Vitamin Không “bổ” Như Ta Tưởng - Báo Nhân Dân

Có 13 loại vitamin mà nếu con người không dùng đủ sẽ có nguy cơ mắc các bệnh như phù, còi xương. Điều quan trọng là phần lớn các vitamin không hình thành trong cơ thể. Chúng chỉ tồn tại trong thức ăn hoặc các chất bổ sung. Một câu hỏi được đặt ra: Con người cần bao nhiêu vitamin và liệu chúng có đủ trong thức ăn? Các chuyên gia dinh dưỡng và các nhà sản xuất vitamin đã bị chia rẽ trong việc tìm lời đáp cho câu hỏi trên. Các chuyên gia dinh dưỡng tranh cãi về việc mọi người được khuyên sử dụng vitamin hàng ngày. Ngược lại, lập luận của các nhà sản xuất lại thể hiện quan điểm: thực phẩm thiết yếu không có đủ vitamin cần thiết trong khi nhu cầu về vitamin lại rất lớn và doanh thu đạt được không hề nhỏ.

Lời khuyên của người đoạt giải Nobel

Thống kê năm 2012 cho thấy, một nửa dân số Hoa Kỳ và 35% dân số Anh quốc sử dụng vitamin bổ sung hàng ngày. Một lý do khiến nhiều người tin vào tác dụng của vitamin chính là thành công của một người từng đoạt hai giải Nobel và là người truyền bá tác dụng của vitamin nhiều nhất thế giới.

Năm 1931, Linus Pauling công bố cuốn sách “Bản chất tự nhiên của các chất hóa học” sau khi đoạt giải Nobel hóa học khi ông mới 30 tuổi. Pauling đã khai sinh ra lĩnh vực nghiên cứu sinh học phân tử và đóng góp những kiến thức về cấu trúc của ADN cũng như chứng minh loài người đã tiến hóa từ loài vượn cách đây 11 triệu năm. Pauling cũng là nhà hoạt động vì hòa bình thế giới. Năm 1962, ông đã đoạt giải Nobel về hòa bình và trở thành người đầu tiên đoạt 2 giải Nobel.

Bước ngoặt xảy ra vào năm 1966 khi Pauling nhận huy chương Carl Neuberg. Ông hồi tưởng: “Trong một cuộc diễn thuyết ở thành phố New York, tôi đã đề cập đến những phát hiện của các nhà khoa học về bản chất tự nhiên của thế giới và hy vọng mình có thể sống thêm 25 năm để tiếp tục cống hiến cho khoa học. Khi trở về California, tôi nhận được thư của một nhà hóa học, Irwin Stone. Ông ấy khuyên tôi dùng 3.000 miligram vitamin C mỗi ngày để có thể sống thêm 25 năm hoặc lâu hơn”. Stone, người tự giới thiệu là TS Stone, đã có hai năm nghiên cứu hóa học ở bậc đại học. Sau đó, ông nhận bằng danh dự của Đại học Los Angeles và học vị tiến sĩ ở Đại học Donsbach, một trường đại học không được công nhận ở miền nam bang California. Pauling nghe theo lời khuyên của Stone vì cho rằng “mình sẽ sống lâu hơn, đặc biệt là khi những cơn cảm cúm không xuất hiện nữa”. Vài năm sau, Pauling tăng liều vitamin sử dụng hàng ngày lên gấp 10 lần rồi 20 lần và cuối cùng là 300 lần với hàm lượng: 18.000 miligram mỗi ngày. Từ sự kiện này, nhiều người nhớ tới Linus Pauling với duy nhất một thứ: vitamin C.

Năm 1970, Pauling xuất bản cuốn sách “Vitamin C và các cơn cảm lạnh thông thường”, khuyên cáo độc giả sử dụng 3.000 miligram vitamin C hàng ngày. Ông tin rằng với việc sử dụng vitamin C, các cơn cảm lạnh thông thường chỉ còn tồn tại trong quá khứ và cuốn sách của ông trở thành cuốn sách bán chạy nhất. Nhờ đó, việc sử dụng vitamin đã được nhân lên gấp nhiều lần. Vào giữa những năm 1970 của thế kỷ trước, khoảng 50 triệu người Hoa Kỳ đã làm theo lời khuyên của Pauling. Ở nước Anh, doanh thu từ việc kinh doanh vitamin nhanh chóng đạt 550 triệu bảng mỗi năm. Các nhà sản xuất vitamin gọi đó là “hiệu ứng Linus Pauling”.

Phản biện liên tục

Nhưng các nhà khoa học không tỏ ra thỏa mãn với lời khuyên trên. Vào năm 1942 (tức là 30 năm trước khi Pauling xuất bản cuốn sách đầu tiên), Donald Cowan, Harold Diehl và Abe Baker, từ Đại học Minnesota trong bài báo “Tác dụng của Vitamin đối với việc chống cảm cúm” khẳng định: “Trong điều kiện phòng thí nghiệm, với 98 trường hợp cảm cúm được điều trị, không có dấu hiệu nào cho thấy chỉ Vitamin C, một loại kháng histamin hoặc Vitamin C bổ sung có tác dụng quan trọng trong quá trình hô hấp”.

Nhiều nghiên cứu khác được tiến hành. Sau phát biểu của Pauling, các nhà nghiên cứu ở Đại học Maryland đã nghiên cứu liều dùng 3.000 miligram Vitamin C mỗi ngày liên tục trong 3 tuần đối với 11 người tình nguyện và một viên thuốc giả đường cho 10 người khác. Sau đó, các nhà nghiên cứu cấy virus cảm lạnh thông thường vào những người tình nguyện. Tất cả đều phát triển triệu chứng cảm lạnh trong khoảng thời gian tương tự. Tại Đại học Toronto, các nhà nghiên cứu đã phát Vitamin C cho 3.500 người tình nguyện. Một lần nữa, Vitamin C lại không ngăn được cảm lạnh, kể cả những người dùng 2.000 miligram mỗi ngày. Năm 2002, các nhà nghiên cứu Hà Lan đã phát vitamin tổng hợp cho hơn 600 người tình nguyện. Kết quả vẫn không đem lại khác biệt và đã có tổng cộng 15 nghiên cứu chứng minh Vitamin C không có khả năng chống lại cảm lạnh.

Nhưng Pauling lại tiếp tục học thuyết của mình khi cho rằng Vitamin C dùng kèm với Vitamin A (25.000 đơn vị quốc tế), Vitamin E (400 đến 1.600 đơn vị quốc tế) và beta-cartotene (tiền chất của Vitamin A) có thể phòng chống cảm lạnh và điều trị ung thư. Pauling cũng cho rằng vitamin và các chất bổ sung có thể chữa các bệnh tim, tâm thần, viêm phổi, viêm gan, bại liệt và rất nhiều bệnh thông thường khác. Khi virus HIV xuất hiện ở Hoa Kỳ vào những năm 1970, Pauling ngay lập tức cũng cho rằng vitamin có thể điều trị được.

Tháng 5-1980, trong một cuộc nói chuyện tại Đại học bang Oregon, khi được hỏi “Liệu Vitamin C có tác dụng phụ trong suốt thời gian dài?”, Pauling đã trả lời rất nhanh và quyết đoán: “Không”. Bảy tháng sau, vợ ông qua đời vì ung thư đường ruột. Năm 1994, Pauling chết vì ung thư tiền liệt tuyến.

Mặc dù không được các kết quả nghiên cứu ủng hộ, nhiều người vẫn tin rằng vitamin và các chất bổ sung có khả năng điều trị được các bệnh, tạo ra một cuộc săn tìm mọi thứ từ nước sốt cà chua cho tới quả thạch lựu. Điều đó tạo ra tác động kinh doanh dẫn tới sự ra đời kẻ thù của tự nhiên và các chất hữu cơ: chất chống ôxi hóa.

Chất chống ôxi hóa và chất ôxi hóa được mô tả như sự tương phản giữa các thiện và cái ác. Cuộc chiến này diễn ra ở cấp độ tế bào nơi cơ thể chuyển hóa thức ăn thành năng lượng, một quá trình đòi hỏi ôxi và được gọi là ôxi hóa. Kết quả của quá trình ôxi hóa là các thế hệ electron thải loại được gọi là các gốc tự do. Các gốc tự do có thể phát hủy các ADN, các màng tế bào và liên kết các động mạch, và không ngạc nhiên khi chúng tạo ra sự lão hóa, ung thư và bệnh tim. Để trung hòa các gốc tự do, cơ thể phải tự tạo ra chất chống ôxi hóa. Chất chống ôxi hóa có thể có trong hoa quả, rau và đặc biệt, có trong chất selen, beta-catotene và vitamin A,C và E. Các nghiên cứu cho thấy những người ăn nhiều hoa quả và rau sẽ ít có nguy cơ mắc bệnh tim và ung thư cũng như sống lâu hơn. Logic rất rõ ràng: ăn nhiều hoa quả và rau sẽ tốt cho sức khỏe hơn, sau đó sử dụng chất chống ôxi hóa bổ sung cũng tốt cho sức khỏe. Thực tế, điều này sẽ không có lợi cho sức khỏe

Năm 1994, Viện nghiên cứu ung thư quốc gia Hoa Kỳ nghiên cứu 29.000 người Phần Lan hút thuốc ở độ tuổi trên 50. Lý do chọn lựa chính là những người này có nguy cơ mắc ung thư và bệnh tim. Các đối tượng nghiên cứu được phát vitamin E, beta-catotene, cả hai loại hoặc không sử dụng loại nào. Kết quả rất rõ ràng: những người sử dụng vitamin và chất bổ sung dễ tử vong khi mắc ung thư phổi hoặc bệnh tim hơn những người không sử dụng. Kết quả này trái ngược với những gì các nhà nghiên cứu đã dự đoán.

Năm 1996, điều tra của Trung tâm nghiên cứu ung thư Fred Hutchinson tại Seattle đối với 18.000 người đã từng tiếp xúc với chất lửa không cháy và có nguy cơ mắc ung thư phổi. Một lần nữa, những đối tượng này lại được sử dụng vitamin A, beta-catotene, sử dụng cả hai hoặc không sử dụng. Điều tra kết thúc với kết luận: những người dùng vitamin và chất bổ sung dễ tử vong do ung thư (tỷ lệ 28%) và bệnh tim (17%) cao hơn so với những người không sử dụng.

Năm 2004, các nhà nghiên cứu tại Đại học Copenhagen đã đánh giá kết quả nghiên cứu việc sử dụng vitamin A,C,E và beta-catotene của 170.000 người đối nhằm tìm hiểu khả năng phòng chống ung thư đường ruột của các chất chống ôxi hóa. Và kết luận được đưa ra: “Chúng tôi không tìm thấy bằng chứng cho thấy các chất bổ sung chống ôxi hóa có thể phòng chống ung thư đường tiêu hóa. Ngược lại, chúng còn tiềm ẩn nguy cơ gây tử vong cao”. Khi xem xét bảy nghiên cứu hiệu quả nhất, các nhà khoa học phát hiện tỷ lệ tử vong cao hơn 6% ở những người sử dụng vitamin.

Năm 2007, Viện nghiên cứu ung thư quốc gia Hoa Kỳ đã xét nghiệm 11.000 người (gồm những người sử dụng vitamin tổng hợp và những người không sử dụng vitamin tổng hợp). Kết quả là những người sử dụng vitamin tổng hợp có thể tử vong khi mắc ung thư tiền liệt tuyến cao gấp hai lần so với những người không sử dụng.

Tháng 11-2011, Đại học Minesota xét nghiệm 39.000 phụ nữ có tuổi và kết luận những người sử dụng vitamin tổng hợp, ma nhê, kẽm, đồng và sắt có nguy cơ tử vong cao hơn những người không sử dụng.

Vào tháng 10-2011, các nhà nghiên cứu của Đại học Minnesota phát hiện ra rằng phụ nữ sử dụng vitamin bổ sung có nguy cơ tử vong cao hơn những người không sử dụng. Tiếp đó, nghiên cứu của Đại học Y khoa Cleveland khẳng định những người dùng vitamin E có nguy cơ rất cao mắc ung thư tiền liệt tuyến. Các kết luận trên không có gì mới mẻ. Bảy nghiên cứu trước đó cho thấy một số vitamin tiềm tàng nguy cơ gây mắc ung thư, bệnh tim và thu hẹp tuổi thọ con người.

Minh chứng xác thực – hiệu quả kinh tế che lấp tác hại

Mặc dù các gốc tự do có thể phá hủy ADN và các màng tế bào song đó không phải là điều tồi tệ. Mọi người cần các gốc tự do để tiêu diệt vi khuẩn và loại bỏ các tế bào ung thư mới. Nhưng khi sử dụng liều lớn các chất chống ôxi hóa, cân bằng giữa quá trình sản xuất và phá hủy các gốc tự do có thể xuất hiện quá nhiều trong một hướng và tạo ra trạng thái bất thường khiến hệ thống miễn dịch giảm khả năng tiêu diệt sự xâm nhập của các sinh vật lạ. Các nhà nghiên cứu gọi đây là “nghịch lý các chất chống ôxi hóa”. Với bất cứ nguyên nhân gì, dữ liệu cũng đều cho kết quả rõ ràng: dùng nhiều vitamin và các chất bổ sung làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim và ung thư. Và với nguyên nhân này, chưa có tổ chức nào trên thế giới khuyến cáo cộng đồng.

Mặc cho tính xác thực của các bằng chứng khoa học, tác dụng của vitamin vẫn bị hiệu quả kinh tế chi phối, đặc biệt thành công của ngành sản xuất vitamin và các chất bổ sung đã tạo ra một sự phân chia hai thái cực. Một mặt là các sản phẩm tự nhiên như vitamin, khoáng chất, các chất bổ sung ăn kiêng, thực vật và các loài thảo mộc. Với bản chất tự nhiên, các sản phẩm này đều an toàn đối với người sử dụng. Ở mặt đối lập là các loại dược phẩm. Do được con người sản xuất, dược phẩm quá nguy hiểm. Tuy nhiên, nhiều loại dược phẩm, bao gồm cả các loại kháng sinh được chiết xuất từ thiên nhiên. Hơn nữa, khái niệm cho rằng các sản phẩm tự nhiên không nguy hiểm chỉ là tưởng tượng. Tác hại của chúng không mang tính lý thuyết. Rễ rắn xanh (một loại thảo dược) có thể gây đau tim, đậu khấu có thể tạo ra ảo giác. Thực tế, hậu quả lớn do các chất bổ sung xảy ra vào năm 1992, khoảng 100 người đã bị suy thận sau khi dùng một loài gừng dại và ít nhất 70 người trong số này phải ghép thận. Sau này, nhiều người đã mắc ung thư bàng quang. Năm 2008, hơn 200 người, bao gồm cả trẻ em 4 tuổi đã nhiễm độc do sử dụng nhiều liều selen có trong sản phẩm “Total Body Formula and Total Body Mega”. Theo quy định, dược phẩm này chỉ được phép chứa 200 microgram selen nhưng các xét nghiệm cho thấy hàm lượng selen đã đạt mức 40.800 microgram. Ngày 28-3-2008, Cơ quan quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ đã khuyến cáo người dân không sử dụng và tiêu hủy sản phẩm trên.

Các loài thảo dược cũng có thể gây hại. Hai trẻ em đã tử vong vì một loại chè và bạc hà có chứa capsaicin (một chất chiết xuất từ ớt). Do ngành sản xuất các chất bổ sung ăn kiêng không bị kiểm soát, chỉ 170 (chiếm 0,3%) trong tổng số 50.000 sản phẩm mới được tung ra thị trường đạt mức an toàn theo quy định của Đạo luật về chất bổ sung (ban hành năm 1994).

Ở châu Âu, Cơ quan đánh giá dược phẩm quy định tiêu chuẩn cao về độ an toàn của các sản phẩm dược trước khi cấp phép. Tuy nhiên, cơ quan này lại không kiểm soát việc sản xuất vitamin, khoáng chất, chất bổ sung ăn kiêng và các loại thảo dược. Do đó, nhiều quốc gia tỏ ra lo ngại về tình trạng buôn bán bất hợp pháp các loại vitamin, chất dinh dưỡng và chất bổ sung giả mạo thông qua các giao dịch điện tử.

Quy định đối với các các công ty dược phẩm và sinh học rất rõ ràng: Trước tiên, bộ phận nghiên cứu của công ty đó phải thí nghiệm sản phẩm trên động vật. Nếu đạt được kết quả khả quan, họ phải tiếp tục thí nghiệm đối với một số lượng lớn người tham gia. Nếu kết quả tiếp tục khả quan, công ty phải chứng minh được kết quả nghiên cứu, khẳng định sản phẩm an toàn và có thể lưu hành rộng rãi. Tuy nhiên, trường hợp của các loài thực vật, thảo dược và các chất bổ sung lại hoàn toàn khác. Nếu các nhà nghiên cứu phát hiện các chất bổ sung không thể phổ biến rộng rãi hoặc gây hại, họ sẽ công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí khoa học. Không sản phẩm nào được nhớ tới và chúng chỉ thay đổi ở nhãn hiệu. Không một lời cảnh báo và nếu không đọc các tạp chí khoa học, mọi người sẽ không biết các quảng cáo về nhãn hiệu là gian dối.

Chỉ một số chất bổ sung ăn kiêng có tác dụng: trong tổng số 50.000 chất bổ sung ăn kiêng, chỉ có bốn loại có tác dụng đối với sức khỏe con người. Đó là Omega3- acid béo giúp phòng chống bệnh tim, calci và vitamin D chống loãng xương ở phụ nữ sau khi sinh, folic acid phòng chống hiện tượng sảy thai ở người. Đó thực sự là một tương phản nghiệt ngã giữa nhu cầu lớn và tác dụng nhỏ trong việc sử dụng vitamin ở cấp độ toàn cầu.

Nhưng các kết quả nghiên cứu cũng như thực tế cũng không ảnh hưởng tới công việc kinh doanh của các nhà sản xuất. Năm 2010, sản xuất vitamin đã đạt lợi nhuận 28 tỷ USD, tăng 4,4% so với năm 2009. Joseph Fortunato, Giám đốc điều hành GNC, công ty sở hữu chuỗi cửa hàng bán vitamin, khoáng chất và các chất bổ sung ở Hoa Kỳ phụ họa: “Chẳng có gì ảnh hưởng đến công việc kinh doanh của chúng tôi”.

BẢO TỒN

Từ khóa » Thuyết Pauling