua vài ngày sống ở Ireland, tôi lại cảm thấy một cách mạnh mẽ rằng người dân nông thôn vẫn còn sống theo các quan niệm của thời thị tộc đến mức nào. Địa chủ, trong con mắt người nông dân tá điền, vẫn là một dạng thủ lĩnh thị tộc, có nhiệm vụ quản lí đất đai vì lợi ích của mọi người; nông dân phải nộp cống cho địa chủ dưới hình thức tiền thuê ruộng, nhưng cũng có quyền đòi hỏi địa chủ giúp đỡ khi túng thiếu. Tương tự, người ta cho rằng người giàu có nghĩa vụ giúp đỡ những láng giềng nghèo túng, đang trong thời điểm khó khăn. Đó không phải là bố thí, đó là cái mà các thành viên nghèo của thị tộc có quyền nhận lấy, từ các thành viên giàu có, hay từ thủ lĩnh thị tộc. Có thể hiểu vì sao các nhà kinh tế chính trị học và luật học lại phàn nàn về việc không thể nhồi vào đầu người nông dân Ireland cái khái niệm về chế độ sở hữu tư sản hiện đại: người Ireland hoàn toàn không quan niệm được một chế độ sở hữu chỉ đem lại quyền lợi mà không kèm theo nghĩa vụ. Nhưng cũng có thể thấy là: người Ireland, với những quan niệm thị tộc ngây thơ của mình, mà đột nhiên bị đưa đến các thành thị lớn ở Anh hay Mĩ, sống giữa một dân cư có quan niệm đạo đức và pháp lí khác hẳn; thì đều bị rối trí trước các vấn đề đạo đức và pháp luật, bị mất phương hướng, và thường rơi hàng loạt vào cảnh suy đồi về đạo đức.]

2* Mối liên hệ đặc biệt gần gũi giữa cậu và cháu trai, bắt nguồn từ thời đại mẫu quyền, và được tìm thấy ở nhiều bộ tộc; thì ở người Hi Lạp, nó chỉ được tìm thấy trong thần thoại của thời đại anh hùng mà thôi. Theo Diodorus (IV, tr. 34), Meleager đã giết chết các con trai của Thestius, tức là những anh em ruột của Althaea, mẹ của y. Althaea coi đó là một tội ác không thể chuộc được; bà nguyền rủa hung thủ, chính là con trai mình, và cầu cho hắn chết đi. Theo truyện kể, “các vị thần đã nghe theo nguyện vọng của bà mà kết liễu cuộc đời Meleager”. Cũng theo Diodorus (IV, tr. 44), các anh hùng Argonaut đã đổ bộ vào vùng Thrace dưới sự chỉ huy của Heracles, và phát hiện ra việc Phineus, nghe theo lời xúi giục của người vợ mới, đã ngược đãi nặng nề hai con trai của mình với Cleopatra, con gái Boreas, là người vợ trước đã bị y ruồng bỏ. Nhưng trong số các anh hùng Argonaut, cũng có các con trai của Boreas, tức là anh em ruột của Cleopatra, cũng là cậu của những đứa con bị ngược đãi kia. Họ lập tức bênh vực cho những đứa cháu của mình, giải thoát cho chúng, và giết những kẻ đang canh giữ chúng.

Chú thích của người dịch

1 Engels trích dẫn cuốn: "Ancient laws and institutes of Wales"; do Howell the Good soạn thảo, Aneurin Owen dịch và xuất bản năm 1841.

2 Ở bản in năm 1884, thì tiếp theo là đoạn sau, mà Engels đã bỏ đi trong bản in năm 1891: “Quyền đó, ở Bắc Mĩ thì ta thường thấy ở vùng tận cùng Tây Bắc, cũng có ở người Nga: vào thế kỉ X, nữ hoàng Olga đã xóa bỏ nó”. Sau đó là đoạn nói về “những nền kinh tế cộng sản chủ nghĩa của các gia đình nông nô ở Nièvre và Franche-Comte, giống như những công xã gia đình người Slav ở Croatia và Serbia”. Ở bản in năm 1891, đoạn đó được Engels sửa đổi ít nhiều và đem vào phần “Gia đình đối ngẫu” của chương II.

3 Đó là thời kì có những cuộc di cư lớn của người Germania, Slav, Sarmatia, v.v. trong các thế kỉ IV-VII; để đáp ứng nhu cầu về bãi chăn thả và đất canh tác tăng lên - do sức sản xuất phát triển hơn - và để tránh cuộc xâm lăng của người Hun từ Trung Á tới. Từ các thảo nguyên gần biển Đen, họ di chuyển chủ yếu về phía Tây và phía Nam; những cuộc di cư này đã góp phần làm sụp đổ đế chế La Mã.

4 G.L. von Maurer: "Geschichte der Städteverfassung in Deutschland"; 1869-1875.

[Chương trước] [Mục lục] [Chương sau]

Thư viện | K. Marx - F. Engels

Từ khóa » Bộ Tộc Là